1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số phương thức khai thác nghệ thuật ngôn từ trong việc dạy học văn ở trường THCS bùi xuân chúc xã điền quang huyện bá thước

20 162 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 197,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN BÁ THƯỚC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC KHAI THÁC NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ TRONG VIỆC DẠY HỌC VĂN Ở TRƯỜNG THCS BÙI X

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN BÁ THƯỚC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC KHAI THÁC NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ

TRONG VIỆC DẠY HỌC VĂN Ở TRƯỜNG THCS BÙI XUÂN CHÚC XÃ ĐIỀN QUANG HUYỆN BÁ THƯỚC

Người thực hiện: Nguyễn Hoàng Anh

Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường THCS Bùi Xuân Chúc SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ Văn

Trang 2

THANH HÓA, NĂM 2019

MỤC LỤC

2.3.1 Giải pháp 1: Cách thức lựa chọn yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật 7 2.3.1.1 Biện pháp 1: Lựa chọn yếu tố ngôn từ then chốt 7 2.3.1.2 Biện pháp 2: Lựa chọn yếu tố nghệ thuật được lặp lại nhiều lần 8 2.3.1.3 Biện pháp 3: Lựa chọn yếu tố hình thành ra thế đối lập 11 2.3.2 Giải pháp 2: Một số phương thức khai thác ngôn ngữ nghệ thuật 12 2.3.2.1 Biện pháp 1: Phương pháp dựa vào văn cảnh 13

2.3.2.3 Biện pháp 3: Phương pháp định nghĩa khái niệm 15

Trang 3

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Môn ngữ văn trong nhà trường THCS có một vị trí rất quan trọng Nó cung cấp cho các em những hiểu biết cơ bản về tác phẩm văn học, bồi dưỡng cho các

em những tư tưởng, tình cảm cao đẹp, rèn luyện cho các em lối tư duy khoa học,

sự suy nghĩ, chủ động sáng tạo trong cuộc sống cũng như trong học tập Việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, và đổi mới phương pháp dạy học văn nói riêng nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, giúp học sinh hướng tới việc học tập, chủ động chống lại thói quen học thụ động Các em chỉ thực sự nắm vững cái mà chính các em đã dành được bằng hoạt động của bản thân mình trong đó các em đã phải có những cố gắng về trí tuệ bởi: “ Văn học là nhân học” Văn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và sự phát triển tư duy của con người

Môn ngữ văn trong nhà trường cung cấp cho học sinh vốn tri thức thuộc lĩnh vực xã hội Vậy mà hiện nay học sinh có xu hướng xem nhẹ việc học những môn xã hội nói chung, môn Ngữ Văn nói riêng Các em không say mê yêu thích học văn Những bài thơ hay, những câu chuyện bổ ích không dễ gì đi vào lòng người Chính vì thế lại càng đòi hỏi người giáo viên - giáo viên ngữ văn phải có phương pháp dạy học có hiệu quả để các em có ý thức tốt học văn, có kĩ năng làm một bài văn ở mỗi thể loại

Kiếm tìm các phương thức, các con đường để hoạt động Dạy văn - Học văn

có hiệu quả hơn, lí thú hơn đã và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của giáo viên dạy văn, khoa học dạy văn

Làm thế nào để trả lại cho văn học đúng với đặc trưng là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đã trở thành một thách thức, niềm say mê sáng tạo đối với những

giáo viên đã coi “dạy văn - học văn là một niềm vui sướng ”.

Chính vì những lí do nêu trên tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Một số phương thức khai thác nghệ thuật ngôn từ trong việc dạy văn, học văn ở trường THCS Bùi Xuân Chúc xã Điền Quang huyện Bá Thước”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở thực tiễn dạy học môn ngữ văn ở trường THCS Bùi Xuân Chúc

đề xuất các biện pháp Một số phương thức khai thác nghệ thuật ngôn từ trong

Trang 4

việc dạy văn học văn ở trường THCS Bùi Xuân Chúc xã Điền Quang huyện Bá Thước

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Một số phương thức khai thác nghệ thuật ngôn từ trong việc dạy văn, học văn ở trường THCS Bùi Xuân Chúc xã Điền Quang huyện Bá Thước

Đối tượng học sinh học môn ngữ văn là các em học sinh ở lớp 6,7,8,9 ở

độ tuổi 11 đến 15 đây là đối tượng bắt đầu chuyển từ tiểu học lên trung học và lần đầu làm quen với những khái niệm, các thể loại văn học vì thế mà các em không thể tránh khỏi những lúng túng ban đầu Nhất là ở lứa tuổi này khả năng

tư duy lo gíc chưa cao, các em còn nặng về tư duy hình tượng Nhưng khó khăn nhất là vốn hiểu biết của các em chưa nhiều, các em chưa được chuẩn bị về lí luận và kiến thức về văn học nghệ thuật

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp quan sát: Quan sát là việc con người sử dụng các giác quan

để thu thập dữ liệu, số liệu

Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp tích cực: Là phương pháp hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Thực chất của phương pháp tích cực đòi hỏi người dạy phải phát huy tính tích cực chủ động của người học

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Nói đến văn chương là nói đến nghệ thuật của ngôn từ, Trong đó, nhà văn

là “người nghệ sĩ ngôn từ” Như MacximGoocki đã khẳng định “Từ là yếu tố quan trọng nhất của văn học”[6].

Là chất liệu để xây dựng nên những hình tượng nghệ thuật, ngôn từ đã thể hiện tập trung, sinh động nhất cá tính sáng tạo của nhà văn, tài năng của nhà

văn Banzac - Nhà văn hiện thực vĩ đại của nước Pháp đã từng nói: “Thiên tài ở

chỗ dùng từ xác đáng”.

Lao động của người nghệ sĩ ngôn từ có khác nào “Người phu chữ” khai thác

“chất hiếm radium” trong “hàng tân quặng ngôn từ” (chữ dùng của Maiacopxki)

[6]

Trang 5

Nguyễn Tuân - người được xem là bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ đã nói

rất thật, rất hay, rất thấm thìa cái khổ công của người luyện chữ : “Đêm thanh vắng còn gì dễ sợ bằng trang giấy cứ trắng nguyên cho tới gần hết đêm Thấy nguyền rủa bè lũ hình tượng chữ nghĩa nó hè nhau từ giã mình, mình bổng chốc

là kẻ cùng đường bên sông chữ quạnh vắng thê lương”[1].

Đến với ngôn ngữ thơ ca “Một sáng tạo kỳ lạ nhất của nhân loại”

(M.goocki) [3], không thể không trở lại với ngọn nguồn nảy sinh sáng tạo ngôn

từ của nhà văn để khai thác, thẩm bình cái hay cái đẹp của văn Thoát ly yếu tố

ngôn ngữ sẽ dẫn đến việc suy diễn vu vơ, “tán” văn huyên thuyên, lảm nhảm

hoặc sa vào nội dung xã hội hóa dung tục, guợng gạo, đơn điệu, mờ nhạt, khô khan

Như vậy, chữ nghĩa trong tác phẩm văn chương nói với ta sự thật về cái

“tâm” cái “tài” của nhà văn trước hiện thực cuộc sống? Lẽ nào dạy văn học văn

lại xem nhẹ, bỏ qua điều đó?

2.2 Cơ sở thực tiễn:

- Tình hình địa phương: Xã Điền Quang, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh

Hoá là một xã miền núi thuộc vùng 135 – xã đặc biệt khó khăn , trong đó huyện

Bá Thước thuộc 62 huyện nghèo của cả nước, kinh tế còn thấp kém, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Với 1790 hộ dân và 6966 nhân khẩu có tới trên 70% lao động sống bằng nghề nông nghiệp, còn lại có thêm nghề trồng rừng, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ

Nhìn chung, cuộc sống của người dân còn quá vất vả, tỉ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới hiện nay là 33,66% Trình độ dân trí vì thế cũng còn nhiều hạn chế, tuy nhiên các phong trào văn hoá văn nghệ, sinh hoạt quần chúng cũng được người dân quan tâm Công tác an ninh quốc phòng tương đối ổn định

- Thực trạng của việc dạy học văn ở trường THCS Bùi Xuân Chúc

Chúng ta thấy không ít các bài làm của học sinh những thiếu hụt cơ bản, những suy diễn dung tục méo mó về tính nghệ thuật của văn chương hay trong các bài giảng của giáo viên chỉ là những cố gắng để ỵ đưa đến nhận định, đánh

giá chung chung về giá trị tác phẩm mà ta có thể “lắp ráp” trong nhiều tác

phẩm văn chương khác nhau

Trang 6

Với cách dạy văn học văn như thế, cái đẹp, cái lý thú của chữ nghĩa văn

chương đã trở nên “khô xám”, “chết cứng” trên trang giấy Nó dẫn đến thực tế

không thể phủ nhận là học sinh ngại học văn, Trong khi đó, thực ra môn văn phải là môn học gần gũi nhất, có ưu thế đặc biệt trong việc huy động và thức dậy những tri thức về con người, cuộc sống, để lại những rung động tinh tế, lâu bền nhất trong tâm hồn mỗi học sinh

Và cũng do sự quan tâm chưa đúng mức đến việc giảng bình, thưởng thức,

cắt nghĩa cái thực, cái đúng, cái hay, cái sáng tạo độc đáo của ngôn từ mà nhiều bài làm của học sinh đã làm ta cười “bể bụng”, vì sự kém cỏi suy diễn, ngô nghê thậm chí rất kém khi làm văn trong các bài văn “trường ốc” như cảm thụ

bình giá thơ ca, viết bài văn, đoạn văn phân tích tác phẩm trong những kì thi tốt nghiệp THCS, thi vào lớp 10 PTTH, vào trường PTTH chuyên Lam Sơn

Nhận thức của học sinh về học môn ngữ văn năm học 2017 – 2018 Lớp Sĩ

số

Điểm

9 - 10 7 - 8,5 5 - 6,5 3 - 4,5 0 - 2,5

Bên cạnh những mặt yếu cùng với nhiều khó khăn , song các em ở trường THCS Bùi Xuân Chúc cũng có nhiều yêu điểm đáng khích lệ, các em đang ở độ tuổi hiếu động, thích tìm tòi tranh luận, trường lại có bề dày về thành tích học tập, đó là cơ sở để thúc đẩy các em học tập tốt

Mặt khác xét về đặc thù bộ môn nên bắt đầu từ đâu để khắc phục thực

trạng trên? Có lẽ không nằm ngoài việc kiếm tìm, “tạo lập con đường đến với văn và thực hành văn” mà nhà giáo - nhà khoa học Đỗ Kim Hồi đã nêu rõ trong tài liệu chỉ đạo “Đổi mới dạy học bộ môn văn trong trường trung học” Đó là

khai thác nghệ thuật ngôn từ

Quán triệt và từng bước thực hiện đổi mới dạy học môn văn, đưa “Sức mạnh kỳ diệu của môn văn vào tới tâm hồn học sinh” thông qua cách thức làm

việc bằng hệ thống bài tập, hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong các giờ giảng văn,

Trang 7

thực hành tiếng Việt là những nội dung cách thức chủ yếu của chúng tôi để

“giảng cho trúng, để được học cho trúng” [2].

Với phương trâm “bám lấy ngôn từ” để “Nhận thấy được cái nhịp đập của trái tim cái hơi thở của tâm hồn, cái chất sống thực của nhà văn”[4] mà Đái

Xuân Ninh đã đề cập đến trong cuốn Phương pháp giảng văn dưới ánh sáng của

ngôn ngữ học hiện đại, chúng tôi đi sâu vào vấn đề: Khai thác nghệ thuật ngôn

từ trong mối quan hệ gắn bó cảm hứng sáng tạo, sự lựa chọn ngôn ngữ của tác

giả và vốn sống của học sinh

Trên cơ sở đó, trả cho học sinh tư cách bạn đọc trong sự nhận thức, tự bộc

lộ mình đánh giá thưởng thức vẻ đẹp của ngôn ngữ văn chương trong thể loại thơ trữ tình

Vì lẽ như trên, trong phạm vi đề tài này, chúng tôi đi vào 2 vấn đề

Một là: cách lựa chọn vếu tô ngôn ngữ nghệ thuật

Hai là: một số phương thức khai thác ngôn ngữ nghệ thuật

Trong đó, những vấn đề và ví dụ thực tiễn chủ yếu được rút ra từ chương trình văn học hiện đại lớp 8, lớp 9 trong trường THCS

Đối tượng nghiên cứu và áp dụng: Là học sinh ở hai diện: Lớp có học lực trung bình và lớp yếu trong năm học 2016 – 2017

Năm học 2017 – 2018 tôi và một số đồng chí cùng trong bộ môn trao đổi,

thống nhất áp dụng một số phương thức khai thác nghệ thuật ngôn từ trong việc

dạy văn học văn ở các khối lớp diện trung bình và yếu có so sánh đối chiếu với

lớp có mức độ học lực trung bình và khá tiến hành theo cách học lâu nay vẫn áp dụng

Mặt khác trong các năm học gần đây theo yêu cầu của chuyên môn, chúng tôi đã nắm bắt sự triển khai theo tinh thần chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo về môn Ngữ văn, chúng tôi đã tổ chức các chuyên đề Từ đó tôi mạnh dạn đề xuất, thảo luận một số ứng dụng trong khi dạy môn Ngữ văn ở các khối lớp

Riêng những phần nêu dưới đây chúng tôi đã dạy thử nghiệm ở một số đồng chí giáo viên trên lớp và sinh hoạt tổ, nhóm cặn kẽ, trao đổi cụ thể từng bước soạn và lên lớp áp dụng cho một số lớp năm học 2017 – 2018 Chính kết quả thu được đại trà ở các khối lớp đã khích lệ tôi trình bày đề tài này:

Trang 8

2.3 Các giải pháp tổ chức thực hiện

2.3 l Giải pháp 1: Cách lựa chọn yếu tô ngôn ngữ nghệ thuật.

Khả năng nghệ thuật của ngôn từ là vô cùng to lớn Nó vừa có tính cụ thể vừa có tính khái quát để xây dựng nên những hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan trong quá trình nhận thức và tái hiện cuộc sống của người nghệ sĩ Tính hình tượng được biểu hiện rất đa dạng trong nhiều cấp độ khác nhau (cấp độ từ vựng - cấp độ ngữ âm - cấp độ cú pháp)

Ta dễ dàng nhận thấy trong một tác phẩm văn chưong không phải câu nào cũng hay, từ nào cũng đắt, cũng đủ thời gian để đáng nói, đáng phân tích Vì thế, việc làm đầu tiên là phải biết lựa chọn yếu tố để phân tích

2.3.1.1 Biện pháp 1: Lựa chọn yếu tô then chốt:

Yếu tố then chốt là yếu tố có giá trị chủ đề thể hiện tư tưởng, tình cảm của bài vãn, chi phối các yếu tố ngôn ngữ khác mà người ta thường nói đó là câu

“thần” chữ “mắt”

Người giáo viên khi tiến hành các thao tác giảng văn phải tìm ra chìa khoá,

để giải mã tín hiệu nghệ thuật trung tâm ấv và chỉ ra linh hồn sức sống trong tác phẩm văn chươngcủa người nghệ sĩ

Ở bài thơ “Không ngủ được” (cũng như nhiều bài thơ tứ tuyệt Đường luật

của tập thơ Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh) yếu tố then chốt làm nên linh

hồn sức sống là câu thơ cuối: “Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”.

Câu thơ chất chứa trong nó sức nặng, sức toả sáng vút lên bất ngờ, của nỗi

niềm đất nước sâu sắc trong cõi lòng người tù vĩ đại Cái “Thức” trong “Mộng”

ấy để lại những dư ảnh đẹp đẽ ngời sáng trong lòng người đọc

Hình tượng thơ: “Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh” bừng nở, toả sáng,

sự thăng hoa của cảm xúc Từ đó, mạch vận động của bài thơ chuyển tự nhiên từ hiện thực đến lãng mạn bay bổng rất tự nhiên bất ngờ lý thú Cũng ở đó chất cổ điển và tinh thần hiện đại, tinh thần hướng ra ánh sáng hướng đến sự sống đã bộc lộ một cách tập trung sâu sắc

Còn trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”, yếu tố then chốt không phải chỉ

là một hai từ, mà là tập hợp trong đó mỗi yếu tố chất chứa xúc cảm của nhà thơ trước hình tượng mùa xuân thiên nhiên, hình tượng mùa xuân đất nước và hình

tượng mùa xuân của tấm lòng: Đó là “Bông hoa tím” mọc giữa dòng sông xanh;

Trang 9

“tiếng hót rơi long lanh” đọng từng “giọt” “đưa tay tôi hứng”; đó là mùa xuân mfười câm súng, người ra trận mang “Lộc” về cho đất nước; đó là ước nguyện được làm “con chim” “cành hoa”, “nốt nhạc trầm” để làm nên “một mùa xuân nho nhỏ” dâng tặng cho cuộc đời, cho đất nước, cho quê hương.

Khi giảng, cần tập trung cắt nghĩa, khám phá giá trị của những yếu tố nghệ thuật ấy đồng thời chỉ ra mối liên hệ, sự phát triển tự nhiên, bất ngờ mà sâu sắc, hợp lý giàu ý nghĩa của chúng Từ đó, sẽ giúp học sinh rõ hơn về nguồn cảm xúc nảy sinh sáng tạo và cách thức tổ chức kết cấu phát triển hình tượng mùa xuân qua mỗi đoạn thơ

2.3.1.2 Biện pháp 2: Lựa chọn những yếu tố được lặp lại nhiều lần:

Yếu tố được lặp lại có giá trị tổ chức, hình thành nên cấu trúc, tạo tính nhạc

“lời hát con tim” của văn bản nghệ thuật Yếu tố được lặp lại thường là “Yếu tố

then chốt còn ấm máu nóng của trí óc và đậm hoi thở của trái tim” Đó chính là

“đầu môi của cảm xúc nghệ thuật, nơi gắn bó giữa hình thức và nội dung” [4] Trong một tác phẩm yếu tố lặp lại thường diễn tả một hình tượng tâm tư và

chuyển đổi theo quy luật của cảm xúc “Hãy đập vào trái tim anh, thiên tài là ở đó” (AMUYXÊ) [1].

Phát hiện ra những yếu tố lặp lại, chỉ ra mối liên hệ và ý nghĩa của chúng sẽ giúp học sinh cắt nghĩa được ý nghĩa cuả hình tượng thơ, sự chọn lựa và tổ chức ngôn phẩm của nhà văn Học sinh nắm bắt được thân thái của tác phẩm

Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận là một bài thơ hay, là một kết

quả rung động mãnh liệt của nhà thơ không khí khẩn trương, đầy hứng khởi của người lao động làm chủ Huy Cận đã lựa chọn ngôn từ, tổ chức kết cấu vừa chặt chẽ (theo trình tự thời gian) vừa sáng tạo tinh tế trong việc tái hiện hình ảnh thiên nhiên đẹp lộng lẫy như những bức tranh sơn mài và hình tượng con người say sưa, nhiệt tình lao động Bài thơ dài (7 khổ) chỉ được giảng trong 45 phút Làm thế nào học sinh có thể hiểu, vẫn cảm được cái hay cái đẹp của bài thơ?

Chúng tôi đã xác lập một trong những con đường “ngắn nhất”, mang tính

hiệu quả cao để phân tích bài thơ như sau:

Chúng ta nhận thấy “Đoàn thuyền đánh cá” có rất nhiều hình ảnh, từ ngữ

được lặp lại Giữa chúng lại có mối liên hệ và chi phối, đem đến hiệu quả nhất

định trong sự thể hiện chủ đề bài thơ Để phát hiện vấn đề đem ra giảng là “Vấn

Trang 10

đề lúc đó học sinh chưa biết”[2] chúng ta cần lựa chọn mấy đơn vị nghệ thuật

được lặp đi lặp lại sau đây:

Thứ nhất: từ “hát” được lặp đi lặp lại mấv lần và diễn tả điều gì? (lặp 4 lần

và diễn tả tâm hồn phơi phới, say sưa nhiệt tình của người lao động ngân vang mênh mang giữa sóng nước, giữa trăng cao biển rộng)

Thứ hai: Hình ảnh “Mặt trời” trong câu mở đầu và kết thúc:

+ Mặt trời xuống biển như hòn lửa + Mặt trời đội biển nhô màu mới

Có gì giống và khác nhau? Qua đó giúp ta cảm nhận điều gì về vẻ đẹp của thiên nhiên và vẻ đẹp người lao động?

Thứ ba: Tìm các từ ngữ chỉ màu sắc trong bài thơ và nói rõ ý nghĩa của chúng

+ Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng + Cá song lấp lánh đuốc đen hồng + Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé + Vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông + Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng

(Các từ ngữ chỉ màu sắc chủ yếu để tả sắc màu của cá Điều đó đã diễn tả sắc màu rực rỡ lung linh nhu bức tranh sơn mài của biển cả trong đêm trăng thơ mộng Những hình ảnh được xây dựng bằng liên tưởng kỳ thú độc đáo Bút pháp lãng mạn đã chắp cánh cho sự bay bổng của lời thơ và thể hiện tài năng sáng tạo của Huy Cận trong việc miêu tả thiên nhiên và con người)

Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, từ “Mùa xuân” được dùng theo

nghĩa bóng và được lặp đến 3 lần? Đó là những câu nào? Nhưng có gì khác nhau qua mỗi dòng thơ và điều đó có ý nghĩa gì?

+ Mùa xuân người cầm súng + Mùa xuân người ra đồng + Một mùa xuân nho nhỏ

Và trong khổ thơ khổ thơ thứ hai, từ “Lộc” được dùng theo nghĩa bóng và lặp đến 2 lần? Vì sao có thể viết “Lộc xuân giắt đầy quanh lưng người cầm súng và Lộc xuân trải dài nương mạ.” ? Viết như vậy đã gợi lên những liên

tưởng gì trong lòng người đọc?

Ngày đăng: 21/10/2019, 08:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w