1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp rèn kỹ năng làm văn nghị luận cho học sinh khối lớp 7 ở trường THCS minh tiến

18 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 162 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn nghị luận viết ra nhằm xác lập một tư tưởng quan điểm nào đó, giúp người đọc người nghe hiểu rõ, tin tưởng và có định hướng hành động đúng đắn, trước những vấn đề về cuộc sống xã hội

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GD&ĐT HUYỆN NGỌC LẶC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP RÈN KỸ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN

CHO HỌC SINH KHỐI LỚP 7 Ở TRƯỜNG

THCS MINH TIẾN

Người thực hiện: Lê Xuân Hải Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THCS Minh Tiến SKKN thuộc môn: Ngữ văn

NGỌC LẶC, NĂM 2019

Trang 2

1 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài:

Nghị luận tức là bàn bạc, giảng giải, đánh giá cho rõ một vấn đề nào đó Văn nghị luận viết ra nhằm xác lập một tư tưởng quan điểm nào đó, giúp người đọc người nghe hiểu rõ, tin tưởng và có định hướng hành động đúng đắn, trước những vấn đề về cuộc sống xã hội, hoặc văn học nghệ thuật, muốn thế văn nghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có lý lẽ dẫn chứng thuyết phục, có nhiều cách để bàn luận, có khi là dùng bằng chứng để người ta tin tưởng hơn( chứng minh), có khi phải giảng giải đưa ra lý lẽ để hiểu cặn kẽ hơn (giải thích), cũng có khi phát biểu ý kiến của mình ( bình luận), hay chỉ ra giá trịnh của 1 tác phẩm văn học ( phân tích tác phẩm) Dù là chứng minh hay giải thích thì người viets văn nghị luận vẫn phải có những hiểu biết đầy đủ về vấn đề sẽ trình bày [1]

Làm văn nghị luận là một kiểu văn bản không có gì xa lạ trong trường THCS, loại bài này phải tự suy nghĩ, không sao chép được từ các tài liệu có sẵn

Luyện cách làm văn nghị luận là một trong những vấn đề cần được chú trọng rèn luyện cho học sinh trong chương trình ngữ văn lớp 7, 8, 9, bởi vì đây

là kiểu văn bản trọng tâm trong chương trình Ngữ văn trung học cơ sơ Vì vậy, vai trò của người giáo viên trong việc rèn luyện kỹ năng hành văn nghị luận cho các em từ lớp 7 là rất quan trọng, đòi hỏi giáo viên có tình yêu, tâm huyết với nghề, với bộ môn giảng dạy

Mỗi một kiểu bài tập làm văn trong sách giáo khoa thường sắp xếp theo trình tự nhất định

Ví dụ: Nghị luận chứng minh trong chương trình Ngữ văn 7 dành 4 bài với thời lượng là 5 tiết:

Tiết 87, 88 : Tìm hiểu chung về phép lập luận chứng minh

Tiết 91 : Cách làm bài văn nghị luận chứng minh

Tiết 92 : Luyện tập lập luận chứng minh

Tiết 100 : Luyện tập viết đoạn văn chứng minh.[2]

Nhìn vào chương trình và quá trình thực dạy, tôi nhận thấy chương trình

có hướng đổi mới đó là chú ý đến rèn kỹ năng thực hành cho học sinh để bước đầu học sinh để có thể viết được một bài văn chứng minh

Trong thực tế, việc viết bài văn của học sinh còn rất kém, nhất là văn nghị luận Đặc biệt đối với học sinh lớp 7, các em vốn đã quen với những kiểu văn tự

sự, miêu tả, biểu cảm Nên khi chuyển sang viết văn nghị luận thường là các em học sinh rất ngại, vì khó và vì thiếu vốn sống

Vì vậy tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “ Một số giải pháp rèn kỹ năng làm văn nghị luận cho học sinh khối lớp 7, trường Trung học cơ sở Minh Tiến”

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Giúp giáo viên cung cấp đầy đủ các kiến thức và kỹ năng cơ bản về kiểu bài theo chuẩn kiến thức và kỹ năng

Đảm bảo tính hệ thống về kiến thức của kiểu bài

Học sinh nắm được những kiến thức cơ bản về kiểu bài

Học sinh nắm được các bước làm bài văn nghị luận

1 3 Đối tượng nghiên cứu:

Trang 3

Một số biện pháp luyện kỷ năng làm văn nghị luận cho học sinh lớp 7A,

trường trường Trung học cơ sở Minh Tiến.

