Trong phân môn Tập làm văn, kiểu bài nghị luận nói chung và nghịluận về đoạn thơ, bài thơ nói riêng vốn được xem là rất khó đối với cảngười dạy và người học.. Vì vậy, với trách nhiệm và
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Phân môn Tập làm văn có vai trò vô cùng quan trọng trong chươngtrình Ngữ văn Trung học cơ sở (THCS) Bởi nó mang tính chất thực hànhtổng hợp giữa các phân môn Tiếng Việt với phân môn Đọc – hiểu vănbản Mỗi bài tập làm văn ra đời là những sáng tác đầu tay của học sinh, làkết quả của sự tổng hợp kiến thức đã học về lý thuyết làm văn; về kiếnthức văn học; về những quan sát, cảm nhận đối với cuộc sống tự nhiên,
xã hội xung quanh; về kĩ năng sử dụng ngôn từ để diễn đạt
Trong phân môn Tập làm văn, kiểu bài nghị luận nói chung và nghịluận về đoạn thơ, bài thơ nói riêng vốn được xem là rất khó đối với cảngười dạy và người học Bởi chúng ta biết rằng đặc trưng của thơ là tính
cô đọng, hàm súc và tinh tế Hiểu được thơ, cảm được thơ không dễ, tìmlời giải cho thơ lại càng khó Khi làm kiểu bài này, ngoài kiến thức đòihỏi học sinh phải có cảm nhận tinh tế, có sự rung động của trái tim để từ
đó tạo nên những cảm xúc trào dâng đầu ngòi bút Bên cạnh đó một yếu
tố không thể thiếu được để có một bài văn thành công đó chính là những
kỹ năng hành văn của các em
Trong phân phối chương trình Ngữ văn lớp 9, số tiết dành cho nghịluận về thơ rất ít (4 tiết) Trong đó có một tiết dành cho lý thuyết, 1 tiếtdành cho việc thực hành viết văn nghị luận và 2 tiết luyện nói Do vậy,học sinh rất khó nắm bắt kĩ năng viết văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơđồng nghĩa hiệu quả viết dạng bài này chưa cao Hiện tại kĩ năng viết bàivăn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ của học sinh còn nhiều hạn chế, nhưngtrong quá trình dạy học chưa có tài liệu nghiên cứu nào bàn sâu đến vấn
đề này, đồng nghiệp, nhà trường chưa có những biện pháp thiết thực đểgiải quyết khắc phục
Trên đây là những lí do thôi thúc tôi tìm tòi, đúc rút kinh nghiệmtrong việc dạy văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ Vì vậy, với trách nhiệm
và kinh nghiệm ít ỏi của bản thân, tôi xin trao đổi “Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng viết văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ có hiệu quả cho học sinh lớp 9 THCS Thành Mỹ” nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Ngữ văn lớp 9 THCS để các đồng nghiệp cùng tham khảo
1.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của tôi khi thực hiện đề tài này nhằm góp phần củng cố
kĩ năng tạo lập văn bản, kĩ năng viết tốt bài văn nghị luận về đoạn thơ,bài thơ, nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn lớp 9 trường Trunghọc cơ sở; từ đó nâng cao kết quả thi vào 10 Trung học Phổ thông Mặtkhác văn học nói chung, Tập làm văn nói riêng từ lâu đã là môn họckhiến nhiều học sinh ngại học, ngại viết Việc rèn kĩ năng làm văn nghịluận về tác phẩm thơ sẽ góp phần giúp các em tháo gỡ những vướng mắc,xoá đi mặc cảm ngại học văn của một số học sinh, tạo cho các em tìnhyêu đối với môn học
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Trong sáng kiến kinh nghiệm này, tôi chỉ nghiên cứu ở lĩnh vực nhỏ của
Trang 2văn nghị luận đó là: “Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng viết văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ có hiệu quả cho học sinh lớp 9 THCS Thành Mỹ” Cụ thể đó là:
