1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)

104 153 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

NGUYỄN VĂN MẪN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT RAU

AN TOÀN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LƯƠNG TÀI

TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

NGUYỄN VĂN MẪN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT RAU

AN TOÀN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LƯƠNG TÀI

TỈNH BẮC NINH Ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 8.62.01.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS Kiều Thị Thu Hương

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ

rõ nguồn gốc Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, tháng 3 năm 2018

Tác giả luận văn Nguyễn Văn Mẫn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS Kiều Thị Thu Hương người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn đến các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Kinh tế và PTNT, phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin bày tỏ sự cảm ơn đến Huyện Ủy, UBND huyện Lương Tài, các phòng ban chức năng của huyện; UBND và các hộ nông dân các xã đã cung cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể gia đình, người thân đã động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài

Thái Nguyên, tháng 3 năm 2018

Tác giả luận văn Nguyễn Văn Mẫn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa của luận văn 3

Chương 1: 4TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế sản xuất cây trồng 4

1.1.1 Khái niệm liên quan đến hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn 4

1.1.2 Nội dung hiệu quả kinh tế 11

1.1.3 Bản chất của hiệu quả kinh tế 12

1.1.4 Ý nghĩa việc nâng cao hiệu quả kinh tế 13

1.1.5 Đặc điểm sản xuất rau an toàn 14

1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn 16

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 18

1.2.1 Hiệu quả kinh tế rau an toàn ở một số nước trên thế giới 18

1.2.2 Tình hình sản xuất rau an toàn ở Việt Nam 21

1.2.2.2 Hiệu quả kinh tế trồng rau an toàn ở một số địa phương của Việt Nam 26

1.3 Bài học kinh nghiệm về sản xuất rau an toàn cho huyện Lương Tài 28

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội huyện Lương Tài 29

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 29

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Lương Tài 36

2.2 Phương pháp nghiên cứu 40

Trang 6

2.2.1 Phương pháp tiếp cận 40

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 41

2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin 43

2.2.4 Phương pháp xử lý thông tin 43

2.2.5 Phương pháp phân tích 44

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 45

2.3.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá về điều kiện và quy mô sản xuất 45

2.3.2 Nhóm chỉ tiêu về kinh tế - kỹ thuật 45

2.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả, hiệu quả kinh tế 46

2.3.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh sản xuất rau an toàn 46

2.3.5 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất 46

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48

3.1 Thực trạng diễn biến về diện tích, năng suất, sản lượng và chất lượng rau an toàn 48

3.1.1 Diện tích gieo trồng rau và rau an toàn của huyện Lương Tài 48

3.2 Thực trạng sản xuất và đánh giá hiệu quả sản xuất ra an toàn của các hộ điều tra trên địa bàn huyện Lương Tài 51

3.2.1 Tình hình cơ bản của hộ sản xuất an toàn huyện Lương Tài 51

3.2.2 Quy trình sản xuất rau an toàn của huyện Lương Tài 51

3.2.3 Kết quả sản xuất rau an toàn của các hộ điều tra ở huyện Lương Tài 58

3.2.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế bình quân trên ha của các hộ sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài 63

3.3 Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài 66

3.3.1 Đầu tư thâm canh 66

3.3.2 Kỹ thuật 66

3.3.3 Ảnh hưởng của thị trường 67

3.3.4 Yếu tố về rủi ro đối với hộ sản xuất rau an toàn 68

3.4 Phân tích swort của hộ nông dân sản xuất rau an toàn 69

3.4.1 Phân tích swort về hệ thống nhà lưới để sản xuất rau an toàn 70

Trang 7

3.5 Thực trạng hỗ trợ kỹ thuật phục vụ phát triển rau an toàn ở huyện Lương Tài 72

3.6 Đánh giá chung về hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn của huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh 74

3.6.1 Kết quả đạt được 74

3.6.2 Những hạn chế và nguyên nhân 74

3.7 Giải pháp sau khi phân tích nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất rau an toàn 76

3.7.1 Cơ sở khoa học của việc đưa ra giải pháp 76

3.7.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn 76

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 87

Trang 8

KTTT : Kinh tế trang trại

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

TTATXH : Trật tự an toàn xã hội

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Diện tích gieo trồng rau an toàn vụ đông trên địa bàn tỉnh giai

đoạn 2015-2017 27

Bảng 2.1 Các nhóm đất chính ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh năm 2017 32

Bảng 2.2 Tình hình dân số huyện Lương Tài giai đoạn 2015-2017 38

Bảng 2.3: Ma trận phân tích SWOT 45

Bảng 3.1 Diện tích rau và rau an toàn của huyện Lương Tài giai đoạn 2015-2017 48

Bảng 3.2 Năng suất rau và rau an toàn của huyện Lương Tài năm 2015 - 2017 50

Bảng 3.3 Sản lượng rau và rau an toàn trên địa huyện Lương Tài giai đoạn 2015-2017 50

Bảng 3.4 Tình hình cơ bản bình quân của các hộ được điều tra về sản xuất rau an toàn thuộc huyện Lương Tài năm 2017 51

Bảng 3.5 Lựa chọn nguồn cung cấp giống của nông dân 53

Bảng 3.6 Diễn biến tình hình sử dụng phân bón của hộ sản xuất rau an toàn năm 2017 54

Bảng 3.7 Sử dụng phân bón của hộ trồng rau an toàn ở huyện Lương Tài năm 2017 55

Bảng 3.8 Diễn biến tình hình sử dụng thuốc BVTV của hộ sản xuất rau an toàn huyện Lương Tài giai đoạn 2015-2017 56

Bảng 3.9: Giá trị sản xuất bình quân của các hộ sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài năm 2017 59

Bảng 3.10: Chi phí sản xuất trung gian bình quân của các hộ sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài năm 2017 60

Bảng 3.11: Giá trị tăng thêm bình quân của các hộ sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài năm 2017 61

Bảng 3.12: Tổng chi phí sản xuất bình quân của các hộ sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài năm 2017 61

Bảng 3.13: Thu nhập hỗn hợp bình quân của các hộ sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài năm 2017 62

Trang 10

Bảng 3.14: Hiệu quả kinh tế bình quân trên 1 ha của các hộ trồng rau trên

địa bàn huyện Lương Tài năm 2017 64 Bảng 3.15: Sự tin tưởng vào rau an toàn ở huyện Lương Tài 68 Bảng 3.16: Mức độ rủi ro đối với hộ sản xuất rau sạch trên địa bàn huyện

Lương Tài 68 Bảng 3.17 Đánh giá cơ hội và thách thức của các nông hộ trong phát triển

rau an toàn ở Lương Tài 69 Bảng 3.18 Những lợi ích và hạn chế của sản xuất rau an toàn trong nhà lưới 71 Bảng 3.19 Kết quả thực hiện hỗ trợ kỹ thuật và thực trạng ứng xử của

người sản xuất kinh doanh RAT 72 Bảng 3.20 Diện tích trồng rau an toàn của huyện hiện tại và dự kiến đến 2020 76

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Biểu đồ biểu diễn một số chỉ tiêu khí hậu ở Bắc Ninh 31 Hình 3.1: Biểu đồ hiệu quả kinh tế trên đồng chi phí trung gian của hộ sản

xuất RAT 65 Hình 3.2: Biểu đồ hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích của hộ sản xuất RAT 65 Hình 3.3: Biểu đồ hiệu quả kinh tế trên lao động của hộ sản xuất RAT 65

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời kỳ hội nhập cùng với những chuyển biến tích cực của nền kinh tế Việt Nam thì ngành nông nghiệp luôn được coi trọng hàng đầu Nhà nước ta đã chú trọng đầu tư và quan tâm nhiều hơn tới nông nghiệp

Ngành sản xuất rau được cả nước quan tâm vì rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người Sử dụng rau xanh trong bữa

ăn hàng ngày của người dân không những bổ sung thêm các vitamin, khoáng chất

và xơ giúp tăng khả năng tiêu hóa mà còn giúp hạn chế các loại bệnh béo phì,tiểu đường, tim mạch, gout Nghề trồng rau đem lại thu nhập bền vững và ổn định cho người sản xuất Song thực tế hiện nay các loại bệnh tật gia tăng trong xã hội trong

đó có bệnh ung thư đang là mối quan tâm của toàn xã hội, bởi trong số bệnh nhân ung thư tử vong hiện nay ở nước ta có tới 35% liên quan đến sử dụng thực phẩm bẩn trong đó có rau không an toàn Tình trạng không kiểm soát được một cách có hiệu quả nguồn thực phẩm nói chung và rau nói riêng có nhiều nguyên nhân Trước hết phải kể đến là tình trạng sản xuất tùy tiện, vì lợi nhuận cá nhân người trồng rau

đã sử dụng các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật không đúng kỹ thuật, không đúng nồng độ, liều lượng, thời gian cách ly và quá ngưỡng an toàn Bên cạnh đó, sản xuất cá thể nhỏ lẻ của từng hộ dân thiếu sự quản lý chặt chẽ và đồng bộ đang là một trở ngại lớn đối với công tác giám sát chất lượng rau hiện nay Một vấn đề nữa, giữa người sản xuất và nhà phân phối chưa có tiếng nói chung và chưa tạo được niềm tin đối với người tiêu dùng

Những năm gần đây, nước ta cảnh báo về ngộ độc thực phẩm trên mọi phương tiện thông tin đại chúng Theo số liệu chưa đầy đủ của Bộ y tế năm 2015 -

2017 có 440 ca ngộ độc thực phẩm với hơn 8000 người bị và 122 người bị chết, thêm vào đó đời sống của nhân dân ngày càng tăng nhu cầu sử dụng rau an toàn là rất chính đáng và vô cùng cần thiết.[29]

Xuất phát từ thực tế đó, tỉnh Bắc Ninh đã triển khai chương trình sản xuất rau an toàn Đến nay vẫn được duy trì và phát triển Đặc biệt huyện Lương Tài là một huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, hầu hết nông dân sống dựa vào nông nghiệp là chủ

