1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xác định thẩm quyền của tòa án việt nam trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của các điều ước quốc tế

19 225 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 32,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, với xu thế hội nhập quốc tế Việt Nam ngày càng tham gia nhiều các tổ chức quốc tế và hợp tác nhiều với các quốc gia trong Đông Nam Á nói riêng, thế giới nói chung. Đồng nghĩa với sự hợp tác đó, các giao dịch dân sự quốc tế của Việt Nam ngày càng tăng mạnh, đồng thời phát sinh nhiều vụ việc, tranh chấp dân sự giữa công dân, pháp nhân. Nhu cầu giải quyết các vụ việc dân sự quốc tế được đặt ra với hệ thống các cơ quan tư pháp của nước ta, một mặt nhằm tạo thuận lợi cho các giao dịch dân sự, thương mại, hôn nhân gia đình, mặt khác phải đảm bảo bảo vệ tốt quyền lợi cho Việt Nam trong các tranh chấp quốc tế. Vì vậy em nghiên cứu đề tài: “phân tích các dấu hiệu xác định thẩm quyền của tòa án Việt Nam trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và theo quy định của pháp luật Việt Nam” để làm rõ hơn cách thức giải quyết quyết xung đột thẩm quyền xét xử ở quốc tế nói chung và cũng như ở Việt Nam nói riêng.

Trang 1

A LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hiện nay, với xu thế hội nhập quốc tế Việt Nam ngày càng tham gia nhiều các tổ chức quốc tế và hợp tác nhiều với các quốc gia trong Đông Nam Á nói riêng, thế giới nói chung Đồng nghĩa với sự hợp tác đó, các giao dịch dân sự quốc tế của Việt Nam ngày càng tăng mạnh, đồng thời phát sinh nhiều vụ việc, tranh chấp dân

sự giữa công dân, pháp nhân Nhu cầu giải quyết các vụ việc dân sự quốc tế được đặt ra với hệ thống các cơ quan tư pháp của nước ta, một mặt nhằm tạo thuận lợi cho các giao dịch dân sự, thương mại, hôn nhân gia đình, mặt khác phải đảm bảo bảo vệ tốt quyền lợi cho Việt Nam trong các tranh chấp quốc tế Vì vậy em nghiên

cứu đề tài: “phân tích các dấu hiệu xác định thẩm quyền của tòa án Việt Nam

trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và theo quy định của pháp luật Việt Nam” để làm rõ hơn cách thức giải quyết quyết xung đột thẩm quyền xét xử ở

quốc tế nói chung và cũng như ở Việt Nam nói riêng Đề tài của em được chia thành 2 chương:

Chương 1: Khái quát về thẩm quyền xét xử, xung đột thẩm quyền xét xử

Chương 2: Xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của tòa án Việt Nam

Trang 2

B NỘI DUNG

Chương 1: Khái quát về thẩm quyền xét xử, xung đột thẩm quyền xét xử 1.1Thẩm quyền xét xử:

Đối với các vụ việc dân sự, kinh doanh, lao động,… có yếu tố nước ngoài, vấn

đề xác định thẩm quyền xét xử của tòa án thường phức tạp hơn các vụ việc dân sự trong nước bởi có thể liên quan đến thẩm quyền của cả hệ thống nước ngoài

Thẩm quyền xét xử của tòa án là quyền xem xét và quyết định trong hoạt động xét xử của Tòa án theo quy định của pháp luật Đây là một quyền chuyên biệt trao riêng cho Tòa án, không phân biệt phân cấp, phân vùng lãnh thổ

Thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế là thẩm quyền của tòa án một quốc gia trong việc xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