- Kĩ năng phát hiện và phân tích những tín hiệu thẩm mỹ của tác phẩm thơ
- Kĩ năng hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ tư duy
- Kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý
- Kĩ năng lập dàn ý
- Kĩ năng viết các phần, các đoạn từ dàn ý
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết
1.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
1.4.3 Phương pháp phân tích, chứng minh
1.4.4 Phương pháp so sánh đối chiếu
Trang 32.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1 Thực trạng
Từ thực tế giảng dạy môn Ngữ văn, đặc biệt là trực tiếp giảng dạymôn Ngữ văn 9 phần văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ, tôi nhận thấy thực
tế dạy và học của giáo viên và học sinh như sau:
2.2.1.1 Về phía người dạy
Nhiều giáo viên đã có sự tìm tòi, nghiên cứu tìm ra những phươngpháp tối ưu trong dạy học văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ Tuy nhiênvẫn còn một số vấn đề tồn tại sau:
- Một số giáo viên còn xem nhẹ, chưa chú ý đến việc rèn cách viếtvăn cho học sinh Nhiều tiết dạy còn mang tính chất áp đặt về lí thuyết,chưa thực sự hướng dẫn học sinh luyện tập, rèn kỹ năng làm bài, chưa bắttay chỉ việc cụ thể đến từng học sinh Giáo viên chỉ chú trọng đến việccung cấp dàn bài chi tiết, học sinh chỉ việc dựa sẵn vào dàn ý đó mà viếtbài Như vậy giáo viên không phát huy được khả năng tư duy của học sinh,các bài viết giống nhau và cảm xúc thiếu chân thực với vấn đề nghị luận
- Trong các tiết trả bài văn còn nặng về trình bày lại đáp án, chưathực sự chỉ ra nguyên nhân mắc lỗi, cách sửa lỗi, không phê (hoặc phêchung chung) vào bài, chưa nhận xét cụ thể ưu điểm, nhược điểm trong bàilàm của học sinh nên các em chưa nhận thấy được ưu điểm cũng như hạnchế trong bài làm của mình
2.2.1.2 Về phía người học
Một số học sinh đã có sự nỗ lực, cố gắng trong học tập Các em đãtích cực, chủ động, sáng tạo tìm đọc thêm tài liệu, học hỏi để bài viết đượcphong phú hơn Nhưng bên cạnh đó còn nhiều học sinh:
- Không xác định được dạng bài, kiểu bài, chưa phân biệt được sựkhác nhau giữa các kiểu bài, còn yếu kỹ năng viết bài
- Khi viết bài văn, các em không tuân thủ các bước: Tìm hiểu đề, tìm
ý, lập dàn ý, viết bài, đọc và sửa bài Do đó dẫn đến việc các em viết lạc
đề, lệch đề, bài làm không đủ ý, bố cục lôn xộn, thậm chí có những bàikhông đủ bố cục 3 phần, hệ thống luận điểm không rõ ràng Nhiều em lúngkhi viết mở bài, kết bài, phần thân bài trình thành “một khối” duy nhất,không biết tách đoạn…
- Viết văn còn khô cứng sáo rỗng, nghèo nàn vốn từ, thiếu cảm xúcchân thực Các câu văn còn lan man dài dòng, không có sự liên kết mạchlạc, chặt chẽ Có không ít học sinh khi viết bài văn đã quá ỷ lại vào sáchtham khảo hoặc dàn bài sẵn có mà giáo viên cung cấp để viết nên bài viếtgiống nhau, thiếu sự sáng tạo
- Ngôn ngữ vụng về, lủng củng, sa vào kể lể, đặc biệt là tình trạngdiễn xuôi thơ ở một số học sinh
Ví dụ 1: Khổ thơ mang hình ảnh thấm đượm, niềm háo hức của người
con miền Nam nhưng bây giờ mới có cơ hội thì Bác đã đi xa Bởi tất cả mọi người đều là những đứa con trung hiếu của Bác, luôn luôn xem Bác là
Trang 4người cha, người anh, người Bác của chúng ta Tác giả dùng đại từ xưng
hô “Con- Bác” còn mang sắc thái kính trọng, thành kính Hình ảnh hàng tre được lặp lại mang nghĩa biểu tượng cho con người Việt Nam trong bão táp mưa sa.