Trang 13

yếu Trong những năm gần đây sản xuất rau an toàn đang được phát triển tại các xã trong địa bàn huyện Sản lượng rau hàng hoá đạt khoảng 2000 tấn - 2500 tấn Rau sản xuất ra được tiêu thụ chủ yếu ở thị trường trong tỉnh và các tỉnh lân cận như Hà Nội, Bắc Giang, Hải Dương Giá trị sản phẩm hàng hoá bình quân những năm gần đây đạt 4,5 - 5 tỷ đồng Mặc dù, đã đạt được những kết quả đáng khích lệ làm cho người nông dân phấn khởi, tin tưởng vào cái mới song vẫn còn nhiều tồn tại trong v ấn đề sản xuất rau an toàn: Đó là người nông dân chưa thực sự chủ động trong việc sản xuất, ruộng đất vẫn còn manh mún chưa tập trung đó là những khó khăn cho người dân trong việc đầu tư thâm canh, chăm bón Quy trình sản xuất rau an toàn đôi khi không tuân thủ triệt để nên ảnh hưởng đến việc tiêu thụ làm người tiêu dùng giảm độ tin cậy Từ những hạn chế đó làm cho hiệu quả kinh tế của việc sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài giảm đi cả về số lượng cũng như chất lượng

Từ đó, để góp phần phát huy những tiềm năng, lợi thế và khắc phục những hạn chế trong sản xuất rau an toàn của huyện Lương Tài nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất rau an toàn của huyện Đó là lý do chính mà tôi chọn nghiên cứu đề tài

“Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ ngành kinh tế nông nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Một là: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh tế đối với sản xuất rau an toàn;

- Hai là: Đánh giá thực trạng về hiệu quả kinh tế đối với các hộ sản xuất rau

an toàn tại huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh;

- Ba là: Đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất rau an toàn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài đề là các vấn liên quan đến hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu

+ Nghiên cứu về đặc điểm của huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh

Trang 14

+ Nghiên cứu tình hình sản xuất, tiêu thụ và đánh giá hiệu quả kinh tế một số loại rau chủ yếu là súplơ, su hào, cà chua, cải bắp, cải thảo theo hướng sản xuất rau

+ Số liệu thứ cấp được thu thập qua 3 năm 2015-2017

+ Số liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát năm 2017

4 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế của sản xuất rau nói chung và sản xuất rau an toàn nói riêng;

Luận văn sẽ đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất rau an toàn của hộ nông dân huyện Lương Tài có điều kiện tương tự

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế sản xuất cây trồng

1.1.1 Khái niệm liên quan đến hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn

* Khái niệm về sản xuất

Theo giáo trình triết học Mác-Lênin (2005): Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người Sản xuất xã hội bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần, và sản xuất ra bản thân con người Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại

và phát triển của huyện hội [14]

* Khái niệm phát triển sản xuất:

Sản xuất là quá trình kết hợp tư liệu sản xuất với sức lao động để tạo ra sản phẩm, do vậy phát triển sản xuất được coi như quá trình tăng lên về quy mô và hoàn thiện về cơ cấu sản xuất [14]

* Khái niệm về tiêu thụ

- Các sản phẩm sản xuất ra đều phải trải qua khâu tiêu thụ thì mới thực hiện được quá trình tái sản xuất sản phẩm đó Vì vậy, tiêu thụ là một khâu quan trọng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh là quá trình thực hiện giá trị sản phẩm Thông qua quá trình tiêu thụ mà sản phẩm sản xuất ra sẽ đưa sang lĩnh vực lưu thông và tới tay người tiêu dùng.[16]

- Việc tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như số lượng, chất lượng của sản phẩm, thị trường, cơ sở hạ tầng, sự nhanh nhạy của người sản xuất, chính sách vĩ mô của chính phủ Đối với rau thì kết quả và hiệu quả kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào quá trình tiêu thụ Đây là loại sản phẩm cần được tiêu thụ nhanh sau khi thu hoạch thì mới đem lại số lượng và chất lượng sản phẩm tốt được Cho nên, cần chú ý khi thu hoạch, bảo quản để tiêu thụ nhanh sản phẩm nhằm tăng hiệu quả sản xuất rau [16]

Trang 16

* Khái niệm về hiệu quả kinh tế

- Hiệu quả theo quan điểm của Mác, đó là việc “tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động sống và lao động vật hoá giữa các ngành” và đó cũng chính là quy luật “tiết kiệm và tăng năng suất lao động “hay tăng hiệu quả "Mác cũng cho rằng “nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở hết thảy mọi xã hội" [27]

- Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu và phát triển kinh tế HQKT được xem xét dưới nhiều góc độ và quan điểm khác nhau, trong đó có hai quan điểm kinh tế truyền thống và quan điểm kinh

tế tân cổ điển cùng tồn tại

- Quan điểm truyền thống: quan điểm này cho rằng HQKT là phần còn lại của

hiệu quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ đi chi phí Nó được đo bằng các chỉ tiêu lời lãi Nhiều tác giả cho rằng, HQKT được xem như là tỉ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là mức sinh lời của đồng vốn Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh [27]

Các quan điểm truyền thống trên khi xem xét HQKT đã coi quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh, xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư Trong khi đó, hiệu quả là chỉ tiêu quan trọng không những cho phép ta xem xét kết quả đầu tư mà còn giúp chúng ta quyết định nên đầu tư cho sản xuất bao nhiêu, đến mức độ nào Trên phương diện này, quan điểm truyền thống chưa đáp ứng được đầy đủ Mặt khác, quan điểm truyền thống không tính đến yếu tố thời gian khi tính toán thu chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, thu và chi trong tính toán HQKT thường chưa tính đủ và chính xác Ngoài ra, các hoạt động đầu tư và phát triển lại

có những tác động không những đơn thuần về mặt kinh tế mà còn cả xã hội và môi trường, có những phần thu và những khoản chi khó lượng hóa thì không thể phản ánh được trong cách tính này

- Xét HQKT trong trạng thái tĩnh

HQKT được xác định bằng tỷ số giữa các kết quả đạt được và chi phí phải bỏ

ra để có được kết quả đó, bao gồm nhân lực và vật lực

Trang 17

Công thức: Q

H C

Trong đó: H: HQKT

Q: Kết quả đạt được C: Chi phí bỏ ra Theo Culicop, HQKT là kết quả của một nền sản xuất nhất định, tức là đem so sánh kết quả với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó [27] Ta lấy tổng giá trị sản phẩm chia cho vốn sản xuất ta được hiệu suất vốn, tổng giá trị sản phẩm chia cho vốn vật tư ta được hiệu suất vật tư, tổng giá trị sản lượng chia cho chi phí, ta được hiệu suất chi phí…

Ưu điểm: Chỉ tiêu này chỉ rõ các mức độ, hiệu quả của việc sử dụng các nguồn

lực sản xuất khác nhau giúp ta so sánh được kết quả đạt được với chi phí bỏ ra một cách dễ dàng, so sánh HQKT giữa các quy mô khác nhau

Nhược điểm: Chỉ tiêu này không thể hiện được quy mô của HQKT nói chung

Tại Việt Nam, một số tác giả cho rằng HQKT là so sánh kết quả cả chi phí sản xuất, đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất của hoạt động sản xuất kinh doanh

- Quan điểm của các nhà tân cổ điển về hiệu quả kinh tế: Theo các nhà kinh

tế tân cổ điển như Luyn Squire, Herman Gvander Tack thì HQKT phải được xem xét trong trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra Thời gian là nhân

tố quan trọng trong tính toán hiệu quả kinh tế, dùng chỉ tiêu HQKT để xem xét trong việc đề ra các quyết định cả trước và sau khi đầu tư sản xuất kinh doanh HQKT không chỉ bao gồm hiệu quả tài chính đơn thuần mà còn bao gồm cả hiệu quả xã hội và môi trường Chính vì thế nên khái niệm về thu và chi trong quan điểm tân cổ điển được gọi là lợi ích và chi phí

Xem xét HQKT trong trạng thái động, tức là phần biến động giữa chi phí và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh

Theo quan điểm này, HQKT biểu hiện tỉ lệ phần tăng thêm của chi phí và phần tăng thêm của kết quả đạt được khi chi phí tăng thêm hoặc là tỷ lệ của kết quả

bổ sung do chi phí bổ sung tăng thêm [27]

Trang 18

Trong đó: H: HQKT

∆Q: Phần tăng thêm của kết quả sản xuất

∆C: Phần tăng thêm của chi phí sản xuất Cách đánh giá này thường được sử dụng khi xem xét HQKT của đầu tư theo chiều sâu hoặc trong vấn đề áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tức là nghiên cứu hiệu quả kinh tế của chi phí đầu tư tăng thêm Tuy nhiên, nó có hạn chế là không xem xét tới HQKT của tổng chi phí đã bỏ ra

- Xét theo mối quan hề động giữa đầu vào và đầu ra, một số tác giả đã phân biệt rõ ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế [27]

Hiệu quả kỹ thuật: là số sản phẩm thu thêm trên một đơn vị đầu vào đầu tư

thêm Nó được đo bằng tỷ số giữa số lượng sản phẩm tăng thêm trên chi phí tăng thêm Tỷ số này gọi là sản phẩm biên Nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm Hiệu quả kỹ thuật của việc sử dụng các nguồn lực được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các sản phẩm khi nông dân quyết định sản xuất

Hiệu quả phân bổ: là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư

thêm Nó là hiệu quả kỹ thuật nhân với giá sản phẩm và giá đầu vào Nó đạt tối đa khi doanh thu biên bằng chi phí biên

Hiệu quả kinh tế: là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ

thuật và hiệu quả phân bổ Điều này có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả phân bổ mới là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho đạt HQKT Chỉ khi nào việc sử dụng các nguồn lực đạt cả hai chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ khi đó sản xuất mới đạt được HQKT

