1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng viết văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ để nâng cao hiệu quả cho học sinh lớp 9 THCS thị trấn cành nàng

25 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 412,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN 32.3.1 Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm vững khái niệm; các yếu tố nội dung và hình thức nghệ thuật cần chú ý khi làm bài văn nghị luận

Trang 1

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN 3

2.3.1

Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm vững khái niệm; các

yếu tố nội dung và hình thức nghệ thuật cần chú ý khi

làm bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ

Trang 2

PHỤ LỤC 23

Trang 3

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Ngữ văn là môn học có vai trò vô cùng quan trọng trong chươngtrình Trung học cơ sở (THCS) nói riêng và chương trình PTTH nói chung.Bởi nó mang tính chất thực hành tổng hợp giữa các phần: Tập làm văn-Tiếng Việt và phần Đọc – hiểu văn bản Mỗi bài tập làm văn ra đời lànhững sáng tác đầu tay của học sinh, là kết quả của sự tổng hợp kiến thức

đã học về lý thuyết làm văn; về kiến thức văn học; về những quan sát, cảmnhận đối với cuộc sống tự nhiên, xã hội xung quanh; về kĩ năng sử dụngngôn từ để diễn đạt

Trong phần Tập làm văn, kiểu bài nghị luận nói chung và nghị luận

về đoạn thơ, bài thơ nói riêng vốn được xem là rất khó đối với cả ngườidạy và người học Bởi vì thơ là điệu nhạc của tâm hồn, là kết tinh tiếnglòng người nghệ sỹ, biểu hiện trong ngôn từ nghệ thuật đặc biệt Có nghĩarằng đặc trưng của thơ là tính cô đọng, hàm xúc và tinh tế Hiểu được thơ,cảm được thơ không dễ, tìm lời giải cho thơ lại càng khó Khi làm kiểu bàinày, ngoài kiến thức đòi hỏi học sinh phải có cảm nhận tinh tế, có sự rungđộng của trái tim để từ đó tạo nên những cảm xúc trào dâng lên đầu ngòibút Bên cạnh đó một yếu tố không thể thiếu được để có một bài văn thànhcông đó chính là những kỹ năng hành văn của các em

Trong thực tế, theo kế hoạch giáo dục nhà trường (còn gọi phânphối chương trình) môn Ngữ văn ở các khối lớp từ 6 đến 8, các em đãtiếp cận một lượng văn bản thơ không nhỏ xong không có thời lượng chothực hành, chủ yếu được giáo viên lồng ghép trong các bài giảng văn bản

Vì vậy, nhận thức về kiến thức tạo lập văn bản rất mờ nhạt, học sinh chưahiểu được khái niệm kiểu bài, thể loại, chưa định hình việc tạo lập văn bảnnghị luận thơ là gì Đến Ngữ văn 9, số tiết dành cho nghị luận về thơ rất ít(4 tiết) Trong đó có một tiết dành cho lý thuyết, số tiết dành cho thực hànhviết nghị luận về thơ rất khiêm tốn (1tiết), luyện nói (2tiết) Số tiết họcgiảng văn bản thơ tới 19 tiết, chênh lệch lí luận và thực hành rất lớn Dovậy, học sinh rất khó nắm bắt được kĩ năng viết nghị luận về đoạn thơ, bàithơ và điều đó đồng nghĩa hiệu quả viết dạng bài này chưa cao Hiện tại kĩnăng viết bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ của học sinh còn nhiều hạnchế, nhưng trong quá trình dạy học chưa có tài liệu nghiên cứu nào bàn sâuđến vấn đề này, đồng nghiệp, nhà trường chưa có những biện pháp thiếtthực để giải quyết khắc phục

Thực tế, trong nhiều năm qua, qua việc giảng dạy văn nghị luận vềđoạn thơ, bài thơ, cá nhân đã tìm tòi, đúc rút kinh nghiệm và đã đạt đượcnhững kết quả khả quan Vì vậy, tôi xin trao đổi về kinh nghiệm của cá

nhân: “Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng viết văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ để nâng cao hiệu quả cho học sinh lớp 9 THCS Thị trấn Cành Nàng” nhằm nâng chất lượng dạy học Ngữ văn lớp 9 THCS để các đồng

nghiệp cùng tham khảo

Trang 4

1.2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của tôi khi thực hiện đề tài này nhằm góp phần củng cố

kĩ năng tạo lập văn bản, kĩ năng viết tốt bài văn nghị luận về đoạn thơ, bàithơ, nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn lớp 9 trường Trung học

cơ sở thị trấn Cành Nàng; từ đó nâng cao kết quả thi vào 10 Trung học Phổthông và kết quả thi học sinh giỏi các cấp Hơn nữa, Ngữ văn nói chung,phần tập làm văn nói riêng từ lâu đã là môn học khiến nhiều học sinh ngạihọc, ngại viết Việc rèn kĩ năng làm văn nghị luận về tác phẩm thơ sẽ gópphần giúp các em tháo gỡ những vướng mắc, xoá đi mặc cảm ngại học văn, tạo cho các em tình yêu đối với môn học.

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Trong sáng kiến kinh nghiệm này, tôi chỉ nghiên cứu ở lĩnh vực nhỏ

của văn nghị luận đó là: “Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng viết văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ để nâng cao hiệu quả cho học sinh lớp 9 THCS Thị trấn Cành Nàng” Cụ thể đó là:

- Kĩ năng phát hiện và phân tích những tín hiệu thẩm mỹ của tác phẩm thơ

- Kĩ năng hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ tư duy

- Kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý

- Kĩ năng lập dàn ý

- Kĩ năng viết các phần, các đoạn từ dàn ý

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết

1.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin

1.4.3 Phương pháp phân tích, chứng minh

1.4.4 Phương pháp so sánh đối chiếu

1.4.5 Phương pháp trực quan

2 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Trong Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của

Đảng nêu rõ: “Đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng coi

trọng việc phát triển năng lực tự học của học sinh, lấy học sinh làm trungtâm, người học năng động, sáng tạo dưới sự dẫn dắt của giáo viên, coitrọng rèn luyện kĩ năng thực hành” [1] Đây là định hướng cơ bản thiếtthực đối với mỗi giáo viên trong đó có giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn BộGiáo dục và Đào tạo cũng hướng dẫn giảng dạy môn Ngữ văn theo quanđiểm này “Trọng tâm của việc rèn luyện kĩ năng Ngữ văn cho học sinh làlàm cho học sinh có kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt khá thành thạotheo các kiểu văn bản ” [2] Như vậy, bên cạnh việc cung cấp tri thức thìviệc hình thành các kỹ năng là yêu cầu đặt ra đối với bộ môn Ngữ văn đòihỏi người giáo viên ngoài vốn kiến thức cơ bản còn phải có sự đầu tư, rèngiũa cho học sinh, tạo điều kiện để các em có nhiều cơ hội thực hành tạolập văn bản đặc biệt là văn bản viết

Trang 5

Nghị luận về tác phẩm văn học nói chung, tác phẩm thơ nói riêng làmột kiểu bài có vị trí quan trọng trong chương trình Tập làm văn lớp 9.Căn cứ vào tài liệu chính thống trong nhà trường từ: Sách giáo khoa; Tàiliệu chuẩn kiến thức, kĩ năng; Sách giáo viên Ngữ văn 9 đã cung cấp chohọc sinh những kiến thức lí luận chung cách nghị luận về đoạn thơ, bài thơnhư: khái niệm, yêu cầu, các bước làm bài, nhiệm vụ từng phần theo bốcục bài văn Đó chính là những cơ sở lí luận có tác dụng định hướng choviệc giảng dạy Tuy nhiên, những bài viết ấy còn mang tính chất lí thuyếtchung, chưa cụ thể, hoặc chưa phù hợp với sự tiếp nhận của học sinh địaphương Việc rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ cònnhiều hạn chế, các em chưa có nhiều thời gian cho việc rèn luyện những kĩnăng cơ bản để viết văn Đây chính là vấn đề mà người giáo viên văn phảichủ động, linh hoạt trong việc vận dụng phương pháp phù hợp trong giảng dạy.