(Phân tích khổ thơ đầu của bài thơ Viếng lăng Bác; Bài viết của học sinh
Đinh Văn Long lớp 9A)
Ví dụ 2: Đọc khổ thơ ta thấy có những hình ảnh thơ tiêu biểu như dòng sông xanh, bông hoa tím biếc và có cả tiếng chim chiền chiện hót vang cả bầu trời Đặc biệt ở đây là tác giả có thể đưa tay hứng được “từng giọt long lanh” của tiếng chim chiền chiện Tiếng chim thì làm sao thành từng giọt được để tác giả “hứng” rõ ràng tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật ẩn dụ ở đây.
( Cảm nhận về khổ thơ đầu bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của
Thanh Hải; Bài viết của em Bùi Thị Thúy lớp 9B)
2.3.1.1 Khái niệm nghị luận về nghị luận về đoạn thơ, bài thơ
Trong SGK ngữ văn lớp 9 tập 2 (trang 78) nêu rõ: “Nghị luận về đoạnthơ, bài thơ là là trình bày nhận xét, đánh giá của mình về nội dung và nghệ thuậtđoạn thơ, bài thơ ấy Nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ được thể hiệnqua ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu…Bài nghị luận cần phân tích các yếu tố ấy để
Trang 52.3.1.2 Các yếu tố nội dung và hình thức nghệ thuật cần chú ý khi nghị luận về đoạn thơ, bài thơ
- Ngôn ngữ thơ
Ngôn ngữ là sản phẩm của tư duy Ngôn ngữ thơ có sự khác biệt vớingôn ngữ văn xuôi đó là tính cô đọng, hàm xúc, lời ít ý nhiều Một bài thơthường có dung lượng nhỏ nhưng chứa đựng nội dung lớn Vì vậy mỗi bài thơthường có nhiều tầng ý nghĩa Để hiểu được các tầng nghĩa của bài thơ người đọcphải hiểu được các từ ngữ trong bài thơ đó Đặc biệt trong một bài thơ, đoạnthơ thường có những câu, những từ đóng vai trò then chốt là điểm sáng, conmắt thơ của bài thơ (nhãn tự) Vì vậy, khi phân tích, ta phải tìm được những
từ ngữ độc đáo ấy để lột tả được linh hồn của bài thơ, đoạn thơ
Ví dụ : Trong câu thơ: “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân”,
(Truyện Kiều - Nguyễn Du, Ngữ văn 9, tập 1), học sinh cần phân tích được
các tầng nghĩa của từ “khóa xuân” như sau:
Trước hết “khóa xuân” là “khóa kín tuổi xuân”; ở đây tác giả muốn
nói tới việc Kiều đang bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích Như vậy, “khóa xuân” cho ta thấy được cảnh ngộ đáng thương của nàng Kiều Bên cạnh
đó từ “khóa xuân” vốn được dùng để chỉ những người con gái nhà quyền quý thời xưa bị cấm cung, không được ra khỏi phòng ở để giữ gìn phẩm giá của mình Song Lúc này Kiều đã bị Mã Giám Sinh lừa, bị thất thân với
Mã Giam Sinh thì còn gì để mà giữ gìn ? Vậy với từ “khóa xuân” Nguyễn
Du còn thể hiện nổi xót xa, mỉa mai cho thân phận của Thúy Kiều
- Hình ảnh thơ
Bên cạnh ngôn ngữ, hình ảnh thơ cũng là một yếu tố nghệ thuậtkhông thể thiếu khi phân tích thơ Khi tìm hiểu văn bản, giáo viên cần gợidẫn cho học sinh nhận ra đâu là hình ảnh tiêu biểu giàu giá trị biểu cảm,giàu sức gợi thể hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm để học sinh phân tích,cảm nhận
Ví dụ : Trong bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh, có rất nhiều hình ảnh
thơ độc đáo thể hiện sự quan sát tinh tế và sáng tạo của nhà thơ Đặc biệt
là hình ảnh:
“ Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu”
Cảm giác giao mùa được Hữu Thỉnh diễn tả thật thú vị Đây là một phát hiện rất mới và độc đáo của ông Câu thơ gợi trước mắt ta hình ảnh một đám mây bông xốp đẹp như một dải lụa còn vương trên bầu trời: Một nửa mang sắc nắng của mùa hạ, nửa kia mang sắc biếc của mùa thu Dải mây ấy trong hành trình sang thu dường như vẫn còn lưu luyến vấn vương chưa muốn rời xa mùa hạ Như vậy chỉ một hình ảnh thơ mà Hữu Thỉnh vừa gợi ra cái hình, cái tình của sự vật Đồng thời nó còn giúp ta nhận ra bước chuyển của thời gian trong khoảnh khắc giao mùa.