1.2 Khái niệm, nguyên nhân về xung đột thẩm quyền xét xử

Thủ tục giải quyết một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là một trình tự thủ tục đặc biệt Tính đặc thù của quy trình này xuất phát từ tính chất “quốc tế” theo loại vụ việc Vì đây là những vụ việc có liên quan đến hệ thống pháp luật và hệ thống tài phán của các quốc gia khác nhau Do đó, vấn đề pháp lí đầu tiên đối với các cơ quan tư pháp của một quốc gia khi giải quyết một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là cần giải quyết vấn đề xung đột về thẩm quyền (conflict of jurisdiction) và xung đột pháp luật (conflict of laws) trước khi giải quyết nội dung

vụ việc

Xung đột pháp luật có nghĩa là mỗi quốc gia trên thế giới có một hệ thống pháp luật riêng của mình Các hệ thống pháp luật đó khác nhau và có thể trái ngược nhau hoàn toàn Xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiều hệ thống pháp luật đồng thời đều có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ pháp luật này hay một quan hệ pháp luật khác

Trang 3

Xung đột thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế là hiện tượng tòa án của các nước khác nhau cùng tuyên bố có thẩm quyền khi một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đồng thời cũng làm phát sinh tình trạng có hai hoặc nhiều cơ quan tư pháp của các nước khác nhau có thẩm quyền giải quyết vụ việc đó

Về trình tự giải quyết xung đột: đầu tiên phải giải quyết xung đột thẩm quyền, sau đó mới giải quyết xung đột pháp luật Chỉ khi xác định được cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc thì mới xét đến việc giải quyết vụ việc đó như thế nào Việc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế là hành vi tố tụng được thực hiện trước khi giải quyết vấn đề xung đột pháp luật Việc giải quyết xung đột pháp luật

là bước thứ hai trong mối liên hệ giữa giải quyết xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền

Nguyên nhân thường thấy của xung đột thẩm quyền là:

Thứ nhất, chủ quyền quốc gia đối với quyền tài phán Mỗi quốc gia đều xây dựng hệ thống pháp luật, Cơ quan tư pháp riêng để giải quyết các vụ việc dân sự có tính chất quốc tế

Thứ hai, không có quy trình thủ tục tố tụng dân sự quốc tế

Thứ ba, nguyên tắc mở rộng thẩm quyền theo các dấu hiệu chung giống nhau

Chương 2: Xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của tòa án Việt Nam Cách xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế là việc xác định thẩm quyền của tòa án quốc gia trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Vì vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài luôn liên quan đến nhiều bên nên một vụ việc liên quan tới thẩm quyền của nhiều cơ quan tư pháp của nhiều nước Vì vậy pháp luật quốc tế luôn đặt ra nhiều hướng giải quyết khi xảy ra xung đột thẩm quyền xét xử

Trang 4

Một ví dụ tiêu biểu cho trường hợp trên đó là vụ án Ly hôn giữa Lý Hương và Chồng là Tony Lam Năm 2001, Lý Hương theo Tony Lam về Mỹ Cả hai tổ chức

lễ cưới và đăng ký kết hôn ngày 6/2 tại quận Clack, bang Neveda Sau một thời gian sinh sống với nhau, hai người sảy ra mâu thuẫn Lý Hương đưa con về nước

và đệ đơn ly hôn lên TAND TP.HỒ CHÍ MINH Tòa án TP HỒ CHÍ MINH đã xử cho nữ diễn viên này được ly hôn chồng và giao quyền nuôi con cho người mẹ Cùng thời gian Tony Lam đâm đơn tố Lý Hương mang con về nước mà không có

sự đồng ý của người cha, tòa án New York ra phán quyết, quyền nuôi con chung của cả hai được giao hoàn toàn cho Tony Lam Đối với trường hợp này có hai hệ thống pháp luật điều chỉnh đó là pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ mặt khác giữa Việt Nam và Hoa kỳ không có hiệp định tương trợ tư pháp về giải quyết vấn

đề này, do đó dẫn đến sự xung đột pháp luật giữa hai quốc gia Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì trường hợp này thuộc thầm quyền riêng biệt chỉ Tòa án Việt Nam mới có thẩm quyền giải quyết Do đó tòa án Việt Nam không chấp nhận và cho thi hành đối với bất kỳ phán quyết của cơ quan tài phán của các nước khác Do