- Xét theo yếu tố thời gian trong hiệu quả: các học giả kinh tế tân cổ điển đã coi thời gian là yếu tố trong tính toán hiệu quả, cùng đầu tư sản xuất kinh doanh với một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng nhau nhưng có thể có hiệu quả khác nhau, bởi thời gian bỏ vốn đầu tư khác nhau thì thời gian thu hồi vốn khác nhau Tuy nhiên để hiểu rõ thế nào là HQKT, cần phải tránh những sai lầm như

Trang 19

đồng nhất giữa kết quả và HQKT; đồng nhất giữa HQKT với các chỉ tiêu đo lường HQKT hoặc quan niệm cũ về HQKT đã lạc hậu không phù hợp với hoạt động kinh

tế theo cơ chế thị trường:

Thứ nhất, kết quả kinh tế và HQKT là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau

HQKT là phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được Còn kết quả kinh tế chỉ là một yếu tố trong việc xác định hiệu quả mà thôi Hoạt động sản xuất kinh doanh của từng tổ chức cũng như của nền kinh tế quốc dân mang lại kết quả là tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa, giá trị sản lượng hàng hóa, doanh thu bán hàng Nhưng kết quả này chưa nói lên được nó tạo ra bằng cách nào? Bằng phương tiện gì? Chi phí là bao nhiêu? Và như vậy nó không phản ánh được trình độ sản xuất của tổ chức sản xuất hoặc trình độ của nền kinh tế quốc dân Kết quả của quá trình sản xuất phải đặt trong mối quan hệ so sánh với chi phí và các nguồn lực khác Với nguồn lực có hạn, phải tạo ra kết quả sản xuất cao

và nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội Chính điều này thể hiện trình độ sản xuất trong nền kinh tế quốc dân mà theo Mác thì đây là cơ sở để phân biện trình độ văn minh của nền sản xuất này so với nền sản xuất khác

Thứ hai, cần phân biệt giữa hiệu quả kinh tế với các chỉ tiêu đo lường HQKT

HQKT vừa là phạm trù trừu tượng vừa là phạm trù cụ thể

- Là phạm trù trừu tượng vì nó phản ánh trình độ, năng lực sản xuất kinh doanh của tổ chức sản xuất hoặc của nền kinh tế quốc dân Các yếu tố cấu thành của

nó là kết quả sản xuất và nguồn lực cho sản xuất mang các đặc trưng gắn liền với quan hệ sản xuất của huyện hội, quan hệ luật pháp từng quốc gia và các quan hệ khác của hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc Với nghĩa này thì HQKT phản ánh toàn diện sự phát triển của tổ chức sản xuất, của nền sản xuất xã hội Tính trừu tượng của phạm trù HQKT thể hiện trình độ sản xuất, trình độ quản lý kinh doanh, trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất để đạt được kết quả cao nhất ở đầu ra

- Là phạm trù cụ thể vì nó có thể đo lượng được thông qua mối quan hệ bằng lượng giữa kết quả sản xuất với chi phí nó bỏ ra Đương nhiên, không thể có một chỉ tiêu tổng hợp nào có thể phản ánh được đầy đủ các khía cạnh khác nhau của

Trang 20

HQKT Thông qua các chỉ tiêu thống kê kế toán có thể xác định được hệ thống chỉ tiêu đo lường HQKT Mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh nào đó của HQKT trên phạm vi mà nó được tính toán Hệ thống chỉ tiêu này quan hệ với nhau theo thứ bậc

từ chỉ tiêu tổng hợp, sau đó đến các chỉ tiêu phản ánh các yếu tố riêng lẻ của quá trình sản xuất kinh doanh Như vậy, HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng tổng hợp của một quá trình sản xuất kinh doanh Nó bao gồm hai mặt định tính và định lượng Còn các chỉ tiêu hiệu quả chỉ phản ánh từng mặt các quan hệ định lượng của hiệu quả kinh tế Việc nâng cao HQKT được hiểu là nâng cao các chỉ tiêu đo lường và mức độ đạt được các mục tiêu định tính theo hướng tích cực Tóm lại, khi xem xét HQKT của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế xã hội

về mặt lượng là biểu hiện giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra, người ta chỉ thu được HQKT khi kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra, chênh lệch này càng lớn thì HQKT càng cao và ngược lại Còn về mặt định tính, mức độ HQKT cao là phản ánh

nỗ lực của từng khâu, mỗi cấp trong hệ thống sản xuất, phản ánh trình độ năng lực quản lý sản xuất kinh doanh Sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị xã hội Hai mặt định tính và định lượng là cặp phạm trù của HQKT, nó có quan hệ mật thiết với nhau

Thứ ba, phải có quan niệm về HQKT phù hợp với hoạt động kinh tế theo cơ

chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trước đây, khi nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, hoạt động của các tổ chức sản xuất kinh doanh được đánh giá bằng mức độ hoàn thành các chỉ tiêu pháp lệnh do nhà nước giao như: giá trị sản lượng hàng hóa, khối lượng sản phẩm chủ yếu, doanh thu bán hàng, nộp ngân sách Thực chất đây là các chỉ tiêu kết quả không thể hiện được mối quan hệ so sánh với chi phí bỏ ra Mặt khác, giá cả trong giai đoạn này mang tính bao cấp nặng nề do Nhà nước áp đặt nên việc tính toán hệ thống các chỉ tiêu kinh tế chỉ mang tính hình thức không phản ánh được trình độ thực về quản lý sản xuất của các tổ chức sản xuất kinh doanh nói riêng và của cả nền sản xuất xã hội nói chung Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý bằng các chính sách vĩ mô thông qua các công cụ là hệ thống pháp luật hành chính, luật kinh tế, luật doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu chung của

Trang 21

toàn xã hội Các chủ thể sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ đều là các đơn vị pháp nhân kinh tế bình đẳng trước pháp luật Mục tiêu của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế không những nhằm thu được lợi nhuận tối đa mà còn phải phù hợp với những yêu cầu của huyện hội theo hướng chuẩn mực của Đảng và Nhà nước quy định gắn liền với lợi ích của người sản xuất, người tiêu dùng và lợi ích của cả xã hội

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng HQKT là phạm trù phản ánh trình

độ năng lực quản lý điều hành của các tổ chức sản xuất kinh doanh nhằm đạt được kết quả cao những mục tiêu kinh tế xã hội với chi phí thấp nhất

* Khái niệm về rau an toàn

Sản xuất rau là một ngành trong sản xuất nông nghiệp Vì vậy, muốn hiểu về rau an toàn chúng ta đi từ khái niệm về nền nông nghiệp Hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam có hai quan niệm về nền nông nghiệp sạch là: Nông nghiệp sạch tương đối và nông nghiệp sạch tuyệt đối [6]

+ Nông nghiệp sạch tương đối: Là nền nông nghiệp có sự kết hợp các biện pháp thâm canh hiện đại, đặc biệt là các thành tựu về công nghệ sinh học kỹ thuật cao với các biện pháp hữu cơ, sinh học để giảm thiểu tới mức thấp nhất việc sử dụng các loại phân bón và các loại thuốc bảo vệ thực vật hoá học nhằm hạn chế tối

đa tác động xấu của sản xuất đến môi trường Đồng thời các sản phẩm sản xuất không có hoặc có dưới mức cho phép các dư lượng chất độc nền nông nghiệp này được áp dụng phổ biến ở các nước phát triển

+ Nông nghiệp sạch tuyệt đối: Là nền nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh học Nền nông nghiệp này người ta áp dụng các biện pháp hữu và sinh học, trở lại với chế độ canh tác tự nhiên, không dùng các loại phân bón hoá học hay thuốc bảo

vệ thực vật hóa học Nó được trồng trong nhà kính nhà lưới để cách ly với các yếu

tố độc hại của môi trường bên ngoài Nền nông nghiệp này chủ yếu chỉ được áp dụng ở các nước phát triển vì họ có nền nông nghiệp tiên tiến có điều kiện về kinh

tế để đầu tư vốn cũng như cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông nghiệp

Xuất phát từ những quan điểm đó mà Tổ chức y tế thế giới (WHO), tổ chức nông lương thế giới (FAO), thì rau an toàn phải đảm bảo các yêu câu sau:

Trang 22

* Rau đảm bảo phẩm cấp, chất lượng không bị dư hại, dập nát, héo úa, không ngâm, ủ bằng chất hoá học độc hại

* Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hàm lượng Nitrat (NO3) và kim loại nặng ở dưới mức cho phép

* Rau không bị sâu bệnh không có vi sinh vật cho người và gia súc

Ngoài ra, Sở nông nghiệp và PTNT thành phố Hồ Chí Minh có quan niệm về rau sạch như sau:

* Rau an toàn (rau sạch tương đối) là loại rau mà lượng thuốc bảo vệ thực vật, hàm lượng Nitrat, hàm lượng kim loại nặng và lượng vi sinh vật gây hai tồn đọng trong rau an toàn không vượt quá mức cho phép của tổ chức y tế thế giới (WHO)

* Rau sạch tuyệt đối: "Ngoài các tiêu chuẩn trên còn không được dùng thuốc hoá học và thuốc trừ sâu trong canh tác

Ngoài các quan niệm trên, Trần Khắc Thi coi sản phẩm rau là rau an toàn thì phải đáp ứng các yêu cầu sau [3]

* Rau phải sạch, hấp dẫn về hình thức: tươi, sạch bụi bẩn tạp chất, thu đúng độ chín, khi rau có chất lượng cao nhất, không có triệu chứng bệnh có bao bì vệ sinh hấp dẫn

* Đồng thời rau an toàn phải an toàn về chất lượng: Tức là dư lượng thuốc về bảo vệ thực vật, dư lượng Nitrat, dư lượng kim loại nặng và dư lượng vi sinh vật gây hại trong rau không vượt quá mức cho phép của tổ chức y tế thế giới (WHO)

1.1.2 Nội dung hiệu quả kinh tế

Theo các quan điểm trên, HQKT luôn liên quan đến các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Vậy nội dung xác định HQKT bao gồm:

- Xác định các yếu tố đầu ra: đây là công việc xác định mục tiêu đạt được, các kết quả đạt được có thể là giá trị sản xuất, khối lượng sản phẩm, giá trị sản phẩm, giá trị gia tăng, lợi nhuận