- Giọng điệu thơ
Giọng điệu thơ là phong cách, cách nhìn nhận, khám phá riêng củatừng nhà thơ từ đề tài, nội dung tư tưởng, cảm xúc của tác giả, hình thức
Trang 6nghệ thuật…Mỗi tác giả đều ghi dấu ấn riêng của mình trong dòng chảychung của văn học Vì vậy, khi phân tích thơ giáo viên cần hướng dẫn họcsinh nhận ra giọng điệu của từng nhà thơ qua đọc - hiểu văn bản để thấyđược phong cách sáng tác, cái khác biệt của người nghệ sĩ.
Ví dụ :
+ Thơ Nguyễn Duy giàu tính triết lý, thiên về chiều sâu với những trăn trở suy tư Giọng điệu tâm tình tự nhiên kết hợp giữa yếu tố trữ tình và tự sự + Thơ Y Phương thể hiện cái mộc mạc, chân thực, mạnh mẽ và trong sáng, lối tư duy giàu hình ảnh của con người miền núi.
- Biện pháp tu từ
Do khả năng biểu đạt, biểu cảm đặc biệt nên việc sử dụng các biệnpháp tu từ rất được chú trọng trong việc diễn đạt nội dung thơ Muốn làmbài văn phân tích thơ đúng, hay và sâu, học sinh phải nắm vững kiến thức
về các biện pháp tu từ tiếng Việt Kiến thức này các em đã được trang bịtrong các tiết phân môn tiếng Việt Vì vậy, trong quá trình giảng dạy ởphân môn giảng văn, giáo viên cần hướng dẫn để các em phát hiện đượccác biện pháp tu từ và quan trọng hơn là phân tích được tác dụng của nóđối với việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm Các biện pháp tu từnày các em đã được học bao gồm: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ
+ Biện pháp so sánh
“Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào”
(Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận)
Ở câu thơ này tác giả đã sử dụng hình ảnh so sánh đẹp, ý nghĩa: biển như "lòng mẹ" Lòng biển bao la, sâu thẳm như lòng mẹ hiền từ, nhân hậu,
ân tình, bao dung luôn chở che, nuôi nấng con người lớn lên, bao bọc con người Biển là nguồn sống, gắn bó thân thiết, cho ta tất cả như người mẹ
“nuôi lớn đời ta tự buổi nào” Câu thơ là khúc tâm tình thiết tha với biển thân yêu, là lời cảm tạ của con người đối với biển cả bao la.
+ Biện pháp nhân hóa
“Sương chùng chình qua ngõ”
(Sang thu – Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, tập 2)
Bằng nghệ thuật nhân hoá, sương thu được cảm nhận như một thực thể hữu hình đang di chuyển chậm chạp, nhẹ nhàng nơi vườn thôn ngõ xóm “Chùng chình” là từ láy diễn tả trạng thái cố ý làm chậm lại Không biết làn sướng ấy cũng đang dùng dằng, lưu luyến với mùa hạ hay muốn tận hưởng trọn vẹn khoảnh khắc vào thu nên “chùng chình” chưa muốn dời chân?
+ Biện pháp ẩn dụ
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”
( Viếng lăng bác – Viễn Phương, Ngữ văn 9, tập 2)
Trang 7“Mặt trời trong lăng” là hình ảnh ẩn dụ chỉ Bác Hồ Bởi vì Bác Hồ và
mặt trời đều có điểm tương đồng Nếu mặt trời đem đến ánh sáng, sự sống cho muôn vật, muôn loài thì Bác với đường lối lãnh đạo đúng đắn đã soi sáng con đường cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi, mang về cuộc sống
ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Nếu mặt trời là hiện tượng thiên nhiên vĩnh hằng, bất tử thì Bác Hồ kính yêu cũng sống mãi trong triệu triệu trái tim con người Việt Nam hôm nay và mai sau
+ Biện pháp hoán dụ
“Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước
chỉ cần trên xe có một trái tim ”
( Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật, Ngữ văn 9, tập 2 )
Hình ảnh trái tim là một hình ảnh hoán dụ tuyệt đẹp gợi ra nhiều ý nghĩa biểu tượng thiêng liêng Trước hết "trái tim" chỉ người lính lái xe ở tuyến đường Trường Sơn những năm đánh Mỹ Đồng thời đó còn là trái tim yêu thương, trái tim cháy bỏng ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Trái tim mang tinh thần lạc quan và niềm tin mãnh liệt vào ngày đất nước thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà.