đó việc giải quyết vụ án trên giữa Lý Hương và Tony Lam vẫn còn đang bỏ ngỏ, chưa có hướng giải quyết được.1

Để giải quyết xung đột thẩm quyền xét xử, tòa án luôn luôn áp dụng các quy phạm thực chất do mỗi quốc gia ban hành Phương pháp thực chất: được xây dựng trên cơ sở hệ thống các quy phạm thực chất trực tiếp giải quyết các quan hệ dân sự

có yếu tố quốc tế Phương pháp này có ý nghĩa trực tiếp trong việc phân định quyền

và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ Các quy phạm thực chất có thể bao gồm quy phạm thực chất thống nhất và quy phạm thực chất nằm trong luật quốc gia

Để xác định thẩm quyền của mình, khi thụ lí đơn kiện tòa án thường căn cứ vào hai cơ sở pháp lí:

1 https://nld.com.vn/phap-luat/dien-vien-ly-huong-va-vu-tranh-chap-nuoi-con-toa-an-viet-nam-va-my-deu-dung-227280.htm

Trang 5

Thứ nhất, tòa án có thể căn cứ vào các quy định trong điều ước quốc tế như các Hội đồng tương trợ tư pháp về các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình giữa Việt Nam và các nước; hiệp định thương mại, hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư… để xác định thẩm quyền

Thứ hai, trong trường hợp không có điều ước quốc tế về xác định thẩm quyền hoặc có điều ước quốc tế mà không có quy định về thẩm quyền thì tòa án Việt Nam

sẽ căn cứ vào các dấu hiệu xác định thẩm quyền trong hệ thống các văn bản pháp luật trong nước để xem xét thẩm quyền của mình Như Bộ luật tố tụng dân sự 2015

và một số văn bản pháp luật chuyên ngành khác như Luật hôn nhân và gia đình

2014, Bộ luật hàng hải Việt Nam 2015, Luật hàng không dân dụng 2007, Luật thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014),…

2.1 Xác định thẩm quyền của tòa án Việt Nam trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Trong khoảng 16 hiệp định đang có hiệu lực, thì cũng chỉ có một số hiệp định

có quy định về nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử như Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Nga 1998; như Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Lào 1998; như Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Hungari; như Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với với Trung Quốc 1998; như Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với với Bungari,… Với mục đích nhằm giải quyết vấn đề xung đột thẩm quyền xét xử và xung đột pháp luật, trong một số hiệp định đã xây dựng các nguyên tắc xác định thẩm quyền giữa tòa án hai nước Trong trường hợp có xung đột về thẩm quyền xét xử, nếu cả hai tòa án đều có thẩm quyền đối với cùng một vụ việc, thì tòa án nào thụ lí đơn kiện trước sẽ có thẩm quyền giải quyết, tòa án nhận đơn sau sẽ phải tra lại đơn kiện hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc Để xác đinh thẩm quyền của tòa án một nước, các hiệp định chủ yếu dựa trên các dấu hiệu xác định thẩm quyền, các dấu hiệu này được xây dựng dựa

Trang 6

vào mối liên hệ của tranh chấp với tòa án một nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho tòa án trong quá trình giải quyết, và việc đảm bảo cho việc thi hành các phán quyết ở nước ngoài Việc xác định thẩm quyền xét xử của tòa án trong các Hiệp định tương trợ tư pháp được phân chia thành các nhóm tranh chấp cơ bản sau: Thứ nhất, vụ việc liên quan đến quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của vợ chồng Nhắc đến quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản thì đây thường là các quan

hệ có tính chất ổn định, lâu dài phát sinh trong thời kì hôn nhân Vì vậy các hiệp định quy định tòa án có thẩm quyền cũng thường là tòa án các nước nơi có sự hiện diện của quan hệ nhân thân, tài sản vợ chồng Như Điều 25 Hiệp định tương trợ tư

pháp giữa Việt Nam và Nga: “1 Quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ chồng được

xác định theo pháp luật của Bên ký kết nơi họ cùng thường trú.

2 Nếu một người thường trú trên lãnh thổ của Bên ký kết này, còn người kia thường trú trên lãnh thổ của Bên ký kết kia, thì quan hệ nhân thân và tài sản của

họ được xác định theo pháp luật của Bên ký kết mà họ là công dân Nếu một người

là công dân của Bên ký kết này, còn người kia là công dân của Bên ký kết kia thì

áp dụng pháp luật của Bên ký kết có Tòa án đang xem xét vụ việc.

3 Tòa án của Bên ký kết nơi vợ chồng thường trú có thẩm quyền giải quyết các vấn đề về quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này Nếu hai vợ chồng đều là công dân của Bên ký kết kia thì Tòa án của Bên

ký kết ấy cũng có thẩm quyền giải quyết.

4 Tòa án của Bên ký kết mà hai vợ chồng là công dân có thẩm quyền giải quyết các vụ việc quy định tại khoản 2 Điều này Nếu một người là công dân của Bên ký kết này, còn người kia là công dân của Bên ký kết kia thì Tòa án của cả hai Bên ký kết đều có thẩm quyền giải quyết.” Từ đó ta có thể thấy được thẩm quyền sẽ

là tòa án nơi họ cùng thường trú hay cùng quốc tịch, nếu toàn án nơi thường trú của các bên khi mỗi bên thường trú một nước khác nhau

Trang 7

Thứ hai, vụ việc li hôn và hủy hôn nhân trái pháp luật Vì vụ việc này cũng

mang tính chất nhân thân nên theo các hiệp định, tòa án có thẩm quyển giải quyết li

hôn và hủy hôn nhân trái pháp luật là tòa án nước vợ chồng có quốc tịch chung, nếu

vợ chồng không cùng quốc tịch, thì tòa án nơi thường trú chung của vợ chồng, hoặc tòa án nơi thường trú của một trong các bên có thẩm quyền 2

Ví dụ, tại khoản 3, 4 Điều 27 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam –

Lào có quy định: “3 Đối với trường hợp ly hôn quy định tại khoản 1 Điều này, Cơ

quan tư pháp có thẩm quyền giải quyết là Cơ quan tư pháp của Nước ký kết mà vợ chồng là công dân 4 Đối với trường hợp ly hôn được quy định tại khoản 2 của Điều này, Cơ quan tư pháp có thẩm quyền giải quyết là Cơ quan tư pháp của Nước

ký kết, nơi vợ chồng cùng cư trú Nếu vợ chồng cư trú ở các Nước ký kết khác nhau, thì Cơ quan tư pháp của các Nước ký kết đều có thẩm quyền giải quyết.” Hay

tại khoản 2 Điều 27 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam – Ba Lan quy định:

“2 Trong trường hợp vợ chồng không cùng quốc tịch của một nước ký kết, Tòa án của nước ký kết nơi vợ chồng đang cùng thường trú hoặc đã cùng thường trú lần cuối cùng có thẩm quyền giải quyết các vụ kiện nói ở Điều 24 khoản 2, Điều 25 và Điều 26, khoản 2 Hiệp định này Nếu vợ chồng không hề có nơi thường trú chung trên lãnh thổ của nước ký kết này, thì Tòa án của cả hai nước đều có thẩm quyền đó.”

Khi xác định “nơi thường trú chung” của vợ chồng ở đây là sống chung ở một quốc gia, chứ không nên hiểu phải là nơi vợ chồng phải có nơi ở chung (cùng một địa chỉ, trong một nhà)

Thứ ba, vụ việc về cấp dưỡng nuôi con Hầu như các hiệp định đều thống nhất

quy định tòa án nơi thường trú của nguyên đơn3 (bên yêu cầu cấp dưỡng) sẽ có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con Như tại khoản 1 Điều

2 Điều 36 Hiệp định tương trợ tư pháp tư pháp Viện Nam - Bungari

3 Khoản 2 Điều 23 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Tiệp Khắc; Khoản 8 Điều 18 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Trung Quốc; Điều 40 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Lào

Trang 8

30 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Lào quy định: “Nghĩa vụ cấp dưỡng

giữa cha mẹ và con tuân theo pháp luật của Nước ký kết mà người yêu cầu cấp dưỡng là công dân” Hay tại khoản 1 Điều 29 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt

Nam – Nga quy định: “Đối với các trường hợp khác về cấp dưỡng thì áp dụng

pháp luật của Bên ký kết nơi người yêu cầu cấp dưỡng thường trú”.

Ví dụ: người mẹ (quốc tịch Việt Nam) khởi kiện yêu cầu người cha (quốc tịch Lào) cấp dưỡng nuôi con, như vậy tòa án Việt Nam là tòa có thẩm quyền, bởi vì đối với loại vụ việc này, cần dựa trên điều kiện, hoàn cảnh của bên yêu cầu (thường là đối với đứa trẻ) để tòa có các giải pháp phù hợp nhất Tuy nhiên, quy định này cũng khó khăn bởi sau khi giải quyết cũng như việc thi hành án, khi phán quyết của tòa án Việt Nam thường phải được công nhận và thi hành ở nước ngoài (nơi cư trú của người cha)

Thứ tư, vụ việc về thừa kế Theo quy định tại bộ luật dân sự, thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống, tài sản để lại được gọi là

di sản Vì vậy, thừa kế cũng là một loại việc vừa mang tính chất nhân thân, vừa

mang tính chất tài sản và liên quan đến hiệu lực của di chúc Nên trong một vụ việc

về thừa kế có thể nhiều tòa án của nhiều nước khác nhau đều có thể có thẩm quyền Hầu hết các hiệp định đều dựa trên dấu hiệu quốc tịch hoặc nơi thường trú của người để lại di sản thừa kế để xác định thẩm quyền trong trường hợp thừa kế theo pháp luật Đối với di sản là bất động sản thì tòa có thẩm quyền toàn án nơi có bất động sản đó Theo điều 42 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Nga quy định:

“1 Việc giải quyết các vấn đề về thừa kế động sản thuộc thẩm quyền của Bên ký kết mà người để lại thừa kế là công dân vào thời điểm chết 2 Việc giải quyết các vấn đề về thừa kế bất động sản thuộc thẩm quyền của Bên ký kết nơi có bất động sản đó 3 Nếu tất cả động sản là di sản của công dân của Bên ký kết này ở trên lãnh thổ của Bên ký kết kia, thì, theo đề nghị của một người thừa kế và được sự đồng ý của tất cả những người thừa kế đã biết khác, cơ quan của Bên ký kết đó sẽ tiến hành các thủ tục giải quyết việc thừa kế.”

Trang 9

Thứ năm, quan hệ nghĩa vụ hợp đồng Các nghĩa vụ hợp đồng là loại vụ việc

về thực hiện hành vi pháp lý nên dấu hiệu xác định thẩm quyền của tòa án chủ yếu theo dấu hiệu lãnh thổ và thực hiện hành vi Theo các hiệp định, dấu hiệu chung trong việc xác định thẩm quyền của tòa án đối với các vụ việc phát sinh trong quan

hệ nghĩa vụ hợp đồng là dấu hiệu nơi bị đơn thường trú hoặc nơi bị đơn có trụ sở Cũng theo các hiệp định, tòa án của bên kí kết nơi nguyên đơn thường trú hoặc có trụ sở cũng có thẩm quyền giải quyết, nếu trên lãnh thổ của nước này có đối tượng tranh chấp hoặc tài sản của bị đơn Đồng thời, các hiệp định cũng quy định tòa án nước nơi thực hiện một phần nghĩa vụ, hợp đồng cũng có thể có thẩm quyền Các bên trong hợp đồng cũng có thể thỏa thuận thay đổi thẩm quyền giải quyết vụ việc bằng các thỏa thuận lựa chọn cơ quan tài phán

Thứ sáu, về trách nhiệm bồi thường thiệt hại Các hiệp định cũng tạo nhiều khả năng lựa chọn các cơ quan tài phán cho đương sự Cụ thể, tòa án có thẩm quyền trong vụ việc về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là tòa án bên kí kết nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại, hoặc tòa án nơi bị đơn thường trú hoặc có trụ sở, nơi

có tài sản của bị đơn Tòa án của bên kí kết nơi nguyên đơn thường trú hoặc có trụ

sở cũng có thẩm quyền giải quyết nếu trên lãnh thổ của nước này có tài sản của bị

đơn Như tại Điều 37 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Nga: “1 Trách

nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (do hành vi vi phạm pháp luật) được xác định theo pháp luật của Bên ký kết nơi xảy ra hoàn cảnh làm căn cứ để yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại.

Nếu nguyên đơn và bị đơn đều là công dân của một Bên ký kết hoặc đều được thành lập hoặc có trụ sở ở một Bên ký kết, thì áp dụng pháp luật của Bên ký kết đó.

2 Các vấn đề quy định tại khoản 1 Điều này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án của Bên ký kết nơi xảy ra hoàn cảnh làm căn cứ để yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại, hoặc nơi bị đơn thường trú hoặc có trụ sở Tòa án của Bên ký kết nơi

Trang 10

nguyên đơn thường trú hoặc có trụ sở cũng có thẩm quyền giải quyết, nếu trên lãnh thổ của nước này có tài sản của bị đơn.”

Hay Khoản 3 Điều 23 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Lào: “Cơ

quan tư pháp có thẩm quyền giải quyết vụ án đã được khởi kiện để đòi bồi thường thiệt hại là Cơ quan tư pháp của Nước ký kết nơi xảy ra hành vi hoặc sự cố gây thiệt hại, nơi phát sinh hậu quả thực tế hoặc nơi bị đơn cư trú Ngoài ra, Cơ quan

tư pháp của Nước ký kết nơi nguyên cư trú cũng có thẩm quyền giải quyết, nếu bị đơn có tài sản trên lãnh thổ của nước ký kết đó.”

Thứ bảy, tranh chấp liên quan đến bất động sản Do tính chất đặc thù của các

vụ việc liên quan đến bất động sản, luôn có tính chất gắn bó với lợi ích, chủ quyền quốc gia nơi có bất động sản, nên đối với loại vụ việc này, hầu hết các hiệp định đều quy định tòa án nơi có bất động sản sẽ có thẩm quyền giải quyết Như theo Khoản 10 Điều 18 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Trung Quốc quy định:

“ Bất động sản là đối tượng của vụ tranh chấp nằm trên lãnh thổ của Bên ký kết đó” Hay Khoản 2 Điều 42 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Nga quy định:

“2 Việc giải quyết các vấn đề về thừa kế bất động sản thuộc thẩm quyền của Bên

ký kết nơi có bất động sản đó” Điều 22 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Lào quy định: “Cơ quan tư pháp của Nước ký kết nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan tới bất động sản đó”

Thứ tám, tranh chấp về lao động Các vụ việc về lao động cũng là một loại vụ việc có tính chất là một hành vi pháp lí nên theo các hiệp định, dấu hiệu xác định thẩm quyền cũng dựa trên dấu hiệu của “nơi thực hiện hành vi”, cụ thể là tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng lao động là tòa án của bên kí kết nơi công việc đang, đã hoặc cần được thực hiện Như tại Điều 44

Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Nga: “1 Các bên tham gia hợp đồng lao

động có thể tự lựa chọn pháp luật áp dụng đối với các quan hệ lao động giữa họ

Ngày đăng: 21/10/2019, 08:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w