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến đoạn văn, cách lập luận, trình bày nội dung đoạn văn

Điều tra khảo sát năm bắt tình hình thực tế

Tiến hành thực nghiệm trong các tiết dạy

Trang 4

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cở sở lý luận

‘Văn học là nhân học’’[3], có nghĩa là dạy văn là dạy cách làm người.

Văn học giúp chúng ta hiểu về cuộc đời, lẽ sống, từ đó ta hiểu về mình, ta biết cảm nhận những âm vang của cuộc sống, biết thế nào là Chân, thiện, Mỹ, mà chính người giáo viên là những người giúp các em cảm nhận được những vẻ đẹp đó

Chúng ta phải nhận thức rằng văn nghị luận là một trong những kiểu văn bản rất quan trọng trong đời sống xã hội, có vai trò rèn luyện tư duy, năng lực biểu đạt, suy luận của các em giúp các em có những quan điểm đúng đắn, tư duy sâu sắc trước đời sống

Một em học sinh có năng lực nghị luận tốt thì sẽ có khả năng biểu đạt, phán đoán chính xác sự việc, sẽ tạo ra một điều kiện thuận lợi để thành đạt trong cuộc sống [4]

Do đó muốn tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh làm văn nghị luận tốt, giáo viên phải giúp học sinh nắm vững khái niệm, có quan điểm rõ ràng khi nói đến một việc, đồng thời giúp các em biết tư duy lô-gích, sử dụng thành thạo các thao tác: phân tích, tổng hợp, qui nạp, diễn dịch, so sánh, suy lý [4]

Cần phải giúp các em biết văn nghị luận phải có luận điểm, có lý lẽ, có dẫn chứng (từ thực tế văn, thơ) và có phương pháp lập luận chặt chẽ để nối kết các vấn đề, quan điểm nhỏ cùng một luận cứ để giải quyết vấn đề nào đó và đề ra lập luận lớn

Trong quá trình giảng dạy bản thân tôi nhận thấy rằng giữa giảng dạy phương pháp truyền thống hay phương pháp mới một cách riêng biệt thì nó khó đem lại kết quả cao, bài giảng vì thế có phần cứng nhắc, vì vậy khi giảng dạy bản thân tôi phải kết hợp phương pháp truyền thống và phương pháp mới trong cùng một tiết dạy để tránh sự cứng nhắc Vì thế trong những năm giảng dạy chương trình Tập làm văn cũ và chương trình mới đặc biệt là lớp 7 tôi đã đúc kết được một số phương pháp mới có liên quan đến việc giảng dạy phân môn Tập làm văn phần văn nghị luận, trong chương trình Tập làm văn lớp 7

2.2.Thực Trạng

2.2.1 Thuận lợi

Được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường, vào đầu các năm học, nhà trường bao giờ cũng khảo sát chất luợng học tập các môn Toán, Ngữ văn để phân loại học sinh, có kế hoạch bồi dưõng học sinh khá giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém, nhờ đó mà tôi có thể năm rõ được khả năng của từng học sinh để có biện pháp phù hợp

Tài liệu của nhà trường tương đối đầy đủ cho việc nghiên cứu các biện pháp về rèn kỹ năng viết văn nghị luận

Tổ chuyên môn sinh hoạt đều đặn, luôn thảo luận, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau

2.2.2 Khó khăn

Do học sinh đa số là người dân tộc mường nên việc chuẩn bị cho giờ luyện nói, luyện tập lập luận cho học sinh thường chỉ mang hình thức đối phó

Trang 5

(Cũng bởi HS trong thực tế, khả năng nói theo dàn ý còn rất hạn chế, giáo viên cũng dành chưa nhiều thời gian để tìm cách tháo gỡ những hạn chế này)