Trên đây mới chỉ là một số ví dụ biện pháp tu từ tiêu biểu, còn rấtnhiều biện pháp tu từ mà giáo viên cần gợi dẫn để học sinh phân tích khinghị luận thơ như điệp ngữ, nói giảm nói tránh, nói quá… Giáo viên cũngcần lưu ý với các em, trong quá trình nghị luận cần phân tích kết hợp tácdụng của các biện pháp nghệ thuật trong khổ thơ, bài thơ
Như vậy, trước khi hướng dẫn học sinh các kĩ năng để làm bài nghịluận về đoạn thơ, bài thơ, học sinh cần hiểu được các yếu tố nội dung vànghệ thuật của thơ Các em phải biết mình cần nhận xét, đánh giá vềnhững gì Để làm được điều này người giáo viên cần phải có sự tích hợptrong quá trình giảng dạy cả ba phân môn Tiếng Việt, Đọc – hiểu văn bản
- Kiến thức về tác giả, cuộc đời và sự nghiệp, phong cách thơ
- Kiến thức về tác phẩm: hoàn cảnh sáng tác, hiểu được nội dungchính và nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm
- Thuộc văn bản thơ
- Xác định được những những hình ảnh, từ ngữ, biện pháp tu từ….đặc sắc của bài thơ, đoạn thơ đã học
Tất cả các kiến thức này các em đã được trang bị qua tiết học dưới sựdẫn dắt của giáo viên Khi kết thúc tiết dạy tôi thường yêu cầu các em tự hệthống hóa kiến thức bài học bằng cách vẽ sơ đồ tư duy Sơ đồ tư duythường bao gồm những nội dung sau:
* Về tác giả: Thường là những thông tin khái quát nhất giới thiệu về tác giả.
Phần này sẽ giúp các em dễ dàng viết được phần mở bài theo cách trực tiếp
Trang 8Ví dụ:
+ Phạm Tiến Duật là gương mặt tiêu biểu thuộc thế hệ các nhà thơ trẻ thời kháng chiến chống Mĩ cứu nước Thơ ông có giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc.
+ Y Phương là nhà thơ dân tộc Tày Thơ ông thể hiện sự chân thật, trong sáng, lối tư duy giàu hình ảnh của người dân miền núi.
* Về tác phẩm: + Về nội dung:
+ Về nghệ thuật:
Ví dụ: Sau khi học bài “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương, tôi yêu cầu
học sinh vẽ sơ đồ tư duy hệ thống hóa kiến thức bài học như sau:
Thông qua thao tác này, học sinh sẽ ghi nhớ được những kiến thức cơbản nhất về tác giả, tác phẩm, nội dung, nghệ thuật cũng như những tín hiệu
Trang 9về ngôn ngữ, hình ảnh, chi tiết tiêu biểu của văn bản Đây là bước chuẩn bị
có tính chất nền tảng trước khi viết bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ.