- Xác định các yếu tố đầu vào: đó là chi phí sản xuất, chi phí dịch vụ, chi phí lao động

Đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường, việc xác định các yếu tố đầu vào, đầu ra có nhiều khó khăn:

Trang 23

- Những khó khăn trong xác định yếu tố đầu vào:

Trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng tư liệu sản xuất vào nhiều quá trình sản xuất không đồng đều Hơn nữa có loại rất khó xác định giá trị đào thải và chi phí sửa chữa lớn Ví thế, việc khấu hao và phân bổ chi phí để tính đúng chi phí sản xuất chỉ có tính tương đối

Các chi phí sản xuất chung như chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng, chi phí thông tin tuyên truyền, giáo dục đào tạo, khuyến cáo kỹ thuật cần phải được hạch toán vào chi phí, nhưng thực tế không tính được một cách cụ thể Ảnh hưởng của thị trường làm giá cả biến động, mức độ trượt giá gây khó khăn trong việc xác định các loại chi phí sản xuất

Các yếu tố về điều kiện tự nhiên tác động lớn đến quá trình sản xuất nông nghiệp và hiệu quả của nó Tuy nhiên, mức độ tác động của các yếu tố này đến nay vẫn chưa có phương pháp chuẩn xác

- Những khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu ra:

Kết quả sản xuất về mặt vật chất có thể lượng hóa để tính và so sách trong thời gian và không gian cụ thể nào đó Nhưng, những kết quả về mặt xã hội, môi trường sinh thái, độ phì của đất, khả năng nông nghiệp canh tranh trên thị trường của một doanh nghiệp hay của vùng sản xuất thì không thể lượng hóa và chỉ được bộc lộ trong thời gian dài Đó là việc khó khăn trong việc xác định đúng và đủ các yếu tố đầu ra

Mong muốn của người sản xuất là tăng nhanh kết quả hữu ích hay mục đích cuối cùng của sản xuất là đáp ứng tốt nhất những nhu cầu về vật chất tinh thần, văn hóa xã hội Đồng thời, mục tiêu của người sản xuất là tiết kiệm các yếu tố đầu vào

để tăng nhanh kết quả hữu ích đó hay tăng hiệu quả kinh tế

1.1.3 Bản chất của hiệu quả kinh tế

Bản chất của HQKT là sự gắn kết mối quan hệ giữa kết quả và chi phí, thực hiện tối ưu giữa yếu tố đầu vào với đầu ra Tiêu chuẩn của HQKT là sự tối đa hóa kết quả và tối thiểu hóa chi phí trong điều kiện tài nguyên có hạn Tùy từng ngành, tùy từng mức độ mà ta xác định đâu là kết quả, đâu là hiệu quả Trong xu thế ngày nay trong quá trình sản xuất kinh doanh ngoài việc quan tâm đến hiệu quả kinh tế,

Trang 24

để phát triển bền vững người ta còn quan tâm đến hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường trong quá trình sản xuất kinh doanh

- Bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội

Quan điểm này gắn liền với hai quy luật của nền sản xuất xã hội là quy luật tăng năng suất lao động và quy luật tiết kiệm thời gian lao động Điều này thể hiện được mối quan hệ so sánh giữa lượng kết quả hữu ích thu được với lượng hao phí lao động xã hội Đó chính là hiệu quả của lao động xã hội

- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là thước đo duy nhất chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh

Một phương án sản xuất có hiệu quả thì phải đạt được kết quả cao nhất, với chi phí thấp nhất trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới

Về khía cạnh này cũng thể hiện chất lượng của quá trình hoạt động sản xuất Muốn nâng cao chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh thì không dừng lại ở việc đánh giá những hiệu quả đã đạt được, mà còn phải thông qua nó để tìm giải pháp thúc đẩy sản xuất phát triển ở mức cao hơn Do đó, hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế đánh giá trình độ sản xuất nhưng không phải mục đích cuối cùng của sản xuất

1.1.4 Ý nghĩa việc nâng cao hiệu quả kinh tế

Bất kỳ một quốc gia nào, một ngành nào hay một đơn vị sản xuất kinh doanh đều mong muốn rằng với nguồn lực có hạn làm thế nào để tạo ra lượng sản phẩm lớn nhất và chất lượng cao nhất nhưng có chi phí thấp nhất Vì thế tất cả các hoạt động sản xuất đều được tính toán kỹ lưỡng sao cho hiệu quả cao nhất Nâng cao hiệu quả kinh tế là cơ hội để tăng lợi nhuận, từ đó các nhà sản xuất tích lũy vốn và tiếp tục đầu tư tái sản xuất mở rộng đổi mới công nghệ tạo ra lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị trường… đồng thời không ngừng nâng cao thu nhập cho người lao động Đây chính là nguồn gốc để giải quyết mọi vấn đề

Đối với sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế các nguồn lực trong

đó hiệu quả sử dụng đất có ý nghĩa hết sức quan trọng Muốn nâng cao hiệu quả kinh tế các hình thức sử dụng đất nông nghiệp thì một trong các vấn đề cốt lõi là phải tiết kiệm nguồn lực Cụ thể với nguồn đất đai có hạn yêu cầu đặt ra với người

Trang 25

sử dụng đất là tạo ra được số lượng nông sản có số và chất lượng nông sản cao nhất Mặt khác, phải không ngừng bồi đắp độ phì nhiêu của đất Từ đó sản xuất mới có

cơ hội để tích lũy vốn tập trung vào tái sản xuất mở rộng

Nâng cao hiệu quả kinh tế là tất yếu của sự phát triển xã hội Tuy nhiên, ở các đơn vị khác nhau thì có sự quan tâm khác nhau Đối với người sản xuất, tăng hiệu quả chính là giúp họ tăng lợi nhuận Ngược lại, người tiêu dùng muốn tăng hiệu quả chính là họ được sử dụng hàng hóa với giá thành ngày càng hạ và chất lượng hàng hóa ngày càng tốt hơn Khi xã hội càng phát triển, công nghệ ngày càng cao, việc nâng cao hiệu quả sẽ gặp nhiều thuận lợi Nâng cao hiệu quả sẽ làm cho cả xã hội

có lợi hơn, lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng ngày càng được nâng lên Tuy nhiên, việc nâng cao hiệu quả kinh tế phải đặt trong mối quan hệ bền vững giữa HQKT với hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường trước mắt và lâu dài

1.1.5 Đặc điểm sản xuất rau an toàn

Đời sống nhân dân ngày một nâng cao về chất lượng Vì thế nhu cầu của người dân về rau an toàn là rất chính đáng bởi nó góp phần kéo dài tuổi thọ, tăng sức khoẻ Rau an toàn có những đặc điểm sau:

- Hầu hết tất cả các loại rau an toàn đều phải trải qua thời kỳ ươm cây giống, trong thời kỳ này đòi hỏi phải chăm sóc cẩn thận, loại bỏ những cây xấu, chăm sóc theo đúng quy trình kỹ thuật, do vậy sản phẩm rau phụ thuộc rất nhiều vào cây giống

- Sản xuất rau nói chung và rau an toàn nói riêng có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể nhiều vụ trong năm góp phần cải tạo đất, nâng cao thu nhập cho người nông dân Rau an toàn là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế nói chung và sự phát triển của ngành nông nghiệp nói riêng

- Sản xuất rau an toàn đòi hỏi phải bỏ vốn đầu tư cũng như công lao động nhiều đòi hỏi sản xuất theo quy trình kỹ thuật nhất định

- Rau là loại cây có nhiều sâu bệnh phá hoại, trong khi đó việc sản xuất rau an toàn lại đòi hỏi hạn chế tới mức tối đa việc sử dụng thuốc hoá học Do đó, phải có biện pháp phòng trừ sâu bệnh kịp thời hợp lý để đảm bảo chất lượng rau an toàn

Trang 26

* Khái niệm về tiêu chuẩn và quy trình rau an toàn: Rau an toàn thì phải

mang đầy đủ tiêu chuẩn được quy định là an toàn đó là về rau nhìn bề ngoài không dập nát, ngâm ủ bằng hoá chất Và hàm lượng kim loại tồn dư bảo vệ thực vật không được quá mức cho phép quy định

* Quy trình sản xuất rau an toàn: Tùy theo điều kiện cụ thể của mỗi quốc nước

mà việc xây dựng quy trình sản xuất rau an toàn sao cho hợp lý ở nước ta Sở khoa học công nghệ và môi trường đã đưa ra quy trình sản xuất rau an toàn [4]

- Môi trường sản xuất rau an toàn như đất, nước, không khí phải trong lành, xa khu nước thải, chất thải của thành phố, khu công nghiệp, bệnh viện và khí thải cảu

xe cơ giới

- Phương thức và trình độ sản xuất: rau an toàn phải được sản xuất trong vùng quy hoạch, có tổ chức và quản lý chặt chẽ nhất là về phân bón và thuốc trừ sâu Người sản xuất phải tự nguyện, tự giác, có kiến thức và tiếp thu được quy trình sản xuất mới

- Đất trồng: Phải là đất cao ráo, dễ thoát nước, thích hợp với sinh trưởng và phát triển của cây rau Đất không bị nhiễm đốc của thuốc trừ sâu và kim loại nặng, chọn đất xa khu công nghiệp, xa các bệnh viện, nghĩa trang, đường quốc lộ ít nhất 200m trở lên

- Giống và thời vụ gieo trồng: phải chọn những hạt giống tốt, những cây con khoẻ mạnh, không có mầm bệnh có chất lượng và sức chống chịu sâu bệnh cao Trước khi gieo trồng hạt giống hoặc cây cây con cần được xử lý bằng hoá chất hoặc bằng nhiệt

- Nước tưới: Vì trong rau chiếm trên 90% nước, nên nước tưới ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng rau Do đó, phải tưới nước sạch cho cây, không được dùng nước bẩn để tưới hoặc rửa rau sau khi thu hoạch, nếu có điều kiện tốt nhất là dùng giống khoan khi nước đã xử lý

- Phân bón: Cấm dùng phân tươi để bón hoặc tưới, mà chỉ dùng phân chuồng

đã ủ hoai mục, phân hữu cơ vi sinh, phân hỗn hợp hữu cơ, khoáng theo tỷ lệ cân đối Sử dụng phân bón qua lá, chất kích thích sinh trưởng của các đơn vị được phép sản xuất, dùng đúng liều lượng và hướng dẫn

Trang 27

- Thuốc phòng trừ sâu bệnh: Thực hiện triệt để các biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM (chọn giống chống bệnh, vệ sinh đông ruộng, luân canh cây trồng) Không được dùng thuốc bảo vệ đã cấm sử dụng mà chỉ sử dụng những thuốc có hàm lượng hoạt chất thấp, ít độc hại đối với ký sinh thiên dịch, phân giải nhanh, đúng liều lượng và đảm bảo thời gian cách ly cho phép

- Thu hoạch và bảo quản: Cần thu hoạch đúng độ chín của sản phẩm và thời gian cách ly Sau khi thu hoạch cần tỉa bỏ lá già, úa, dập nát, bị bệnh, phân loại sản phẩm theo tiêu chuẩn, chất lượng và tiêu thụ kịp thời Đồng thời phải có điều kiện chế biến và bảo quản theo đúng kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cho con người và được trồng nhiều ở hầu hết các nước trên thế giới

1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn

Trong điều kiện nguồn lực có hạn và sự tác động của các quy luật khan hiếm không thể tạo ra kết quả bằng mọi giá mà phải dựa trên sử dụng nguồn lực ít nhất, lúc này phạm trù hiệu quả kinh tế ra đời Vì vậy, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sẽ là:

a Nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên

Trong các nhân tốt thuộc về điều kiện tự nhiên, thông thường nhân tố đầu tiên

mà người ta phải kể đến đó là điều kiện đất đai Ngoài đất đai và khí hậu, nguồn nước cũng cần được xem xét Chính những điều kiện này ảnh hưởng đến năng suất chất lượng của rau an toàn, đồng thời đó là những nhân tố cơ bản để dẫn đến quyết định đưa ra định hướng sản xuất, hướng đầu tư thâm canh, lịch trình chăm sóc và thu hoạch

Các yếu tốt khí hậu chi phối và tác động rất lớn đến năng suất và chất lượng Qua tổng hợp số liệu khí tượng của 13 năm liên tục, rồi từ năng suất thực tế xây dựng ma trận để tính toán hệ số ảnh hưởng và hệ số tương quan tác giả kết luận sản lượng của phụ thuộc các yếu tốt nhiệt độ, mưa, nắng, độ ẩm không khí theo phương trình giả định sau:

S = A + BX + CY + DZ + E Trong đó:

S: Năng suất (kg/ha)

Trang 28

A: Hệ số ảnh hưởng của các yếu tố chưa xác định

B: Hệ số ảnh hưởng của nhiệt độ

C: Hệ số ảnh hưởng của lượng mưa D: Hệ số ảnh hưởng của số giờ nắng E: Hệ số ảnh hưởng của độ ẩm không khí

Nhiệt độ thấp và lượng mưa ít (trời rét và khô hanh) trong 2 tháng (11 và 12)

là yếu tốt hạn chế có ảnh hưởng rất quan trọng đến năng suất cây trồng, một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng ra của không đều là hiện tượng hạn chế lớn nhất với cây trồng

b Nhóm nhân tốt về biện pháp kỹ thuật

Trong thời gian này, các nhân tố thuộc về điều kiện kỹ thuật có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của các vùng chuyên môn hóa sản xuất trồng trọt Được thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau đây:

- Những tiến bộ trong khâu sản xuất và cung ứng giống cây trồng Các loại giống mới có sức kháng bệnh cao giúp ổn định năng suất cây trồng; ổn định sản lượng sản phẩm hàng hóa Bên cạnh những tiến bộ trên về công tác giống, còn phải

kể đến xu hướng lai tạo, bình tuyển các giống mới phù hợp với kinh tế thị trường: chịu dập, giữ được độ tươi trong quá trình vận chuyển

- Bên cạnh những tiến bộ công nghệ trong sản xuất giống mới, hệ thống quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cũng được hoàn thiện và phổ biến nhanh đến người sản xuất

- Sự phát triển của quy trình công nghệ bảo quản và chế biến nông sản sau thu hoạch đang tạo ra những điều kiện có tính cách mạng để vận chuyển sản phẩm đi tiêu thụ tại những thị trường quốc tế Công nghệ chế biến cũng mở rộng thị trường nông sản vùng chuyên canh nhờ sự tác động của quá trình đó đã đa dạng các sản phẩm tiêu dùng

c Nhóm nhân tố về kinh tế - tổ chức sản xuất

Nhóm nhân tố này gồm nhiều nhân tố cấu thành nhưng có thể chia ra như sau: Thứ nhất, trình độ, năng lực của người sản xuất: Nó có tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất Năng lực của người sản xuất được thể hiện qua: Trình độ khoa học kỹ thuật và tổ chức quản lý, khả năng ứng xử trước những biến động của thị trường, khả năng vốn và đầu tư về trang bị cơ sở vật chất

Trang 29

Thứ hai, quy mô sản xuất: Quy mô càng hợp lý thì sản xuất càng có hiệu quả, mọi công việc như tổ chức chăm sóc, thu hoạch, chi phí cũng được tiết kiệm, còn nếu quy mô sản xuất không hợp lý thì sản xuất sẽ kém hiệu quả

Thứ ba, tổ chức công đoạn sau thu hoạch như: Tổ chức công tác chế biến, tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm, dây là vấn đề có tính quyết định đến tính bền vững của sản xuất nông sản hàng hóa

Như vậy, nhóm các nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội nêu trên có liên quan mật thiết và tác động qua lại với nhau, làm biến đổi lẫn nhau và cùng ảnh hưởng đến sản xuất trồng trọt nói chung và sau an toàn nói riêng Do vậy, việc phân tích đánh giá đúng sự ảnh hưởng của chúng là rất cần thiết để đề ra những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế rau an toàn tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Hiệu quả kinh tế rau an toàn ở một số nước trên thế giới

Trên thế giới hiện nay có khoảng 120 chủng loại rau nhưng chỉ có 12 loại rau chủ lực được trồng trên 80% diện tích trong đó có rau an toàn Điều này đã minh chứng rằng, sản xuất rau an toàn cho hiệu quả kinh tế rất cao

Rau xuất hiện từ hơn 3000 năm trước, chúng có nguồn gốc từ khu vực Bắc Phi, Tây Nam Á và Châu Âu Cà rốt là một trong những loại rau phổ biến nhất thế giới đứng thứ 2 sau cây khoai tây Trải qua nhiều thế kỷ, ngày nay cà rốt du nhập tới nhiều quốc gia trên khắp thế giới và là món ăn ưa chuộng của mọi người dân không kể giàu nghèo Theo số liệu thống kê của FAO, sản lượng cà rốt trung bình trong các năm từ 2003-2005 của Trung Quốc chiếm 34%, đứng sau là Nga, Mỹ chiếm 7%, Ba Lan 4%, Anh 3% và các nước còn lại chiếm 45% Trong số các nước dẫn đầu về sản xuất cà rốt, Mỹ được xếp thứ 3 về năng suất (31,7 tấn/ha), đứng thứ

4 về diện tích và sản lượng Số liệu năm 1990 cho thấy sản lượng cà rốt trên toàn thế giới là 13,37 triệu tấn, tăng 30% so với năm 1980 Tại Châu Âu, Anh là nước sản xuất rau an toànlớn nhất: 750.000 tấn/năm, Pháp 568.000: tấn/năm, Hà Lan: 476.000 tấn/năm và Italia: 407.000 tấn/năm [9]

Diện tích gieo trồng rau an toàn hàng năm ở các nước Châu Á là 250.000ha, cộng đồng Châu Âu 70.000ha, các nước Đông Âu 60.000ha, Nhật Bản 25.000ha, Hàn Quốc 5.000ha [15]

Trang 30

* Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia có nền kinh tế tương đồng và có chung đường biên giới với Việt Nam Trong những năm qua ngành hàng rau quả phục vụ chế biến xuất khẩu đem lại hiệu quả kinh tế cao Trung Quốc hiện là nước sản xuất, xuất khẩu và tiêu thụ rau lớn nhất thế giới Hiện nay Trung Quốc cũng là nước chiếm 34% sản lượng cà rốt trên thế giới Để thúc đẩy ngành hàng rau quả chế biến nâng cao hiệu quả hơn nữa, Trung Quốc tổ chức mối liên kết kinh tế chặt chẽ giữa sản xuất - chế biến và xuất khẩu thông qua việc thành lập các hội đoàn với các hình thức liên kết như công ty - trang trại - hộ nông dân; thị trường - cơ sở sản xuất - hộ nông dân; hợp tác xã - xí nghiệp - hộ nông dân; hiệp hội - xí nghiệp chế biến - hộ nông dân

Chính sách của Trung Quốc tạo ra các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản, cho phép nông nghiệp Trung Quốc tiếp cận với công nghệ mới, sản xuất hiện đại, các hộ tiểu nông có điều kiện đầu tư mở rộng sản xuất tăng thu nhập

Do việc thực hiện chính sách này đã phát huy được hiệu quả tạo sự chuyển biến tích cực trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất rau củ trong nước Cụ thể trong thập niên 1960, 1970 diện tích sản xuất rau chủ yếu tập trung ở vùng ngoại

ô của các thành phố và cung cấp tại địa phương Nhằm tăng diện tích và chất lượng các loại rau quả, đến năm 1988 Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành triển khai chương trình hỗ trợ ngành rau quả nhằm cải thiện kết cấu hạ tầng và phát triển hệ thống bán buôn, bố trí “tổng sản xuất, thị trường rộng lớn và lưu thông lớn”, khu vực trồng rau nguyên liệu được mở rộng đến các vùng nông thôn Kết quả là diện tích trồng rau tăng từ 3,8 triệu ha năm 1980 lên 22,5 triệu ha năm 2005 bao gồm cải bắp, dưa chuột, cà chua, cà rốt, củ cải… Theo Ủy ban phát triển và cải cách Trung Quốc lợi nhuận bình quân trên mỗi ha trồng rau trong năm 2004 là 1.172USD [14] Qua nghiên cứu chính sách sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc cho thấy việc ban hành chính sách đồng bộ từ sản xuất - chế biến - tiêu thụ của Nhà nước có tác động rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp nói chung và rau an toàn nói riêng, tạo động lực cho nên kinh tế phát triển

Trang 31

* Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là một trong những nước sản xuất rau quả lớn trên thế giới Từ năm

1932, Chính phủ Mỹ đã nhận định các khâu trung gian (doanh nghiệp kinh doanh, chế biến nông sản, vật tư nông nghiệp và xuất khẩu lương thực) chiếm lợi tức áp đảo, câu kết với các đối tác nước ngoài, khiến thu nhập của nông dân Mỹ giảm sút

Từ chỗ nông nghiệp được bảo hộ suốt 60 năm qua, Chính phủ Mỹ quyết định giảm dần can thiệp của nhà nước vào cơ chế giá, để cơ chế thị trường hoạt động đầy

đủ khi nền nông nghiệp Mỹ đã phát triển cao, công nghiệp hóa và hoàn toàn hội nhập quốc tế Từ năm 1990 về sau, các chính sách nông nghiệp chỉ duy trì hỗ trợ, trợ giá ở mức tương đối thấp, còn lại tập trung đầu tư các chương trình dự trữ lương thực chiến lược quốc gia, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học nông nghiệp, công nghệ thông tin, dự báo thời tiết để đảm bảo phục vụ hiệu quả thị trường nông sản và nông nghiệp quốc gia

Mỹ là nước có GDP/PPP tới 17.500 tỷ USD (2014), tuy nhiên nông nghiệp chỉ chiếm tỷ lệ có 1,1 trong GDP Lao động làm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản chỉ chiếm có 0,7% trong tổng số 153,9 triệu lao động trên toàn nước Mỹ Vậy mà nông nghiệp Mỹ lại là mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa rất điển hình

Hoa Kỳ là quốc gia sản xuất rau an toànđứng thứ 2 thế giới sau Trung Quốc Ở quốc gia này việc sản xuất nông nghiệp nói chung và cà rốt nói riêng được cơ giới hóa cao

* Thái Lan

Là một quốc gia có nền nông nghiệp tương đồng với Việt Nam, thậm chí có những điều kiện còn hạn chế hơn nhưng Thái Lan đã vươn lên trở thành nước đứng đầu về xuất khẩu nông sản ở Đông Nam Á với giá trị cao hơn hẳn so với Việt Nam Lĩnh vực nông nghiệp đóng góp khoảng 13% vào tổng GDP của Thái Lan trong đó trồng trọt đóng góp khoảng 68% vào tổng giá trị sản xuất nông nghiệp Với tổng diện tích đất là 51,3 triệu ha, diện tích đất trang trại chiếm khoảng 21 triệu ha Thái Lan là một đất nước trồng rau nhiệt đới và ôn đới nên chủng loại rau ở đất nước này rất phong phú Hiện nay có khoảng trên 100 loại rau được trồng ở Thái Lan trong

đó có 45 loại được trồng phổ biến Sản xuất rau giữ một vai trò quan trọng trong

Trang 32

ngành nông nghiệp Thái Lan, đồng thời có đóng góp lớn vào giá trị xuất khẩu và thu nhập của người nông dân nước này Trong thập kỷ mới (2011-2020), sản xuất rau củ của Thái Lan sẽ tập trung vào các loại rau củ có chất lượng cao để phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa Lượng rau tươi, đông lạnh, chế biến và rau sẵn sàng cho tiêu thụ trực tiếp sẽ gia tăng Các loại rau củ tiềm năng của Thái Lan gồm có ngô bao tử, ngô non, ngô ngọt, tỏi, cà chua, cà rốt, gừng……

Qua nghiên cứu kinh nghiệm phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và hiệu quả kinh tế sản xuất rau củ nói riêng của Thái Lan cho thấy: Để phát triển sản xuất rau củ đòi hỏi phải xây dựng được các vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn, tính chuyên môn hóa cao… để tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, đồng đều và mang tính hàng hóa lớn nên việc tiêu thụ và xuất khẩu rất thuận lợi; giải quyết tốt mối quan hệ giữa đầu tư, xây dựng các cơ sở chế biến với phát triển vùng nguyên liệu tập trung

Rau xanh rất cần thiết cho con người để tồn tại và phát triển bình thường, nên cần phải có đủ lượng rau Do đó, rau là loại cây thực phẩm quan trọng cung cấp chất dinh dưỡng khác nhau

1.2.2 Tình hình sản xuất rau an toàn ở Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình phát triển sản xuất rau an toàn ở Việt Nam

Nghề trồng rau của nước ta ra đời từ rất sớm, nước ta cũng là trung tâm khởi

nguồn của nhiều loại rau trồng, nhất là các cây thuộc họ bầu bí Năm 2017, diện tích

trồng rau của Việt Nam là 494.500 ha, sản lượng đạt 6,7 triệu tấn So với năm 2015, năm 2017 diện tích rau tăng 7,7%, sản lượng tăng 15,5% Nhìn chung, những năm gần đây, diện tích, năng suất và sản lượng rau của nước ta có tăng lên, nhưng vẫn còn thấp Năng suất rau ở Việt Nam chỉ bằng 77% năng suất trung bình thế giới, sản

lượng bình quân rau đầu người chỉ bằng 78% thế giới [29]

Sản xuất rau là ngành hàng sản xuất đa chủng loại (khoảng hơn 60 loại) trong đó, rau vụ Đông Xuân của nước ta cũng đã và đang là thế mạnh so với các nước trong khu vực Các vùng trồng rau hàng hoá và rau chuyên canh trải rộng từ Trung du Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng, vùng rau Lâm Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh và các khu vực lân cận vùng đồng bằng sông Cửu Long Về tiềm năng, Việt

Trang 33

Nam có khả năng sản xuất đủ rau cho tiêu dùng và xuất khẩu, giá thành rau tại ruộng thấp

Những năm gần đây, công tác quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm đã và đang được các cấp, các ngành quan tâm Nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp, nhất là rau xanh bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm đã trở nên cấp thiết và là mong muốn của mọi người tiêu dùng Với ngành sản xuất rau, nhiều quy trình sản xuất RAT đã và đang được triển khai trên cả nước Để góp phần đẩy mạnh sản xuất nông sản thực phẩm an toàn nói chung và rau hoa quả nói riêng phục vụ cho tiêu dùng trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu, Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật liên quan đến chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm Đặc biệt là Nghị định 86/CP của Chính phủ, trong đó, Bộ Y tế được giao trách nhiệm quản lý Nhà nước về chất lượng hàng hoá Bộ Y tế đã biên soạn

và ban hành 24 văn bản pháp luật về quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm; 8 văn bản quy phạm pháp luật về quy định kỹ thuật kiểm nghiệm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm; ban hành 4 Thông tư liên tịch phối hợp với Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) và các bộ liên quan soạn thảo Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm

Tình hình áp dụng Quy trình Thực hành Sản xuất Nông nghiệp tốt (VietGAP) ở Việt Nam

- Với định hướng quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm trên cơ sở phân tích mối nguy và kiểm soát điểm giới hạn (HACCP) trong tất cả các khâu của quá trình “từ trang trại đến bàn ăn”, năm 2008 Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) trong sản xuất rau, quả, chè an toàn

và các Quyết định số 84/2008/QĐ-BNN về Quy chế chứng nhận VietGAP, Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN về quản lý sản xuất và kinh doanh rau, quả và chè an toàn để triển khai áp dụng VietGAP vào sản xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 107/2008/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn với mục tiêu đến năm 2015 toàn bộ sản phẩm rau, quả, chè tại các vùng sản xuất tập trung được sản xuất theo VietGAP Các văn bản pháp quy nói trên đã khẳng định áp dụng VietGAP là sự lựa chọn tất yếu nhằm bảo đảm

an toàn VSTP, bảo vệ môi trường và sức khỏe con người

Trang 34

Tính đến cuối năm 2017, công tác triển khai VietGAP trong cả nước đã đạt được một số kết quả như sau:

- Cục Trồng trọt đã thẩm định và chỉ định được 297 người lấy mẫu đất, nước, rau, quả, chè phục vụ công tác phát triển sản xuất rau, quả, chè an toàn; Chỉ định 11

Tổ chức chứng nhận: 7 tổ chức chứng nhận sản xuất RAT, 4 tổ chức chứng nhận VietGAP rau, quả, chè an toàn; trong đó có 8 tổ chức hoạt động ở phía Bắc, 3 tổ chức hoạt động ở phía Nam

Ngoài ra, Sở Nông nghiệp và PTNT một số tỉnh đã thực hiện chỉ định tổ chức chứng nhận chất lượng trên địa bàn tỉnh, thành như: Hà Nội, Lâm Đồng, Hải Phòng, Thái Nguyên, Hà Giang Theo Quyết định số 106/2008/QĐ-BNN để phù hợp Luật Tiêu chuẩn - Quy chuẩn đến 31/12/2009 thì 7/11 tổ chức chứng nhận này phải chuyển đổi và hoạt động chứng nhận VietGAP và một số Chi cục BVTV sẽ không tiếp tục làm nhiệm vụ chứng nhận

- Hiện nay, cả nước có 22 phòng kiểm nghiệm đăng ký được chỉ định là

phòng kiểm nghiệm sản phẩm cây trồng an toàn (10 ở phía Bắc và 12 ở phía Nam)

- Thực hiện Quyết định số 107/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về

một số chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, sơ chế, kinh doanh rau, quả, chè an toàn đến 2015, một số tỉnh, thành phố đã phê duyệt đề án hoặc ban hành chính sách

hỗ trợ phát triển sản xuất RAT trên địa bàn như: Thành phố Hà Nội (dự kiến ngân sách đầu tư khoảng 900 tỷ đồng), Thành phố Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Quảng Bình Ngoài ra, một số tỉnh, thành phố khác đang tiếp tục xây dựng đề án, dự án (Hưng yên, Thái Bình, Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Giang )

Bộ Nông nghiệp và PTNT đang triển khai một số dự án lớn như :

* Dự án xây dựng và kiểm soát chất lượng nông sản thực phẩm do CIDA tài trợ 2008 - 2012 (Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và thuỷ sản chủ trì), tổng kinh phí khoảng 17 triệu đôla Canada

* Dự án nâng cao chất lượng và an toàn sản phẩm nông nghiệp từ nguồn vay của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) 2009 - 2015, trong đó hỗ trợ cho sản xuất rau, quả, chè an toàn khoảng 85 triệu USD tại 15 tỉnh, thành phố

Trang 35

* Chương trình khuyến nông hàng năm luôn ưu tiên hỗ trợ xây dựng mô hình rau, quả an toàn Năm 2009 kinh phí cho chương trình RAT là 4,3 tỷ đồng

Theo báo cáo của các tổ chức chứng nhận VietGAP được chỉ định và các địa phương, đến cuối năm 2009, cả nước đã có trên 15 mô hình/địa phương áp dụng VietGAP được chứng nhận (Phụ lục 2) Trong đó có 10 mô hình VietGAP trên rau với diện tích 31,5 ha; 3 mô hình VietGAP trên chè với diện tích 24 ha Mô hình VietGAP đã được áp dụng trên cây thanh long với diện tích 300 ha ở tỉnh Bình Thuận Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội cũng đã tư vấn cho nông dân trồng vải

ở Hồng Giang, Lục Ngạn, Bắc Giang áp dụng VietGAP trên diện tích 5 ha Dự án CIDA cũng đang tập huấn, triển khai một mô hình RAT theo VietGAP tại Hà Nội, Vĩnh Phúc

- Về tiêu thụ rau, quả, chè an toàn: Trong thời gian qua, các đơn vị sản xuất

đã chủ động tìm các cách thức phù hợp để đưa sản phẩm RAT ra thị trường, giúp người tiêu dùng phân biệt được RAT có nguồn gốc, được chứng nhận và rau không

rõ nguồn gốc, từng bước tạo niềm tin cho người tiêu dùng:

+ Hợp đồng giữa doanh nghiệp và nhà sản xuất, trong đó doanh nghiệp cam kết tiêu thụ sản phẩm và hỗ trợ sản xuất (ứng trước giống, vật tư nông nghiệp hoặc xây dựng, cải tạo một số hạng mục hạ tầng vùng trồng rau )

+ Đơn vị sản xuất rau chủ động hình thành thị trường thông qua việc bán hàng trực tiếp cho khách hàng (hộ dân, nhà máy, trường học, khách sạn ) thông qua Hợp đồng tiêu thụ hoặc qua hệ thống cửa hàng, siêu thị, đại lý bán lẻ như: Mô hình sản xuất tiêu thụ RAT của Viện BVTV, DN Thoa Liên - Bắc Ninh, Công ty TNHH Một thành viên Đầu tư và Phát triển Nông nghiệp Hà Nội, Công ty Hà An + Doanh nghiệp thuê đất đầu tư xây dựng vùng sản xuất RAT đang được hình thành và phát triển tại các tỉnh như: Hải Phòng, Lâm Đồng, Lào Cai, Sơn La cần được khuyến khích tạo điều kiện

Tuy nhiên, qua quá trinh thực hiện thì phát hiện nhiều vấn đề còn tồn tại trong việc áp dụng VietGAP

- Công tác quy hoạch, xác định các vùng sản xuất đủ điều kiện còn chậm Diện tích các vùng sản xuất rau, quả, chè an toàn tập trung được quy hoạch cả nước

Trang 36

đạt khoảng 8 - 8,5% tổng diện tích trồng rau; 20% diện tích trồng quả và chè Còn rất nhiều địa phương đến nay chưa đầu tư để quy hoạch vùng sản xuất an toàn; diện tích được chứng nhận đủ điều kiện sản xuất RAT toàn vùng ĐBSH mới đạt 676 ha Một trong những khó khăn trong công tác quy hoạch, chứng nhận vùng đủ điều kiện sản xuất là thiếu kinh phí phân tích mẫu đất, nước

- Thiếu hướng dẫn kỹ thuật cụ thể để áp dụng VietGAP

Nhằm tiếp tục cụ thể hoá VietGAP cho rau, quả, chè, dự án CIDA và chương trình mục tiêu quốc gia an toàn VSTP đang hỗ trợ xây dựng sổ tay hướng dẫn VietGAP trên rau, quả Các sổ tay đang được triển khai áp dụng ở một số mô hình thí điểm của dự án CIDA để hoàn thiện thêm trước khi công nhận và phổ biến rộng rãi Ngoài ra, Cục Trồng trọt đã thẩm định và ban hành quy trình sản xuất cà chua, cải bắp an toàn theo VietGAP và Quy trình sử dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất RAT Tuy nhiên, so với chủng loại cây trồng và nhu cầu sản xuất phong phú thì còn thiếu nhiều các hướng dẫn kỹ thuật cho từng đối tượng

- Một số địa phương chưa có chính sách, chương trình hoặc đề án hỗ trợ phát triển sản xuất an toàn

Đến nay, chỉ có một số tỉnh, thành phố triển khai thực hiện Quyết định số 107/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, còn nhiều địa phương chưa triển khai thực hiện hoặc có đề án nhưng cấp có thẩm quyền chưa phê duyệt nên chưa có chương trình hoặc đề án cụ thể cho việc sản xuất rau, quả, chè trên địa bàn Vì vậy, thiếu cơ chế và nguồn lực để xác định vùng đủ điều kiện cũng như xây dựng các mô hình VietGAP

- Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, trình độ sản xuất chưa cao

Thực tế cho thấy quy mô sản xuất theo trang trại, tổ hoặc nhóm hợp tác có lợi thế trong việc áp dụng và chứng nhận VietGAP Tuy nhiên, với đa số nông dân nước ta có quy mô sản xuất manh mún, sản xuất nhỏ, lẻ và không liên kết thì VietGAP thực sự là thách thức lớn đối với họ Với trình độ của đa số nông hộ còn hạn chế, chưa tạo lập được thói quen ghi chép thì đây cũng là cản trở lớn đối với việc chứng nhận VietGAP

- Công tác thông tin, tuyên truyền chưa thực sự sâu rộng

Trang 37

Nhiều người dân chưa được biệt về VietGAP, thậm chí nhận thức của các nhà quản lý, giám sát chất lượng sản phẩm trên thị trường về VietGAP cũng chưa đầy đủ

- Lợi ích kinh tế của các sản phẩm sản xuất theo VietGAP chưa rõ ràng Mặc dù đã có nhiều mô hình áp dụng VietGAP thành công nhưng do sản phẩm chưa tiếp cận với thị trường lớn và chưa được người tiêu dùng chấp nhận mua với giá cao hơn so với sản phẩm thường nên chưa tạo được lợi thế cạnh tranh về

chất lượng trong khi chi phí sản xuất cao hơn

1.2.2.2 Hiệu quả kinh tế trồng rau an toàn ở một số địa phương của Việt Nam

Việt Nam có vị trí địa lý trải dài qua nhiều vĩ độ, với đặc điểm khí hậu đa dạng, miền Bắc có đầy đủ 4 mùa xuân hạ thu đông, miền Nam chỉ có hai mùa là mùa mưa và mùa khô Các sản phẩm rau của Việt Nam rất đa dạng, hiện có khoảng trên 120 loại rau, từ các loại rau nhiệt đới như rau muống, rau ngót, rau cải, đến các loại rau ôn đới như xu hào, bắp cải, cà rốt… và cùng với các tiến bộ khoa học công nghệ các loại rau trái vụ được sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và phục vụ chế biến xuất khẩu Phát triển rau an toàn ở Việt Nam tập trung nhiều ở Lâm Đồng, Hải Dương

a Hiệu quả kinh tế trồng rau an toàn tại tỉnh Hải Dương

Thời gian qua, tỉnh Hải Dương đã có nhiều giải pháp nhằm đưa các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao vào sản xuất trong vụ đông Trong đó, mô hình trồng rau

an toàn đã mang lại hiệu quả kinh tế cao Từ đó giúp nông dân có thể làm giàu ngay trên mảnh đất quê hương mình Những thửa ruộng vừa thu hoạch ngô đang được bà con đánh luống trồng rau an toàn Diện tích gieo trồng rau an toàn năm 2016-2017, toàn tỉnh đã gieo trồng khoảng 1.350 ha Để bảo đảm đạt kết quả cao, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh khuyến cáo nông dân tập trung xuống đồng gieo trồng trong khung thời vụ tốt nhất Rau an toàn đã được người dân trong xã hiện đang là cây trồng chủ lực của tỉnh với hiệu quả kinh tế tương đối cao Năng suất bình quân hu hoạch được khoảng 1,5 tấn/sào Rau an toàn tiêu thụ rất tốt khi thương lái đến tận ruộng để thu mua, bình quân thu nhập khoảng từ sáu đến bảy triệu đồng/sào, trừ chi phí đầu tư hai triệu đồng/sào Vì vậy, bình quân với mỗi ha trồng rau an toàn thu lãi gần 112 triệu đồng/ha

Trang 38

Thời gian qua, Hải Dương xác định vụ đông là vụ sản xuất chính, mang lại phần lớn thu nhập cho nông dân ở nhiều vùng chuyên canh Do vậy, cả hệ thống chính trị và toàn ngành nông nghiệp từ tỉnh đến các địa phương đã quan tâm, chỉ đạo thực hiện kịp thời, hiệu quả Ở một số địa phương đã cơ bản hoàn thành xong việc dồn điền đổi thửa, tạo điều kiện cho việc tích tụ ruộng đất, đẩy mạnh cơ giới hóa và ứng dụng đồng bộ tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Nhiều mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về tưới tiết kiệm nước, sản xuất quy mô lớn được mở rộng Các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh cà rốt cho hiệu quả kinh tế cao, tiếp tục được duy trì và mở rộng diện tích

b Hiệu quả kinh tế trồng rau an toàn tại tỉnh Lâm Đồng

Lâm Đồng là vùng sản xuất rau hoa lớn nhất nước, trong đó rau an toàn là một trong những loại rau củ đặc sản của Đà Lạt với năng suất và phẩm chất cao hơn nhiều địa phương khác Hiện nay, tổng diện tích gieo trồng rau an toàn trên toàn tỉnh là hơn 2.200 ha Tuy nhiên, trồng rau an toàn xuất hiện trong những năm gần đây có chiều hướng gia tăng nhanh và ngày càng hiệu quả Hiệu quả sản xuất từ trồng rau an toàn tại tỉnh Lâm Đồng đã giúp các hộ nông dân không ngừng mở rộng quy mô sản xuất và phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho người nông dân

c Hiệu quả kinh tế trồng rau an toàn tại tỉnh Bắc Ninh

Số liệu thống kê của Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh cho biết về diện tích trồng rau

an toàn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn vụ đông năm 2015 - 2017 qua bảng 1.1

Bảng 1.1 Diện tích gieo trồng rau an toàn vụ đông trên địa bàn tỉnh giai

Lương Tài

2014-2015 602 47,0 254,0 257,0 34,0 - 10,0 2015-2016 845 71,0 325,0 386,0 58,0 5,0

2016-2017 1.050 95,0 384,0 485,0 80,0 - 6,0

Nguồn: Cục Thống kê Bắc Ninh năm 2017

Năng suất rau bình quân thu hoạch được khoảng 1,3-1,5 tấn/sào Các loại rau

an toàn được tiêu thụ rất tốt khi thương lái đến tận ruộng để thu mua, ngoài ra các

Trang 39

hộ nông dân đã ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm ngay từ đầu vụ, bình quân thu nhập khoảng từ 5,5-6 triệu đồng/sào, trừ chi phí đầu tư 2,5 triệu đồng/sào Vì vậy, bình quân với mỗi ha trồng rau an toàn thu lãi gần 90- trên 100 triệu đồng/ha

1.3 Bài học kinh nghiệm về sản xuất rau an toàn cho huyện Lương Tài

- Nhà nước cần ban hành đồng bộ các chính sách từ Trung ương đến địa phương, từ sản xuất đến tiêu tụ các sản phẩm rau an toàn

- Xây dựng các vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn, tính chuyên môn hóa cao, đầu tư cho khâu thu hoạch, chế biến sản phẩm…

- Thiết lập hệ thống thông tin thị trường, phổ biến cập nhật thông tin thị trường

và sản xuất trên các phương tiện thông tin đại chúng giúp các tác nhân tham gia có các quyết định chính xác trong các hoạt động của mình

- Nghiên cứu chọn tạo thêm nhiều giống mới có khả năng sinh trưởng phát triển cao, chống chịu tốt đối với nhiều loại sâu bệnh, dịch hại

Trang 40

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội huyện Lương Tài

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1.Vị trí địa lý

Huyện Lương Tài nằm ở phía Nam tỉnh Bắc Ninh, trong vùng đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp với 02 huyện của tỉnh Bắc Ninh và 02 huyện của tỉnh Hải Dương

Vị trí tiếp giáp như sau:

- Phía Bắc giáp với huyện Gia Bình

- Phía Đông và phía Nam giáp tỉnh Hải Dương (huyện Nam Sách, Cẩm Giàng)

- Phía Tây giáp với huyện Thuận Thành

Tổng diện tích tính đến 31/12/2013 của huyện Lương Tài là 10.566,57 ha với

14 đơn vị hành chính bao gồm 01 thị trấn và 13 xã Lương Tài có vị trí thuận lợi trong giao lưu và phát triển kinh tế-xã hội Trung tâm huyện cách Hà Nội và Thành phố Bắc Ninh, Thành phố Hải Dương không xa, đây là các thị trường rộng lớn, đồng thời là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và tạo cơ hội thuận lợi cho huyện tiếp thu, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, hòa nhập với nền kinh tế thị trường, phát triển thương mại dịch vụ Huyện có hệ thống các tuyến đường tỉnh lộ: 280, 281, 284, 285 nối liền với Quốc lộ 5, Quốc lộ 38, cùng với các đường huyện lộ đã hình thành nên mạng lưới giao thông đường bộ khá thuận lợi cho việc giao lưu và tiêu thụ sản phẩm để phát triển kinh tế-xã hội Giao thông đường thuỷ của Lương Tài cũng rất phát triển do có sông Thái Bình là một con sông lớn của Miền Bắc chảy qua Như vậy, với vị trí địa lý đó, huyện Lương Tài có đầy đủ điều kiện để phát huy tiềm năng đất đai cũng như các nguồn lực khác cho sự phát triển kinh tế-xã hội

2.1.1.2 Địa hình, địa chất

- Địa hình: Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên địa hình huyện Lương Tài tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Tây Bắc xuống Đông Nam, được thể hiện qua các dòng chảy mặt đổ về sông Thái Bình Mức độ chênh lệch địa hình

Ngày đăng: 21/10/2019, 08:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Thị Lan Anh (2009), Thực trạng và một số giải pháp nhằm thực hiện quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) trong sản xuất rau vụ đông của huyện Gia Lâm, Luận văn tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số giải pháp nhằm thực hiện quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) trong sản xuất rau vụ đông của huyện Gia Lâm
Tác giả: Lê Thị Lan Anh
Năm: 2009
3. Bộ Nông nghiệp & PTNT (1998), Quyết định số 67/1998/QĐ-BNN-KHKT ngày 228/4/1998 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về “Quy định tạm thời về sản xuất rau an toàn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 67/1998/QĐ-BNN-KHKT ngày 228/4/1998 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về “Quy định tạm thời về sản xuất rau an toàn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp & PTNT
Năm: 1998
13. Vũ Thị Dân (2009), Nghiên cứu hành vi ứng xử của hộ nông dân sản xuất rau an toàn của huyện Gia Lâm - Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hành vi ứng xử của hộ nông dân sản xuất rau an toàn của huyện Gia Lâm - Hà Nội
Tác giả: Vũ Thị Dân
Năm: 2009
14. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung và cộng sự (1997), Giáo trình Kinh tế nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
15. Nguyễn Thị Minh Hiền, Đinh Văn Đãn (2017), Thương mại quốc tế ngành rau, quả cảnh quan, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại quốc tế ngành rau, quả cảnh quan
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Hiền, Đinh Văn Đãn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2017
16. Nguyễn Thế Hùng (2008), Tìm hiểu rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện Gia Lâm - Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu rủi ro trong sản xuất, tiêu thụ của các hộ sản xuất rau ở huyện Gia Lâm - Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thế Hùng
Năm: 2008
17. Đỗ Thị Thanh Huyền (2006), Nghiên cứu mối quan hệ giữa các tác nhân trong kênh tiêu thụ rau an toàn của huyện Đông Anh, Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mối quan hệ giữa các tác nhân trong kênh tiêu thụ rau an toàn của huyện Đông Anh, Hà Nội
Tác giả: Đỗ Thị Thanh Huyền
Năm: 2006
20. Lê Văn Lương (2008), Nghiên cứu mối liên kết sản xuất - tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mối liên kết sản xuất - tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Hà Nội
Tác giả: Lê Văn Lương
Năm: 2008
21. Malcom Gillis (1983), Phát triển nông nghiệp bền vững, Đỗ Kim Chung dịch (2009), Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông nghiệp bền vững
Tác giả: Malcom Gillis (1983), Phát triển nông nghiệp bền vững, Đỗ Kim Chung dịch
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2009
26. Đặng Kim Sơn (2008), Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam – Hôm nay và mai sau, Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam – Hôm nay và mai sau
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
28. Trần Khắc Thi (1999), Nghiên cứu các giải pháp công nghệ và tổ chức để quản lý chất lượng rau sạch, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các giải pháp công nghệ và tổ chức để quản lý chất lượng rau sạch
Tác giả: Trần Khắc Thi
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1999
29. Trần Khắc Thi, Phạm Mỹ Linh (2007), Rau an toàn cơ sở khoa học và kỹ thuật canh tác, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rau an toàn cơ sở khoa học và kỹ thuật canh tác
Tác giả: Trần Khắc Thi, Phạm Mỹ Linh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2007
36. UBND xã Phú Lương, huyện Lương Tài, Bắc Ninh (2015 - 2017), Báo cáo kết quả sản xuất rau an toàn trên địa bàn.II. trang Web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả sản xuất rau an toàn trên địa bàn
1. Nguyễn Hồng Anh (2009), Nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật sản xuất rau an toàn đối với một số loại rau chính trên địa bàn Hà Nội Khác
4. Bộ Nông nghiệp & PTNT (2007), Quyết định số 04/2007/QĐ-BNN, ngày 29/01/2007 về việc ban hành: Quy định về quản lý sản xuất và chứng nhận RAT Khác
5. Bộ Nông nghiệp & PTNT (2007), Quyết định số 106/2007/QĐ - BNN, ngày 28/12/2007, Quy định về quản lý sản xuất và kinh doanh rau an toàn Khác
6. Bộ Nông nghiệp & PTNT (2008), Quy định về quản lý sản xuất và kinh doanh rau, quả an toàn ban hành kèm theo quyết định số 99/2008/QĐ-BNN, ngày 15/10/2008 Khác
7. Bộ Nông nghiệp & PTNT (2018), Báo cáo thực trạng về sản xuất rau an toàn trong cả nước năm 2015-2017 Khác
8. Chi cục Bảo vệ thực vật Bắc Ninh (2015 - 2017) Báo cáo tổng kết công tác bảo vệ thực vật vụ Xuân và kế hoạch bảo vệ thực vật vụ mùa Khác
9. Chi cục Bảo vệ thực vật Bắc Ninh (2015 - 2017) Báo cáo tổng kết công tác bảo vệ thực vật vụ Mùa và kế hoạch bảo vệ thực vật vụ Đông Xuân Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w