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.2.1 Thực trạng

Từ thực tế giảng dạy môn Ngữ văn, đặc biệt là trực tiếp giảng dạymôn Ngữ văn 9 phần văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ, tôi nhận thấy thực

tế dạy và học của giáo viên và học sinh như sau:

2.2.1.1 Về phía người dạy

Qua tìm hiểu các đồng nghiệp ở các trường trong huyện, tôi thấy

nhiều giáo viên đã có sự tìm tòi, nghiên cứu tìm ra những phương pháp tối

ưu trong dạy học văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ Tuy nhiên vẫn cònmột số vấn đề tồn tại sau:

Một số giáo viên còn xem nhẹ, chưa chú ý đến việc rèn cách viếtvăn cho học sinh Nhiều tiết dạy còn mang tính chất áp đặt về lí thuyết,chưa thực sự hướng dẫn học sinh luyện tập, rèn kỹ năng làm bài, chưa bắttay chỉ việc cụ thể đến từng học sinh Giáo viên chỉ chú trọng đến việccung cấp dàn bài chi tiết, học sinh chỉ việc dựa sẵn vào dàn ý đó mà viếtbài, như vậy giáo viên không phát huy được khả năng tư duy của học sinh,các bài viết giống nhau và cảm xúc thiếu chân thực với vấn đề nghị luận

Trong các tiết trả bài văn còn nặng về trình bày lại đáp án, chưathực sự chỉ ra nguyên nhân mắc lỗi, cách sửa lỗi, không phê (hoặc phêchung chung) vào bài, chưa nhận xét cụ thể ưu điểm, nhược điểm trong bàilàm của học sinh nên các em chưa nhận thấy được ưu điểm cũng như hạnchế trong bài làm của mình

2.2.1.2 Về phía người học

Qua tìm hiểu và thực tế giảng dạy một số học sinh ở các trường bạn(do bản thân trực tiếp ôn luyện đội tuyển học sinh giỏi câp huyện, tỉnh chohuyện) và từ thực tế học sinh trong trường, tôi thấy một số học sinh đã có

sự nỗ lực, cố gắng trong học tập Các em đã tích cực, chủ động, sáng tạotìm đọc thêm tài liệu, học hỏi để bài viết được phong phú hơn Nhưng bêncạnh đó còn nhiều học sinh:

Trang 6

- Không xác định được dạng bài, kiểu bài, chưa phân biệt được sựkhác nhau giữa các kiểu bài, còn yếu kỹ năng viết bài.

- Khi viết bài văn, các em không tuân thủ các bước: Tìm hiểu đề, tìm

ý, lập dàn ý, viết bài, đọc và sửa bài Do đó dẫn đến việc các em viết lạc

đề, lệch đề, bài làm không đủ ý, bố cục lôn xộn, thậm chí có những bàikhông đủ bố cục 3 phần, hệ thống luận điểm không rõ ràng Nhiều em lúngkhi viết mở bài, kết bài, phần thân bài trình thành “một khối” duy nhất,không biết tách đoạn…

- Viết văn còn khô cứng sáo rỗng, nghèo nàn vốn từ, thiếu cảm xúcchân thực Các câu văn còn lan man dài dòng, không có sự liên kết mạchlạc, chặt chẽ Có không ít học sinh khi viết bài văn đã quá ỷ lại vào sáchtham khảo hoặc dàn bài sẵn có mà giáo viên cung cấp để viết nên bài viếtgiống nhau, thiếu sự sáng tạo

- Ngôn ngữ vụng về, lủng củng, sa vào kể lể, đặc biệt là tình trạngdiễn xuôi thơ ở một số học sinh

2.2.2 Kết quả của thực trạng trên.

Kết quả chấm bài Tập làm văn tiết 134; 135 (bài viết số 7) văn nghi luận

về đoạn thơ, bài thơ ở lớp 9A và lớp 9B tại Trường THCS Thị trấn Cành Nàng trong năm học 2017 – 2018 có bảng và dùng để đối chiếu ở mục 2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm (*) Kết quả cho thấy năng lực viết văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ của các em còn hạn chế Số điểm khá giỏi còn ít, đểm kém còn cao.

2.3 Các giải pháp tổ chức thực hiện

2.3.1 Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm vững khái niệm; các yếu tố nội dung và hình thức nghệ thuật cần chú ý khi làm bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ

2.3.1.1 Khái niệm nghị luận về nghị luận về đoạn thơ, bài thơ

Như chúng ta đã biết: “Nghị luận về đoạn thơ, bài thơ là là trình bày nhậnxét, đánh giá của mình về nội dung và nghệ thuật đoạn thơ, bài thơ ấy Nội dung

và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ được thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh, giọngđiệu…Bài nghị luận cần phân tích các yếu tố ấy để có những nhận xét, đánh giá

2.3.1.2 Các yếu tố nội dung và hình thức nghệ thuật cần chú ý khi nghị luận về đoạn thơ, bài thơ

- Ngôn ngữ thơ

Ngôn ngữ là sản phẩm của tư duy Ngôn ngữ thơ có sự khác biệt vớingôn ngữ văn xuôi đó là tính cô đọng, hàm xúc, lời ít ý nhiều Một bài thơthường có dung lượng nhỏ nhưng chứa đựng nội dung lớn Vì vậy mỗi bài thơ

Trang 7

thường có nhiều tầng ý nghĩa Để hiểu được các tầng nghĩa của bài thơ người đọcphải hiểu được các từ ngữ trong bài thơ đó Đặc biệt trong một bài thơ, đoạnthơ thường có những câu, những từ đóng vai trò then chốt là điểm sáng,con mắt thơ của bài thơ (nhãn tự) Vì vậy, khi phân tích, ta phải tìm đượcnhững từ ngữ độc đáo ấy để lột tả được linh hồn của bài thơ, đoạn thơ

Ví dụ 1 : Trong câu thơ: “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân”,

(Truyện Kiều - Nguyễn Du, [3]), học sinh cần phân tích được các tầng

nghĩa của từ “khóa xuân” như sau:

Trước hết “khóa xuân” là “khóa kín tuổi xuân”[8]; ở đây tác giả muốn nói tới

việc Kiều đang bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích Như vậy, “khóa xuân” cho ta thấy được cảnh ngộ đáng thương của nàng Kiều Bên cạnh đó từ “khóa xuân” vốn được dùng để chỉ những người con gái nhà quyền quý thời xưa bị cấm cung, không được ra khỏi phòng ở để giữ gìn phẩm giá của mình Song Lúc này Kiều đã bị Mã Giám Sinh lừa, bị thất thân với Mã Giam Sinh thì còn gì để mà giữ gìn ? Vậy với từ “khóa xuân” Nguyễn Du còn thể hiện nổi xót xa, mỉa mai cho thân phận của Thúy Kiều

Ví dụ 2: Khi dạy phần đọc hiểu, giáo viên cần gợi dẫn để học sinh phát hiện và phân tích giá trị biểu cảm của các từ “chờn vờn” và “ấp iu” trong

hai câu thơ :

“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”

( Bếp lửa – Bằng Việt,[3])

Trong hai câu thơ trên tác giả đã sử dụng hai từ láy "chờn vờn" và "ấp iu" Từ láy

“chờn vờn” vừa gợi ra hình ảnh thực: bếp lửa bập bùng trong làn sương sớm, vừa gợi

ra cái mờ nhòa của hình ảnh trong kí ức của tác giả Còn từ “ấp iu” là một sáng tạo về

mặt ngôn ngữ của nhà thơ Bằng Việt Đây là sản phẩm của sự kết hợp và biến thể của

hai từ ôm ấp và nâng niu Với sáng tạo độc đáo này từ ấp iu đã diễn tả chính xác công

việc nhóm bếp Đồng thời nó cũng cho người đọc hình dung ra đôi bàn tay dịu dàng, kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm lửa

- Hình ảnh thơ

Bên cạnh ngôn ngữ, hình ảnh thơ cũng là một yếu tố nghệ thuậtkhông thể thiếu khi phân tích thơ Khi tìm hiểu văn bản, giáo viên cần gợidẫn cho học sinh nhận ra đâu là hình ảnh tiêu biểu giàu giá trị biểu cảm,giàu sức gợi thể hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm để học sinh phân tích,cảm nhận

Ví dụ 1 :

Trong bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh, có rất nhiều hình ảnh thơ độc đáo thể hiện sự quan sát tinh tế và sáng tạo của nhà thơ Đặc biệt là hình ảnh:

“ Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu”[4]

Cảm giác giao mùa được Hữu Thỉnh diễn tả thật thú vị Đây là một phát hiện rất mới và độc đáo của ông Câu thơ gợi trước mắt ta hình ảnh một đám mây bông xốp đẹp như một dải lụa còn vương trên bầu trời: Một nửa mang sắc nắng của mùa hạ, nửa kia mang sắc biếc của mùa thu Dải mây ấy trong hành trình sang thu dường như vẫn còn lưu luyến vấn vương chưa muốn rời xa mùa hạ Như vậy chỉ một hình ảnh thơ mà Hữu Thỉnh vừa gợi ra cái hình, cái tình của sự vật Đồng thời nó còn giúp ta nhận ra bước chuyển của thời gian trong khoảnh khắc giao mùa

Trang 8

Ví dụ 2:

Bài thơ“Đồng chí” kết thúc bằng hình ảnh đặc sắc:“Đầu súng trăng treo”[3].

Hình ảnh “đầu súng trăng treo” là hình ảnh độc đáo, bất ngờ và là điểm sáng của toàn bài thơ Đây là hình ảnh vừa chân thực vừa lãng mạn “Đầu súng trăng treo” trước hết là một hình ảnh có thật về những đêm hành quân, phục kích của chính tác giả Nhưng đó còn là hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng, gợi ra nhiều liên tưởng phong phú Súng là hình ảnh biểu tượng của chiến tranh khói lửa, trăng là hình ảnh của thiên nhiên trong mát, của cuộc sống yên bình Sự hòa nhịp giữa súng và trăng vừa toát lên vẻ đẹp tâm hồn người lính và tình đồng chí của họ, vừa nói lên ý nghĩa cao cả của cuộc chiến tranh yêu nước: người lính cầm súng là để bảo vệ cuộc sống hòa bình, độc lập tự do cho Tổ quốc Súng và trăng là chiến tranh và hòa bình, là chiến sĩ và thi sĩ, là thực tại và ảo mộng…Tất cả đã hòa quyện, bổ sung cho nhau trong cuộc đời người lính cách mạng

- Giọng điệu thơ

Giọng điệu thơ là phong cách, cách nhìn nhận, khám phá riêng củatừng nhà thơ từ đề tài, nội dung tư tưởng, cảm xúc của tác giả, hình thứcnghệ thuật…Mỗi tác giả đều ghi dấu ấn riêng của mình trong dòng chảychung của văn học Vì vậy, khi phân tích thơ giáo viên cần hướng dẫn họcsinh nhận ra giọng điệu của từng nhà thơ qua đọc - hiểu văn bản để thấyđược phong cách sáng tác, cái khác biệt của người nghệ sĩ

Ví dụ :

- Thơ Hữu Thỉnh vừa có những đặc điểm chung của thơ ca kháng chiến chống

Mỹ lại vừa có những nét độc đáo về nội dung và nghệ thuật biểu hiện Ông đã tạo được một tiếng thơ mới mẻ cho nền thơ ca dân tộc bằng một loạt các tác phẩm thơ có giọng điệu riêng…Xuyên suốt bao trùm thế giới ấy là tấm lòng tha thiết gắn bó với quê hương, đất nước, con người Việt Nam Ông viết hay và viết nhiều về nông thôn và mùa thu.

- Thơ Nguyễn Duy giàu tính triết lý, thiên về chiều sâu với những trăn trở suy tư Giọng điệu tâm tình tự nhiên kết hợp giữa yếu tố trữ tình và tự sự.

“Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình”

(Ánh trăng - Nguyễn Duy,[3])

- Thơ Y Phương thể hiện cái mộc mạc, chân thực, mạnh mẽ và trong sáng, lối tư duy giàu hình ảnh của con người miền núi.

“Người đồng mình yêu lắm con ơi!

Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát”

(Nói với con – Y Phương,[4]) Thơ Phạm Tiến Duật có giọng điệu mang tính khẩu ngữ, sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc.

“Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng„

(Bài thơ về Tiểu đội xe không kính- Phạm Tiến Duật, [3] )

Trang 9

- Biện pháp tu từ

Do khả năng biểu đạt, biểu cảm đặc biệt nên việc sử dụng các biệnpháp tu từ rất được chú trọng trong việc diễn đạt nội dung thơ Muốn làmbài văn phân tích thơ đúng, hay và sâu, học sinh phải nắm vững kiến thức

về các biện pháp tu từ tiếng Việt Kiến thức này các em đã được trang bịtrong các tiết phân môn tiếng Việt Vì vậy, trong quá trình giảng dạy ởphân môn giảng văn, giáo viên cần hướng dẫn để các em phát hiện đượccác biện pháp tu từ và quan trọng hơn là phân tích được tác dụng của nóđối với việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm Các biện pháp tu từnày các em đã được học bao gồm: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ

Ví dụ :

+ Biện pháp so sánh

“ Mặt trời xuống biển như hòn lửa”

(Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận, [3])

Ở câu thơ này tác giả đã sử dụng hình ảnh so sánh đẹp, giàu sức liên tưởng, tưởng tượng: hoàng hôn buông xuống được ví như "hòn lửa" Hình ảnh so sánh trong câu thơ đã giúp người đọc hình dung rõ bức tranh hoàng hôn trên biển vừa tráng lệ, huy hoàng vừa sống động, kì thú Hoàng hôn buông xuống nhưng không gian không chìm vào bóng tối mà rực lên ánh sáng, trên mặt nước lại cháy bùng ngọn lửa Hình ảnh thiên nhiên ấy cũng gợi lên sức sống, không khí hào hứng, náo nức của những người ngư dân trong buổi ra khơi đánh cá.

+ Biện pháp nhân hóa

‘‘Sông được lúc dềnh dàng’’

(Sang thu – Hữu Thỉnh, [4])

Bằng nghệ thuật nhân hoá đặc sắc, nhà thơ đã rất tài hoa ghi lại linh hồn của cảnh vật, của dòng sông quê hương ăm ắp phù sa, vươn mình giữa ruộng đồng vào những ngày giao mùa Vào mùa thu, nước sông êm đềm, nhẹ nhàng trôi, lững lờ mà

không chảy siết như sau những con mưa mùa hạ, Cái dềnh dàng của dòng không không

chỉ gợi ra vẻ êm dịu của bức tranh thiên nhiên mùa thu mà còn mang đầy tâm trạng của con người như chậm lại, như trễ nải, như ngẫm ngợi, nghĩ suy về những trải nghiệm trong cuộc đời.

+ Biện pháp ẩn dụ

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

( Viếng lăng Bác – Viễn Phương, [4])

“Mặt trời trong lăng” là hình ảnh ẩn dụ chỉ Bác Hồ Bởi vì Bác Hồ và mặt

trời đều có điểm tương đồng Nếu mặt trời đem đến ánh sáng, sự sống cho muôn vật, muôn loài thì Bác với đường lối lãnh đạo đúng đắn đã soi sáng con đường cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi, mang về cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Nếu mặt trời là hiện tượng thiên nhiên vĩnh hằng, bất tử thì Bác Hồ kính yêu cũng sống mãi trong triệu triệu trái tim con người Việt Nam hôm nay

và mai sau

+ Biện pháp hoán dụ

Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước

Trang 10

Chỉ cần trong xe có một trái tim ”

( Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật, [3] )

Hình ảnh trái tim là một hình ảnh hoán dụ tuyệt đẹp gợi ra nhiều ý nghĩa biểu tượng thiêng liêng Trước hết "trái tim" chỉ người lính lái xe ở tuyến đường Trường Sơn những năm đánh Mỹ Đồng thời đó còn là trái tim yêu thương, trái tim cháy bỏng ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Trái tim mang tinh thần lạc quan và niềm tin mãnh liệt vào ngày đất nước thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà.

Trên đây mới chỉ là một số ví dụ biện pháp tu từ tiêu biểu, còn rấtnhiều biện pháp tu từ mà giáo viên cần gợi dẫn để học sinh phân tích khinghị luận thơ như điệp ngữ, nói giảm nói tránh, nói quá… Giáo viên cũngcần lưu ý với các em, trong quá trình nghị luận cần phân tích kết hợp tácdụng của các biện pháp nghệ thuật trong khổ thơ, bài thơ

Như vậy, trước khi hướng dẫn học sinh các kĩ năng để làm bàinghị luận về đoạn thơ, bài thơ, học sinh cần hiểu được các yếu tố nộidung và nghệ thuật của thơ Các em phải biết mình cần nhận xét, đánh giá

về những gì Để làm được điều này người giáo viên cần phải có sự tíchhợp trong quá trình giảng dạy cả ba phân môn Tiếng Việt, Đọc – hiểu vănbản và phần Tập làm văn

2.3.2 Những yêu cầu cụ thể khi làm bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ 2.3.2.1 Về kiến thức cần có trước khi làm bài

Để làm tốt được bài văn nghị luận về tác phẩm văn học nói chung,nghị luận về thơ nói riêng, yêu cầu đầu tiên có tính chất tiên quyết đó làhọc sinh phải nắm vững những kiến thức cơ bản về tác phẩm Đó là:

- Kiến thức về tác giả, cuộc đời và sự nghiệp, phong cách thơ

- Kiến thức về tác phẩm: hoàn cảnh sáng tác, hiểu được nội dungchính và nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm

- Thuộc văn bản thơ

- Xác định được những những hình ảnh, từ ngữ, biện pháp tu từ….đặc sắc của bài thơ, đoạn thơ đã học

Tất cả các kiến thức này các em đã được trang bị qua tiết học dưới sựdẫn dắt của giáo viên Khi kết thúc tiết dạy tôi thường yêu cầu các em tự hệthống hóa kiến thức bài học bằng cách vẽ sơ đồ tư duy Sơ đồ tư duythường bao gồm những nội dung sau:

* Về tác giả: Thường là những thông tin khái quát nhất giới thiệu về

tác giả Phần này sẽ giúp các em dễ dàng viết được phần mở bài theo cách trực tiếp.

Ví dụ:

+ “Phạm Tiến Duật là gương mặt tiêu biểu thuộc thế hệ các nhà thơ trẻ thời kháng chiến chống Mĩ cứu nước Thơ ông có giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc”.[3]

+ “Y Phương là nhà thơ dân tộc Tày Thơ ông thể hiện sự chân thật, trong sáng, lối tư duy giàu hình ảnh của người dân miền núi”… [4]

* Về tác phẩm:

Trang 11

+ Về nội dung: Dựa vào bố cục bài thơ sau khi giáo viên hướng dẫn tìmhiểu văn bản thơ, các em sẽ dễ dàng khái quát được những giá trị nội dungbằng sơ đồ tư duy.

+ Về nghệ thuật: Học sinh sẽ ghi nhớ được những giá trị nghệ thuật tiêubiểu làm nên thành công của tác phẩm thơ

Ví dụ: Sau khi học bài “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương, tôi yêu cầu

học sinh vẽ sơ đồ tư duy hệ thống hóa kiến thức bài học như sau:

[9]

Thông qua thao tác này, học sinh sẽ ghi nhớ được những kiến thức

cơ bản nhất về tác giả, tác phẩm, nội dung, nghệ thuật cũng như những tínhiệu về ngôn ngữ, hình ảnh, chi tiết tiêu biểu của văn bản Đây là bướcchuẩn bị có tính chất nền tảng trước khi viết bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ.

(ở phần Phụ lục, có một số sản phẩm sơ đồ tư duy của học sinh)

2 3.2.2 Yêu cầu của bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ

Bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ bên cạnh những yêu cầuchung của bài văn nghị luận như có hệ thống luận điểm rõ ràng, lập luậnchặt chẽ, dẫn chứng xác thực, bố cục hợp lý, lời văn phải chuẩn xác, trongsáng còn có những yêu cầu riêng như sau:

- Khi nghị luận tác phẩm thơ, học sinh phải bám sát vào văn bản thơtìm ra cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu…Từ đó cónhững phân tích, nhận xét đánh giá, cảm nhận xác đáng về nội dung vànghệ thuật của bài thơ

Trang 12

- Người viết cần có những cảm nhận, suy nghĩ riêng của mình Cảmnhận ấy phải đúc rút từ kinh nghiệm riêng của bản thân và xuất phát từ sựphân tích ngôn từ, hình ảnh của bài thơ Tuyệt đối không được suy diễn chủquan tùy tiện

- Cảm xúc của bài viết không phải là việc sử dụng các từ biểu lộ cảmxúc như a, ôi mà cảm xúc là sự rung cảm và đồng điệu Tức là các emphải thực sự rung động trước vẻ đẹp của ngôn từ, hình ảnh, trước tư tưởngtình cảm của nhà thơ gửi gắm vào đứa con tinh thần của mình Có như vậy,bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ của các em mới khơi gợi sự đồng cảm vềcảm xúc và thuyết phục được người đọc, người nghe

2.3.3 Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng cơ bản để làm tốt bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ

2.3.3.1 Kỹ năng phân tích đề

Phân tích đề được xem là khâu đầu tiên, có ý nghĩa quyết định “dẫnđường, chỉ lối” [6] cho người làm bài Nếu phân tích đúng yêu cầu của đềbài thì sẽ tìm ra được hướng đi đúng Ngược lại, nếu phân tích sai thì sẽkhông đáp ứng được yêu cầu của đề, đôi khi còn bị lệch đề, lạc đề Thếnhưng nhiều học sinh chưa ý thức được vai trò của bước tìm hiểu đề nàynên đã bỏ qua hoặc nếu có cũng mang tính chất hình thức Chính vì thế màngười giáo viên phải giải thích cho các em thấy được vai trò của bước tìmhiểu đề, hướng dẫn HS biết phân tích kĩ đề, rèn luyện cho các em trở thànhthói quen, kĩ năng khi làm bài

Đối với dạng đề nghị luận về tác phẩm thơ, có thể thống kê nhữngcách ra đề như sau:

- Dạng 1: Nghị luận về một đoạn thơ

- Dạng 2: Nghị luận về toàn bộ bài thơ

- Dạng 3: Nghị luận về một phương diện của thơ

- Dạng 4: Nghị luận về một hình ảnh, chi tiết trong bài thơ

- Dạng 5: Dạng đề so sánh giữa hai bài thơ, hai đoạn thơ

- Dạng 6: Nghị luận ý kiến bàn về bài thơ, đoạn thơ

Dù ở dạng nào, trước hết giáo viên yêu cầu học sinh phải đọc kĩ đềbài, tìm và gạch chân những từ ngữ quan trọng để xem xét, xác định chínhxác yêu cầu của đề Cụ thể phải xác định cho được ba yêu cầu sau đây:

em băn khoăn, lúng túng khi phân tích đề Trong quá trình hướng dẫn, giáoviên cần cho các em thấy dù không có mệnh lệnh, các em vẫn phải phântích, cảm nhận, trình bày suy nghĩ của mình Tức là các em phải vận dụng

Ngày đăng: 21/10/2019, 08:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w