2 3.2.2 Yêu cầu của bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ
Bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ bên cạnh những yêu cầuchung của bài văn nghị luận như có hệ thống luận điểm rõ ràng, lập luậnchặt chẽ, dẫn chứng xác thực, bố cục hợp lý, lời văn phải chuẩn xác, trongsáng còn có những yêu cầu riêng như sau:
- Khi nghị luận tác phẩm thơ, học sinh phải bám sát vào văn bản thơtìm ra cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu…Từ đó cónhững phân tích, nhận xét đánh giá, cảm nhận xác đáng về nội dung vànghệ thuật của bài thơ
- Người viết cần có những cảm nhận, suy nghĩ riêng của mình Cảmnhận ấy phải đúc rút từ kinh nghiệm riêng của bản thân và xuất phát từ sựphân tích ngôn từ, hình ảnh của bài thơ Tuyệt đối không được suy diễn chủquan tùy tiện
- Cảm xúc của bài viết không phải là việc sử dụng các từ biểu lộ cảmxúc như a, ôi mà cảm xúc là sự rung cảm và đồng điệu Tức là các em phảithực sự rung động trước vẻ đẹp của ngôn từ, hình ảnh, trước tư tưởng tìnhcảm của nhà thơ gửi gắm vào đứa con tinh thần của mình Có như vậy, bàinghị luận về đoạn thơ, bài thơ của các em mới khơi gợi sự đồng cảm vềcảm xúc và thuyết phục được người đọc, người nghe
2.3.3 Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng cơ bản để làm tốt bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ
2.3.3.1 Kỹ năng phân tích đề
Phân tích đề được xem là khâu đầu tiên, có ý nghĩa quyết định “dẫnđường, chỉ lối” cho người làm bài Nếu phân tích đúng yêu cầu của đề bàithì sẽ tìm ra được hướng đi đúng Ngược lại, nếu phân tích sai thì sẽ khôngđáp ứng được yêu cầu của đề, đôi khi còn bị lệch đề, lạc đề Thế nhưngnhiều học sinh chưa ý thức được vai trò của bước tìm hiểu đề này nên đã bỏqua hoặc nếu có cũng mang tính chất hình thức Chính vì thế mà người giáoviên phải giải thích cho các em thấy được vai trò của bước tìm hiểu đề,hướng dẫn HS biết phân tích kĩ đề, rèn luyện cho các em trở thành thóiquen, kĩ năng khi làm bài
Đối với dạng đề nghị luận về tác phẩm thơ, có thể thống kê nhữngcách ra đề như sau:
- Dạng 1: Nghị luận về một đoạn thơ
- Dạng 2: Nghị luận về toàn bộ bài thơ
- Dạng 3: Nghị luận về một phương diện của thơ
- Dạng 4: Nghị luận về một hình ảnh, chi tiết trong bài thơ
- Dạng 5: Dạng đề so sánh giữa hai bài thơ, hai đoạn thơ
- Dạng 6: Nghị luận ý kiến bàn về bài thơ, đoạn thơ
Dù ở dạng nào, trước hết giáo viên yêu cầu học sinh phải đọc kĩ đềbài, tìm và gạch chân những từ ngữ quan trọng để xem xét, xác định chínhxác yêu cầu của đề Cụ thể phải xác định cho được ba yêu cầu sau đây:
- Xác định phương pháp nghị luận
Trang 10- Tìm nội dung bàn luận.
- Tìm phạm vi dẫn chứng
Cần lưu ý các em có hai dạng đề: Đề có mệnh lệnh và không cómệnh lệnh Dạng đề có mệnh lệnh học sinh sẽ dễ dàng xác định được thaotác lập luận chủ yếu sử dụng trong bài viết của mình như : phân tích, cảmnhận, suy nghĩ Đối với dạng đề không có mệnh lệnh thường làm cho các
em băn khoăn, lúng túng khi phân tích đề Trong quá trình hướng dẫn, giáoviên cần cho các em thấy dù không có mệnh lệnh, các em vẫn phải phântích, cảm nhận, trình bày suy nghĩ của mình Tức là các em phải vận dụngnhiều thao tác trong bài viết để làm rõ vấn đề nghị luận Tùy từng dạng đề
cụ thể mà các em có sự vận dụng linh hoạt các thao tác này
Ví dụ 1: Phân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh.