Học sinh còn lúng túng trong bài kiểm tra, các em thường dựa dẫm, lệ thuộc vào tài liệu tham khảo để viết bài gần giống với tài liệu mà không chú ý

đề văn đó yêu cầu như thế nào

Bài viết còn lan man, chưa biết xác định luận điểm chính, chưa biết chia đoạn và lập luận cho bài văn, dẫn chứng chưa sát với yêu cầu đề bài Đặc biệt, bài văn nghị luận chưa có sức thuyết phục

Các kĩ năng làm bài còn rời rạc, thiếu tính mạch lạc

Trước khi thực hiện theo biện pháp này, qua khảo sát trên đối tượng khối lớp 7 đầu năm học 2018-2019 của trường trường Trung học cơ sở Minh Tiến đã cho kết quả cụ thể như sau:

Số bài

kiểm tra

Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu Điểm kém

66 8 12,1 19 28,8 29 44 10 15,1 0 0

2.3 Các giải pháp thực hiện

Giải pháp 1 Nghiên cứu và giới thiệu về đặc điểm văn nghị luận

Đây là khâu khởi đầu có ý nghĩa quan trọng để các em được làm quen với văn nghị luận ở lớp 7, biết phân biệt điểm khác với kiểu văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm mà các em đã học ở lớp 6, 7 Hơn nữa nắm vững về văn nghị luận còn

là cơ sở để các em phát huy tích tích cực, chủ động trong quá trình làm văn nghị luận ở lớp 8, 9

Thứ nhất:

Giáo viên cần cung cấp và hướng dẫn các em học thuộc khái niệm văn nghị luận "Văn nghị luận là hiểu văn bản, trong đó người nói, người viết đưa ra những lí lẽ dẫn chứng về vấn đề nào đó và thông qua cách thức bàn luận mà làm cho người nghe (đọc) hiểu, tin, tán đồng ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề xuất Vấn đề được đưa ra gọi là "đối tượng của bài nghị luận"

Ví dụ: Đối tượng nghị luận:

Câu tục ngữ: "Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao"

Học sinh phải tìm lý lẽ, dẫn chứng để chứng minh cho người đọc hiểu, tin câu tục ngữ trên thể hiện tinh thần đoàn kết

Truyền thống đoàn kết từ xa xưa

Truyền thống đoàn kết trong hiện tại

Bên cạnh đó cần khắc sâu cho học sinh các khái niệm có tính phân cấp như Luận điểm, luận cứ (bao gồm lí lẽ và dẫn chứng), lập luận trong bài văn

Trang 6

nghị luận cũng như cách xác lập, trình bày, tổ chức chúng trong một bài văn nghị luận như thế nào để đảm bảo đặc trưng của kiểu bài và thể hiện tính mạch lạc, logic, có sức thuyết phục

VD: Có thể yêu cầu học sinh cụ thể hóa bằng một sơ đồ tư duy để ghi nhớ:

Luận điểm (vấn đề được đưa ra bàn bạc) -> Luận cứ (lí lẽ và dẫn chứng) > Lập luận (vận dụng lí lẽ dẫn chứng làm rõ vấn đề được nêu ra)

Thứ hai:

Cần hình thành cho học sinh một hệ thống đặc trưng của văn nghị luận, để

từ đó các em có thể vận dụng khi làm bài Đó là các đặc trưng sau:

Tính triết lý sâu sắc: Bài văn nghị luận nào cũng đều trình bày lí lẽ, những lí lẽ đó phải có lí, phải phù hợp đủ sức thuyết phục mọi người

Tính biện luận: Là một đặc trưng quan trọng, nghĩa là phân tích, tổng hợp, giảng giải Biện luận là quá trình nhận thức, là cách tư duy để bài văn chặt chẽ, mạch lạc Cụ thể là vận dụng lí lẽ để phân tích những dẫn chứng và qua dẫn chứng làm sáng tỏ lí lẽ đưa ra

Tính thuyết phục cao: Đây là cái đích của bài văn nghị luận Muốn vậy, các em không thể trình bày vấn đề một cách khô khan, trừu tượng Ngôn ngữ cũng cần hấp dẫn, có từ ngữ hình tượng, sức biểu cảm cao

Thứ ba:

Giới thiệu kiểu bài nghị luận xã hội mà các em sẽ học ở lớp 7

Nghị luận xã hội là nghị luận một vấn đề xã hội Vấn đề xã hội được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm mọi lĩnh vực, phương diện của đời sống xã hội như:

Chính trị, đạo đức, lối sống Nó thường được thể hiện cô đọng, súc tích trong các câu tục ngữ, danh ngôn hoặc một ý kiến, một nhận định tổng quát

Trong nghị luận xã hội, mối quan hệ giữa con người với con người là vấn

đề chủ yếu được quan tâm bàn bạc và sẽ hướng con người tới việc hoàn thiện nhân cách cao đẹp

Tôi luôn quan tâm đến việc tư duy tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh khi làm quen với bài văn nghị luận xã hội Một yêu cầu đặt ra cho người thầy là tập dượt cho các em bằng sức suy nghĩ, tìm hiểu điều người ta muốn nói

ở đó, phán đoán cái đúng sai và rút ra phương hướng hành động Sự tập dượt này nhiều lần sẽ phát triển được trí tuệ, năng lực, phương pháp tư duy hợp lí ở học sinh Qua đó, các em sẽ biết khẳng định ý kiến, biết diễn đạt, phát biểu ý kiến của bản thân bằng một lời văn mạch lạc, sáng tỏ

Ví dụ: ở bài: Luyện tập lập luận giải thích (nghị luận xã hội).

Tôi chọn đề văn trong sách giáo khoa để hướng dẫn các em luyện tập: Giải thích câu nói: "Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người"

Khi lập ý, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu: Đề bài yêu cầu giải thích điều gì? và học sinh sẽ chỉ ra được

Giải thích nội dung câu nói:

Ngọn đèn sáng là gì?

Tại sao lại gọi sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người?

Giải thích thực tế (cơ sở) của câu nói

Trang 7

Em Đinh Thị Hương Giang, lớp 7, đã biết suy nghĩ, phán đoán và khẳng đinh câu nói trên là đúng, là chân lý vì:

Sách giúp con người hiểu biết nhiều điều từ xa xưa truyền lại cho đến hiện nay

Người học rộng, tài cao viết nên những quyển sách tốt, có ý nghĩa nên nó còn nhiều giá trị ở mọi thời

Giải thích sự vận dụng của câu nói:

Câu nói đã giúp em nhận thức được bài học cho bản thân khi đọc sách: Cần chọn sách gì để đọc?

Khi đọc phải biết tiếp thu và vận dụng kiến thức ở sách

Biết nâng niu, quý trọng, giữ gìn sách

Như vậy, trong quá trình làm bài văn nghị luận, học sinh phải gắn liền hai mặt: Một mặt suy nghĩ để tìm kiếm những ý tưởng đúng đắn, phong phú Mặt khác, phải tìm kiếm ngôn ngữ diễn đạt làm cho bài văn có ý tưởng, lời văn trong sáng, thể hiện cả tình lẫn ý của các em Học làm văn nghị luận xã hội, tôi không chỉ rèn kỹ năng ngôn ngữ mà còn có mục tiêu là hướng tới xây dựng cho các em một thế giới quan, một nhân sinh quan: Biết đánh giá các hiện tượng xã hội, biết ứng xử đẹp trong mối quan hệ với người khác, biết sống có lý tưởng cao cả

Trước những đề bài nghị luận xã hội, thông thường yêu cầu học sinh phải biết suy nghĩ nghiêm túc về các vấn đề đạo đức, nhân sách con người và bồi dưỡng cho mình một nhân cách tốt đẹp hơn

Giải pháp 2 Hướng dẫn học sinh một số kỹ năng làm văn nghị luận

Để làm được bài văn nghị luận hay, đầy đủ và chính xác nội dung thì việc lập dàn ý là hết sức cần thiết

Luyện kỹ năng lập ý và lập dàn ý

Kỹ năng lập ý:

Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn theo dõi và rèn cho các em kỹ năng này Đây là khâu quan trọng trước khi đặt bút viết một bài văn Lập ý là định ra những nội dung chính sẽ trình bày trong bài văn Nó có tác dụng định hướng, tránh được các lỗi về lạc ý và thiếu ý

Tôi hướng dẫn tìm ý theo những căn cứ sau:

Thứ nhất: Căn cứ vào chỉ dẫn của đề bài: Đề bài bao giờ cũng cho biết nội dung và cách thức nghị luận

Về nội dung, đề bài chỉ rõ vấn đề cần nghị luận của bài viết gì? Có những

đề bài của những người có uy tín, của sách giáo khoa hay của chính bản thân người ra đề Như vậy, học sinh cần bám sát vào đề bài và lập được ý

Ví dụ: ở giờ viết bài tập làm văn số 5, sách giáo khoa có đề kiểm tra:

Tục ngữ có câu: "Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên nòn núi cao"

Bằng những dẫn chứng trong lịch sử trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,

em hãy chứng minh câu tục ngữ đó

Theo yêu cầu của đề ra, các em xác định được bài viết sẽ có hai phần Giải thích câu tục ngữ: Dựa vào các từ ngữ, hình ảnh (nghĩa đen) sau đó rút ra nghĩa bóng

Chứng minh:

Trang 8

Đoàn kết tạo nên sức mạnh dân tộc để xây dựng Tổ quốc.

Sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong bảo vệ Tổ quốc

Đề bài chẳng những chỉ dẫn về nội dung nghị luận mà còn chỉ ra cách thức nghị luận: Giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận Đây cũng chính là căn cứ để người viết định hướng lập ý

Như vậy, đề bài đã giúp xác định được nội dung, yêu cầu cần giải quyết

và vạch ra phương hướng triển khai bài viết một cách đúng đắn Vì vậy, tôi thường cho cả lớp đọc kỹ đề bài, chú ý tới các dữ kiện mà đề bài đưa ra Đồng thời, các em còn có thói quen xác định những vấn đề chính của đề: Nội dung, giới hạn, dạng đề, mức độ cần giải quyết

Thứ hai: Căn cứ vào kiến thức về văn học và xã hội

Để lập được ý hoàn chỉnh, nếu chỉ dựa vào đề bài thì chưa đủ mà cần phải dựa vào kiến thức về văn học và đời sống xã hội mà học sinh đã học, được đọc hoặc đã tiếp thu qua cuộc sống Bởi một đề bài dù chi tiết, đầy đủ đến đâu cũng mới chỉ giúp học sinh vạch ra được một ý lớn Muốn xác lập được các ý nhỏ ta còn phải dựa vào những kiến thức văn học như: Giảng văn, văn học sử… hoặc những kiến thức về đời sống xã hội được học trong và ngoài nhà trường Điều này càng trở nên quan trọng đối với thao tác lập ý, nhất là khi gặp đề bài không chứa đựng ý cụ thể

Ví dụ: Ở giờ luyện nói: Giải thích một vấn đề, sách giáo khoa Ngữ văn

lớp 7 tập 2, có đề văn như: Tại sao những tấn trò mà Va-ren bày ra đối với Phan Bội Châu lại được Nguyễn Ái Quốc gọi là những trò lố?

Đề bài này, người viết không gợi ra các ý lớn cho bài làm mà chỉ nêu lên những vấn đề cần giải quyết: ở hoạt động này, tôi không vội tự mình nêu trước các yêu cầu của bài làm mà tạo tâm thế chủ động để các em nhắc lại cách thức làm một bài văn lập luận giải thích để học sinh tự tìm hiểu đề Sau đó, tôi cho học sinh tự thảo luận: Với đề bài này, các em cần viết những gì? Bài viết cần phải huy động những nội dung kiến thức gì?

Như vậy, các em sẽ lập ra được ý lớn dựa vào những kiến thức sau:

Kiến thức trong đời sống: Giải thích từ "lố" và thế nào là "trò lố"

"lố": Là lố lăng, lố bịch - > "Trò lố": Những sự việc được bày ra có tính toán nhưng không che đậy được sự kệch cỡm, thô lỗ, đáng cười

Kiến thức văn học: "Những trò lố" của Va ren đối với Phan Bội Châu Vào nhà tù thăm Phan Bội Châu và nói đem tự do đến cho ông

Ca ngợi Phan Bội Châu là người có tâm hồn cao thượng

Xúi giục, khuyên bảo Phan Bội Châu từ bỏ ý chí yêu nước

Đưa ra ví dụ về những kẻ lầm lạc nhằm làm lung lay ý chí của Phan Bội Châu

Sau khi liệt kê những "trò lố" của Ve - Ren đối với Phan Bội Châu tôi cho học sinh chốt lại những kiến thức ở văn bản, uốn nắn những sai sót sau đó hướng dẫn các em đánh giá , bình luận

Em Đào Thu Hằng lớp 7A đã đánh giá:

Những "trò lố" của Ve-Ren đối với Phan Bội Châu là những trò lố bịch, dối trá, bịp bợm trắng trợn Qua đó, Nguyễn Ái Quốc muốn trực tiếp vạch trần hành động lố lăng, bản chất xấu xa của Va-Ren

Trang 9

Thứ ba: Căn cứ vào đối tượng nghị luận.

Khi lập ý, người thầy phải hướng dẫn các em từng bước: Đó là cần xác định lập các ý lớn trước Để xác định ý lớn, học sinh sẽ căn cứ vào đề bài để xác định đối tượng nghị luận Nếu đề bài có nhiều yêu cầu thì mỗi ý lớn trong bài ứng với một yêu cầu của đề bài

Ví dụ: Em hãy chứng minh ý kiến của Hoài Thanh: "Văn chương gây cho

ta những tình cảm ta không có, luyện cho ta những tình cảm ta sẵn có", bài làm

sẽ có hai ý lớn

Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có

Luyện những tình cảm ta sẵn có

Sau khi đã xác định được các ý lớn, học sinh có thể triển khai, cụ thể hoá thành những ý nhỏ Chẳng hạn, khi triển khai ý lớn thứ nhất của đề văn trên, người dạy có thể hướng dẫn các em tìm những ý nhỏ sau:

Văn chương đem đến cho tâm hồn ta những cảm xúc và những tình cảm mới mẻ mà ta chưa hề biết

Những tình cảm mà ta sẵn có nhờ văn chương mà trở nên mới mẻ, phong phú hơn

Từ đó văn chương giúp ta yêu cái đẹp

Từ văn chương, tâm hồn con người trong sáng, phong phú hơn

Kỹ năng lập dàn bài:

Lập dàn bài là sắp xếp các ý đã tìm được ở bước lập dàn ý theo trình tự hợp lí và lô gic

Mục đích của văn nghị luận là thuyết phục người đọc, người nghe đồng tình với quan điểm của mình về vấn đề đặt ra Bởi vậy, khi lập dàn bài, tôi thường rèn cho học sinh cách sắp xếp nội dung chủ yếu của bài theo một hệ thống nhất định Các luận điểm của bài viết, không bắt buộc học sinh làm theo một trình tự và không phải lúc nào cũng giống nhau Sự sắp xếp đó tuỳ thuộc vào từng trường hợp Có trường hợp các ý phải sắp xếp theo một trật tự bắt buộc

Chẳng hạn: Nếu đề bài yêu cầu giải thích và chứng minh một ý kiến thì tôi cho học sinh giải thích rõ ràng ý kiến đó rồi mới đưa ra dẫn chứng để chứng minh Song, cũng có đề văn không cần sắp xếp các ý theo một khuôn khổ, không bị ràng buộc theo một trật tự Trong trường hợp này các em phải suy nghĩ, cân nhắc, chọn một trật tự thuận lợi và thích hợp cho việc lập luận để tác động tới tư tưởng tình cảm của người đọc Thông thường, tôi thường hướng dẫn học sinh chọn cách sắp xếp từ dễ tiếp thu đến khó hơn Và bao giờ cũng luôn chú ý cho học sinh tránh cách sắp xếp lặp ý

Sau khi đã hoàn thành việc sắp xếp ý, giáo viên hướng cho học sinh chia

tỉ lệ các ý để học sinh chủ động xây dựng một bài văn cân đối, có sức hấp dẫn Trong bài văn của các em, ý trọng tâm là ý được nói kỹ, phân tích kỹ Như vậy,

ở giờ luyện tập, luyện nói về văn nghị luận, tôi luôn hướng dẫn học sinh cách tìm ý, lập dàn ý sao cho có hiệu quả nhất Vì khi lập ý và dàn ý, học sinh thường mắc một số lỗi: Lạc đề, thiếu ý, lặp ý và các ý lan man Vì vậy, người thầy biết giao bài tập cho học sinh để hình thành kỹ năng tìm ý và lập dàn ý là một khâu quan trọng trong quy trình làm một bài văn nghị luận Nhờ đó, các em sẽ có

Trang 10

được kinh nghiệm và quyết tâm cần thiết để làm bài văn nghị luận dù ở nhà hay trên lớp

Giải pháp 3: Kỹ năng viết đoạn văn trong văn nghị luận

Trong chương trình học tập Tiếng Việt – Tập làm văn ở THCS việc lập luận trong đoạn văn được đặt ra như một kĩ năng cần phải rèn luyện Kĩ năng này có thể được luyện ngay trong một câu, một số câu, một đoạn văn hay trong

cả một bài văn Tuy vậy, trong câu do dung lượng không lớn nên việc lập luận đơn giản, thường chưa thể hiện đầy đủ bản chất Còn trong một đoạn văn, một văn bản hoàn chỉnh, việc lập luận sẽ phong phú đa dạng hơn Do đó việc hình thành kĩ năng lập luận trong đoạn văn cho học sinh là điều rất quan trọng

Kỹ năng viết mở bài:

Mở bài trong văn nghị luận là phần đặt vấn đề, giới thiệu vấn đề sẽ được bàn luận trong bài văn Nó có tác dụng tạo không khí ban đầu, lôi cuốn sự chú ý của người đọc đối với vấn đề cần nghị luận Vậy khi đọc bài của học sinh chúng

ta phải quan tâm xem các em viết gì?

Thứ nhất: Cần phải nêu đúng vấn đề đặt ra trong bài Nếu đề bài đưa ra một ý kiến, một nhận định nào đó, yêu cầu học sinh giải thích, chứng minh thì tôi thường yêu cầu các em dẫn dắt trích nguyên câu nói, ý kiến đó vào phần mở bài

Thứ hai: Phần mở bài chỉ được nêu những ý khái quát, gợi mở không được "lấn sân" sang nội dung thân bài

Thứ ba: Hướng dẫn học sinh viết phần mở bài theo những cách khác nhau:

Mở bài trực tiếp: Đi thẳng vào vấn đề chứng minh, đề bài yêu cầu chứng

minh vấn đề gì thì viết luôn vấn đề đó Cách này ngắn gọn, đúng vấn đề nhưng

dễ khô khan

Mở bài gián tiếp:

Không đi thẳng vào vấn đề chứng minh mà dẫn dắt vấn đề bằng nhiều cách như: Nêu xuất xứ của vấn đề chứng minh; Đưa ra một so sánh (có nội dung tương đương); nêu lý do đưa đến bài viết

Ví dụ: Cho đề bài:

Một nhà văn nói: "Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người"

Em hãy giải thích nội dung câu nói trên?

Tôi chia học sinh thành các tổ, mỗi tổ viết theo một cách mở bài khác nhau, sau đó cho đại diện mỗi tổ đọc trước lớp Học sinh cùng giáo viên nhận xét sửa lỗi cho mỗi cách mở bài Cuối cùng tôi khắc sâu lại cách viết mở bài cho các em Trong thực tế, khi làm văn nghị luận, học sinh có thể kết hợp các kiểu

mở bài trên thành một kiểu hỗn hợp Dù các em viết theo lối nào, giáo viên phải luôn nhắc nhở các em tránh lỗi viết dài dòng, lan man khiến phần mở bài không sát với đề ra

Kỹ năng viết kết bài:

Kết bài là kết thúc vấn đề Nó có tác dụng tóm tắt toàn bộ bài viết đồng thời mở rộng nâng cao vấn đề

Đối với phần kết bài, giáo viên yêu cầu học sinh thể hiện đúng mạch văn

đã trình bày ở phần thân bài và phần mở bài

Ngày đăng: 21/10/2019, 08:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w