- Phương pháp nghị luận: Phân tích
- Nội dung: Nội dung và nghệ thuật của khổ thơ
- Phạm vi dẫn chứng: Khổ thơ đầu bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh
Ví dụ 2: Bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương đã thể hiện lòng
thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ với Bác khi vào lăng viếng Bác
Với dạng đề nghị luận ý kiến bàn về bài thơ, đoạn thơ các em sẽ xác định:
- Phương pháp nghị luận: Phân tích, cảm nhận, suy nghĩ
- Nội dung: “Lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ với
Bác khi vào lăng viếng Bác”
- Phạm vi dẫn chứng: Bài thơ “Viếng lăng Bác”
Ví dụ 3: Cảm nhận về hình ảnh người lính trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ qua hai tác phẩm “Đồng chí” của Chính Hữu
và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật
Với dạng đề so sánh này, các em sẽ xác định:
- Phương pháp nghị luận: cảm nhận kết hợp với phân tích
- Nội dung: Hình ảnh người lính trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp vàchống Mỹ
- Phạm vi dẫn chứng: Hai tác phẩm “Đồng chí” của Chính Hữu và “Bài thơ
về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật
Ví dụ 4: Nhà thơ Xuân Diệu cho rằng: «Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài.» Qua thi phẩm Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải,
em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
Với dạng đề nghị luận ý kiến bàn về bài thơ, đoạn thơ các em sẽ xác định:
- Phương pháp nghị luận: Phân tích, cảm nhận, suy nghĩ
- Nội dung: Cái hay về nội dung và nghệ thuật của bài thơ “Mùa xuân nho
nhỏ” của Thanh Hải
- Phạm vi dẫn chứng: Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải
Với bước tìm hiểu đề, yêu cầu các em tiến hành nhanh và xác địnhchính xác yêu cầu của đề Muốn vậy, không có cách nào khác đó là các emphải rèn luyện kĩ năng thành thục qua thực hành
2.3.3.2 Kỹ năng tìm ý
Trang 11Sau khi tiến hành xong phần tìm hiểu đề, giáo viên hướng dẫn họcsinh bước tìm ý.Tìm ý gắn liền với việc người viết xác định luận điểm chobài viết của mình Như vậy, đây chính là bước chúng ta xây dựng những cộtmóng đầu tiên của ngôi nhà Các bước tìm ý:
Bước 1: Đọc kĩ bài thơ, đoạn thơ để có cảm nhận chung về tác phẩm.
Bước 2: Trả lời các câu hỏi: Đề bài yêu cầu nội dung gì? Nội dung ấy được
thể hiện bằng những đặc sắc nghệ thuật nào? ( Hình ảnh, nhịp điệu, từ ngữ, biện pháp tu từ…); khơi gợi trong lòng ta những tình cảm, cảm xúc gì?
Bước 3: Chia ý của luận đề thành từng luận điểm.
Ví dụ 1: Phân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh.
Ở bước tìm ý học sinh xác định được các ý:
+ Cảm nhận tinh tế khi chợt nhận ra những tín hiệu chuyển mùa
+ Cảm xúc ngỡ ngàng trước sự thay đổi bất ngờ của thiên nhiên
+ Hình ảnh thơ ấn tượng, ngôn từ trong sáng, gợi cảm
Ví dụ 2: Bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương đã thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ với Bác khi vào lăng viếng Bác
Sau khi tìm hiểu đề, học sinh tiến hành bước tìm ý bằng cách trả lờicác câu hỏi sau: Lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ khivào lăng Viếng Bác được thể hiện như thế nào? Học sinh dựa vào kiến thức
đã học (xem lại sơ đồ tư duy mà các em đã được hướng dẫn để hình dung,tái hiện lại hệ thống kiến thức đã học) để chia ý của luận đề thành các luậnđiểm Gồm có 4 luận điểm:
+ Niềm xúc động thành kính của nhà thơ khi đến lăng Bác
+ Niềm xúc động thành kính của nhà thơ khi đứng trước lăng Bác
+ Cảm xúc và suy nghĩ của nhà thơ khi vào trong lăng Bác
+ Niềm thương nhớ, xúc động của nhà thơ khi phải rời lăng và ướcnguyện của nhà thơ
Ví dụ 3 : Cảm nhận về hình ảnh người lính trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ qua hai tác phẩm “Đồng chí” của Chính Hữu
và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật Tìm ý: Học
sinh xác định được:
+ Hình ảnh người lính trong bài thơ “Đồng chí”
+ Hình ảnh người lính trong bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”
+ Điểm giống và khác nhau về hình ảnh anh bộ đội trong hai bài thơ
Ví dụ 4: Nhà thơ Xuân Diệu cho rằng: «Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài» Qua thi phẩm Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải,
em hãy làm sáng tỏ nhận định trên
Ở bước tìm ý giáo viên cần hướng dẫn học sinh xác định các ý cầnphải triển khai như sau:
1 Em hiểu về ý kiến trên như thế nào?
2 Chứng minh: Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải là bài thơ hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài.
- Về nội dung: