Trên cương vị công tác của bản thân , tối đã có những nghiên cứu, thựcnghiệm những phương pháp dạy học phù hợp nhất, tối ưu nhất để áp dụng vàogiảng dạy nhằm phát huy hiệu quả dạy học, đ
Trang 11 MỞ ĐẦU
Môn Ngữ văn là khoa học của nghệ thuật ngôn ngữ và tâm hồn con người.Không hề nói quá chút nào khi tôi đang còn ngồi trên ghế nhà trường , cô giáodạy văn của tôi đã từng nói “ Các em học văn trước hết là để học cách làmngười, học văn là để hiểu mình và hiểu người từ đó sống tốt hơn” Câu nói ấycủa cô đã đi theo tôi không chỉ những năm tháng học trò mà đến cả hôm nay,khi đứng trên bục giảng, mỗi ngày, mỗi tiết học trôi qua tôi luôn tâm niệm và cốgắng làm được một phần nào đó lời cô dạy trong mỗi bài giảng cho học sinhthân yêu
Với mỗi chúng ta tất cả đều đi qua tuổi học trò Mỗi bài giảng hấp dẫncủa thầy cô chính là mỗi bài học đáng nhớ nhất Qua mỗi giờ học , chúng ta tìmthấy chính mình và rồi biết trả lời cho những câu hỏi: “Tại sao lại thế? ” “Tạisao chị Dậu phải bán con để cứu chồng?” “Tại sao Lão Hạc phải ăn bả chó đểchết?”… Và rồi chúng ta biết trân trọng cuộc sống, biết yêu thương, biết thôngcảm với những người xung quanh hơn Văn học là như thế Bây giờ người ta gọi
là môn Ngữ văn nhưng bản chất nó không có gì thay đổi Môn ngữ văn làmđược những điều mà môn học khác không thể làm được
Với những giáo viên trường Nội Trú , chúng tôi vừa là thầy là cô nhưngđồng thời cũng là những người cha người mẹ thứ hai của các em học sinh, bởi vìcác em ở trường nhiều hơn ở nhà Các em học thầy học bạn, học cách tự vươnlên tự lậpđể trưởng thành Vì vậy, mỗi bài giảng của thầy cô vô cùng quan trọngđối với các học trò, đăc biệt là đối với học sinh lớp 6 Các em mới rời xa giađình, mới làm quen với bậc học mới bao nhiêu điều bỡ ngỡ lạ lẫm, các em rấtcần được hỗ trợ và giáo dục kĩ năng sống Trong những năm gần đâyviệc dạyhọc tích hợp những kiến thức liên môn vào giảng dạy được áp dụng rộng rãitrong các nhà trường Đặc biệt là giáo dục kĩ năng sống nhằm phát huy năng lựccho học sinh được quan tâm trong việc đổi mới phương pháp dạy học
Trên cương vị công tác của bản thân , tối đã có những nghiên cứu, thựcnghiệm những phương pháp dạy học phù hợp nhất, tối ưu nhất để áp dụng vàogiảng dạy nhằm phát huy hiệu quả dạy học, đáp ứng yêu cầu của bộ môn “ Vănhọc là nhân học” với mục tiêu làm sao để học sinh yêu thích môn ngữ văn giữathời kì công nghệ số nhưng cũng hình thành được kĩ năng sống cho các em Tôi
đã nghiên cứu làm đề tài SKKN sau đây: Tích hợp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh qua văn bản:Thầy bói xem voi và Chân,Tay,Tai,Mắt ,Miệng trong chương trình Ngữ văn lớp 6
Với tâm nguyện chia sẻ cùng đồng nghiệp để làm sao cho tất cả chúng tacùng đem lại hứng thú học tập cho học sinh đối với môn Ngữ văn trong thời kìcông nghệ 4.0 này
1.1.L ý do chọn đề tài
Trong giảng dạy hiện nay vấn đề dạy học tích hợp liên môn đang gây nhiềutranh cãi và có nhiều giáo viên chưa biết dạy tích hợp ra sao đặc biệt là tích hợptrong môn Ngữ văn, nếu tích hợp không khéo léo sẽ làm mất chất văn của tiết
Trang 2dạy Đặc biệt là việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong giai đoạn hiệnnay là vấn đề của xã hội quan tâm Với những học sinh ở môi trường Nội Trúcác em xa gia đình việc giáo dục cho các em những kĩ năng sống cơ bản là vôcùng cần thiết Xuất phát từ thực tiễn đó mà tôi chọn đề tài này.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Tôi nghiên cứu đề tài SKKN này với mục đích là nâng cao chất lượng giờdạy môn Ngữ văn ở trường PTC2 DTNT- Ngọc Lặc và qua môn học tôi muốntích hợp giáo dục kĩ năng tổng cho học sinh phù hợp với lứa tuổi , với hoàn cảnhsống và sinh hoạt của học sinh nội trú Qua đó các em biết vượt khó khăn vươnlên sống tự lập khi sống xa gia đình Giúp các em hoàn thiện nhân cách để trởthành những công dân tốt Cái quan trọng nhất là học sinh thấy yêu môn Ngữvăn chất lượng môn học được nâng cao và các em biết yêu thương, chia sẻ đoànkết và sống tốt ở môi trường nội trú
Lí do nữa tôi cũng mong muốn chia sẻ kinh nghiệm, tiếp thu và học hỏi từcác đồng nghiệp để nâng cao hơn nữa chất lượng chuyên môn của bản thân
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng:
- chương trình Ngữ văn 6 tập 1
- Phần văn học dân gian- thể loại truyện ngụ ngôn
- Học sinh lớp 6A, 6B trường PTC2 DTNT huyện Ngọc Lặc
* Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu trong phạm vi giảng dạy văn bản Tiết 42 và tiết 47 theophân phối chương trình Ngữ văn 6 hiện hành
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 6 qua dạy học tích hợp
1.4 Phương pháp nghiên cứu
* Tiếp cận nội dung nghiên cứu: Tham khảo tài liệu dạy học tích hợp
- Tiếp cận với lí luận về kĩ năng sống;
- Tiếp cận với bài giảng Ngữ văn 6
- Đối tượng tiếp cận con người là học sinh lớp 6
- Tiếp cận đổi mới phương pháp dạy học
* Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu tâm lí học sinh
- Điều tra khảo sát chất lượng học sinh
- Nghiên cứu thực tiễn và tổng hợp kinh nghiệm
1.5 Những điểm mới của Sáng Kiến Kinh Nghiệm
-Sáng Kiến Kinh Nghiệm mới không phát triển từ Sáng Kiến KinhNghiệm cùng chủ đề từ những năm trước mà làm mới dựa trên nhữngnghiên cứu mới
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Trang 3A Những cơ sở để vận dụng phương pháp dạy học lồng ghép tích hợp nhằm rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông:
a.Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại hiện đang
được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thếgiới Ở nước ta, từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây, vấn đề xây dựng mônhọc tích hợp với những mức độ khác nhau mới thực sự được tập trung nghiêncứu, thử nghiệm và áp dụng vào nhà trường phổ thông, chủ yếu ở bậc Tiểu học
b.Thuật ngữ kỹ năng sống là một thuật ngữ tương đối mới trong dạy học,
nó bắt đầu xuất hiện trong các trường THPT ở Việt Nam vào những năm
1995-1996 thông qua dự án “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chốngHIV/ AIDS cho thanh thiếu nhi trong và ngoài nhà trường ”do UNICEF phối hợpvới bộ GD&ĐT cùng Hội chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện Từ đó đến nay cónhiều cơ quan tổ chức trong và ngoài nước tiến hành giáo dục kĩ năng sống gắn vớigiáo dục các vấn đề xã hội như: phòng chống ma túy,phòng chống mại dâm, phòngchống buôn bán phụ nữ và trẻ em, bảo vệ môi trường,…Giáo dục phổ thông nước
ta những qua đã có những đổi mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp gắn với bốn
trụ cột giáo dục thế kỉ XXI là: Học để biết, học để làm và học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống, mà thực chất là một cách để tiếp cận kỹ năng
sống Đặc biệt rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh đã được Bộ GD&ĐT xác định
là một trong năm nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông.
a1 Kỹ năng:
Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về mộthoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống
a.2 Kỹ năng sống ( KNS):
Kỹ năng sống là khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân
có đầy đủ khả năng đối phó có hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sốnghằng ngày
Nói một cách dễ hiểu, đó là khả năng nhận thức của bản thân (giúp mỗingười biết mình là ai, sinh ra để làm gì, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, mình
có thể làm được làm gì?)
(Theo tồ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hiệp Quốc định nghĩa)
a.3 Khái niệm giáo dục kỹ năng sống (GDKNS):
Trang 4GDKNS là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinhnhằm giúp học sinh có những kiến thức về cuộc sống, có những thao tác, hành
vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội như quan hệ của cá nhân với
xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người và của cá nhân vớichính mình, giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn đồngthời thích ứng tốt nhất với môi trường sống
a.4 Nguyên tắc giáo dục Kỹ năng sống:
Giáo dục kỹ năng sống thông qua các nguyên tắc :
- Tương tác: KNS không thể được hình thành qua việc nghe giảng & tự đọctài liệu Cần tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động, tương tác với giáo viên
và với nhau trong quá trình giáo dục
- Trải nghiệm: Người học cần được đặt vào các tình huống để trải nghiệm
và thực hành
- Tiến trình: Giáo dục KNS không thể hình thành trong “ngày một, ngàyhai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình:
Nhận thức hình thành thái độ thay đổi hành vi
- Thay đổi hành vi: Mục đích cao nhất của giáo dục KNS là giúp người họcthay đổi hành vi theo hướng tích cực
- Thời gian: Giáo dục KNS cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiệncàng sớm càng tốt đối với trẻ em
B Một số kỹ năng sống cơ bản:
a Kỹ năng giao tiếp
- Là kỹ năng làm việc có hiệu quả với một tập thể, cá nhân; ứng xử của mỗingười khi tiếp xúc với người khác; thái độ cảm thông và ý thức hợp tác của mỗingười; khả năng bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc đối với người khác
b Kỹ năng tự nhận thức bản thân
- Là khả năng hiểu về chính bản thân mình: khả năng, sở thích, sở
trường, điểm yếu ý thức được mình đang làm gì
Tác dụng : Giao tiếp , ứng xử phù hợp, hiệu quả với người khác, cảm thôngvới mọi người, có quyết định đúng đắn phù hợp với bản thân
d Kỹ năng ra quyết định: Bao gồm 3 bước:
+ Thu thập thông tin càng đầy đủ càng tốt
Trang 5Là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huốngcăng thẳng như là sự tất yếu của cuộc sống, hiểu nguyên nhân và ứng phó tích cựckhi bị căng thẳng.
i Kỹ năng hợp tác
- Kỹ năng hợp tác là kỹ năng cần thiết của mỗi cá nhân, được hình thànhtrong quá trình tham gia hoạt động trong một nhóm (có thể từ 2 người trở lên) đểcùng nhau hoàn thành một công việc
- Mỗi cá nhân đều có mặt mạnh riêng Sự hợp tác trong nhóm giúp mỗi cánhân đóng góp năng lực, sở trường riêng cho lợi ích chung của nhóm, đồng thờihọc tập và chia sẻ kinh nghiệm được từ các thành viên khác
k Kĩ năng từ chối
- Là nghệ thuật nói không với những điều người khác đề nghị nhưng bảnthân mình không thích, không muốn và không có khả năng thực hiện nhưng lạikhông làm tổn thương lớn đến mối quan hệ vốn có
C Phương thức tổ chức GDKNS:
- Phương thức tổ chức GDKNS trong trường THCS hiện nay không thể
bố trí thành một môn học riêng mà KNS phải được GD ở mọi lúc, mọi nơi khi
có điều kiện, cơ hội phù hợp, do đó GDKNS phải thực hiện phong phú, đa dạngthông qua từng môn học và trong các hoạt động giáo dục.Cụ thể:
3.1 Thông qua dạy học các môn học;
3.2 Thông qua chủ đề tự chọn;
3.3 Thông qua hoạt động GD ngoài giờ lên lớp;
3.4 Thông qua hoạt động câu lạc bộ
D Cách dạy học tích hợp bài: Thầy bói xem voi và Chân, tay, tai, mắt, miệng: (căn cứ theo hướng dẫn chuẩn kiến thức.)
d.1.Kiến thức:
- Đặc điểm của nhân vật, sự kiện, cốt truyện trong một tp ngụ ngôn
- Ý nghĩa giáo huấn sâu sắc của truyện ngụ ngôn
- Nghệ thuật đặc sắc của truyện: mượn truyện loài vật để nói chuyện conngười, ẩn bài học triết lí; tình huống bất ngờ, hài hước, độc đáo
d.2 Kĩ năng:
- Đọc - hiểu văn bản truyện ngụ ngôn
- Liên hệ các sự việc trong truyện với những tình huống, hoàn cảnh thực tế
- Kể lại được truyện
d.3 Thái độ:
- Giáo dục rèn luyện cho học sinh ý thức thận trọng, tính khiêm tốn, ý thứccầu tiến,
- Đối với học sinh nội trú, đặc biết là đối với học sinh lớp 6, lần đầu tiên các
em sống xa nhà , xa bố mẹ , xa gia đình, việc dạy học lồng ghép kĩ năng sống cho các
em thích nghi với cuộc sống tập thể là vô cùng cần thiết
2.2 Thực trạng của vấn đề dạy học tích hợp ở trường PTC2 DTNội Trú huyện Ngọc Lặc.
a Cơ sở thực tiễn:
Trang 6a.1 Thuận lợi:
- Đối với đội ngũ trong nhà trường: Vấn đề dạy học tích hợp kĩ năngsống vào bộ môn cho học sinh ở trường phổ thông đã được triển khai khá rộngrãi và khá quen thuộc đối với giáo viên nhất là đối với giáo viên thuộc các bộmôn Văn, Sử, Địa GDCD,
- Trong chương trình giáo dục môn học của nhà trường phần lớn việc giáodục kĩ năng sống đã được triển khai và phổ biến sâu rộng nhất là trong các buổihoạt động ngoại khoá theo chủ đề của nhà trường, trong các buổi hoạt động ngoàigiờ lên lớp, các buổi sinh hoạt đầu giờ, sinh hoạt cuối tuần và đặc biệt là trong cácgiờ học bộ môn nên đại đa số giáo viên và học sinh đã khá quen thuộc Vì vậy khi
tổ chức triển khai thực hiện bản thân thân tôi và đồng nghiệp luôn nhận được sựủng hộ nhiệt tình của Ban Giám Hiệu, Phụ huynh và nhất là học sinh
- Đối với phụ huynh: Một vài năm gần đây, tầm quan trọng của bộ mônNgữ văn, đặc biệt việc lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng sống vào bộ môn đượcđại đa số phụ huynh và học sinh nhận thức đúng đắn và ủng hộ nhiệt tình nên đã có
sự quan tâm sâu sắc hơn cả về vật chất và tinh thần trong quá trình học tập và rènluyện bộ môn
Trên đây là những thuận lợi cơ bản góp phần thắng lợi trong việc thực hiệnmục tiêu mà trong đề tài tôi đã lựa chọn
- Đối với học sinh:
Học sinh nội trú các em ở lại trong tập thể mọi sinh hoạt đều gắn bó với tậpthể, ngôi trường chính là ngôi nhà thứ hai của các em, mỗi thầy cô giáo giống nhưngười thân các em ở trong gia đình nên việc dạy dỗ các em sẽ dễ dàng hơn
a.2 Khó khăn:
- Do đặc thù bộ môn, môn Ngữ văn là một bộ môn thuộc nhóm môn khoahọc xã hội - phần lớn học sinh và phụ huynh còn coi nhẹ bộ môn mà hướng cáccon thiên về các bộ môn KHTN để định hướng ngành nghề sau này Chính vì vậy
đa số học sinh ít có hứng thú học tập, khi học còn mang tính chất đối phó và gượng
ép
Mặt khác, khi dạy học bộ môn thời lượng để cung cấp đầy đủ dung lượngkiến thức theo phân phối chương trình đã quy định còn hạn chế vì vậy người giáoviên còn nặng về việc cung cấp kiến thức, coi nhẹ việc giáo dục tích hợp lồng ghép
và rèn luyện KNS cho học sinh; Hoặc ngược lại khi chuẩn bị tranh ảnh, tình huống,
…phục vụ cho nội dung tích hợp kỹ năng sống trong bài giảng thì thời gian lại quá
ít không đủ để giáo viên truyền tải hết đơn vị kiến thức cần đạt Và như sẽ ảnhhưởng không nhỏ đến tiến độ chương trình đặt ra Do đó việc tích hợp lồng ghéprèn luyện kỹ năng sống ít hoặc không được giáo viên sủ dụng thường xuyên Hoặcđôi lúc một số giáo viên còn chưa thực sự đầu tư, chưa dành tâm huyết với bộ mônnên chất lượng dạy học chưa cao nhất là nội dung tích hợp kỹ năng sống cho họcsinh chưa hiệu quả
- Tài liệu hướng dẫn, tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu dạyhọc tích hợp và rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh còn nhiều hạn chế nên khigiảng dạy GV còn gặp nhiều khó khăn
Trang 7- Các hoạt động tập thể của nhà trường phong phú, đa dạng nhưng thờigian vẫn còn quá ít dẫn đến việc RLKNS cho học sinh ở bộ môn Ngữ văn nóiriếng và ở các môn học nói chung chưa thực sự đạt hiệu quả cao để đáp ứng vớinhu cầu thực tế.
- Trong giai đoạn hiện nay, sự bùng nổ thông tin, với nhiều thông tinthiếu lành mạnh đang tác động mạnh đến đời sống làm cho thế hệ trẻ có nhiềubiểu hiện nhận thức lệch lạc và sống xa rời các giá trị đạo đức truyền thống, tìnhtrạng bạo lực học đường có tổ chức ngày một gia tăng Mặt khác, do ảnh hưởngcủa nền kinh tế thị trường các gia đình không có nền tảng vững chắc như tìnhtrạng: Cha mẹ ly hôn, gia đình phá sản, một bộ phận gia đình còn mãi mê buôn
ba làm ăn phó thác con cái cho nhà trường cho nên một số không ít các em đã bịlôi cuốn vào lối sống ảo, thực dụng, đua đòi, không đủ bản lĩnh nói “không” vớicái xấu Hoặc một số gia đình có điều kiện còn quá nuông chiều con emmình,thường xuyên bao bọc kỹ càng trong môi trường khá nhỏ hẹp của gia đình
Vì vậy các em không được dạy thậm chí cha mẹ không thích giáo viên dạy chocon em mình để hiểu về giá trị của cuộc sống cũng như những KNS cần có tronghiện tại và tương lai
- Học sinh trường PTC2 DTNT Huyện Ngọc Lặc được tuyển từ 23 xãhuyện Ngọc Lặc, cho nên đối tượng học sinh có nhiều thành phần dân tộc khácnhau Mỗi em được sinh ra ở một vùng quê khác nhau nên điều kiện sống khácnhau Có một số học sinh ở các xã vùng sâu, chưa va chạm, chưa có kĩ năngsống tập thể cho nên việc dạy học của GV cũng gặp nhiều khó khăn
b Thực trạng của việc chưa lồng ghép dạy học tích hợp và rèn luyện
kỹ năng sống cho học sinh ở trường PTC2 DTNội Trú huyện Ngọc Lặc.
Từ những thực trạng trên, cuối năm học 2017-2018 tôi đã tiến hành khảosát chất lượng học sinh khối lớp 6 (6A, 6B) và đạt kết quả đạt được cụ thể quabảng tổng hợp như sau:
- Về chất lượng giáo dục kĩ năng sống:
Lớp TổngHS Chưa biết KNS
Nhận biếtđược KNS
Hiểu cácKNS
Vận dụng
có hiệu quảKNS
Trang 8Cũng từ đây, giáo viên có điều kiện củng cố thêm cho mỗi học sinh thái độ nhậnthức đúng đắn, sự tự tin hơn trong suy nghĩ và hành động của mình, giúp các em đễdàng vươn tới cái "chân , thiện, mỹ " của cuộc sống hiện tại và tương lai.
- Đối với học sinh trường nội trú các em ở tập thể nghĩa là các em phải cósống cuộc sống tự lập, phải tự lo cho đời sống của cá nhân mình Qua câu chuyện,các em sẽ hiểu rõ hơn về các kĩ năng sống cần thiết trong xã hội như tinh thần đoànkết , đùm bọc sẻ chia, hay cách đánh giá nhìn nhận một sự vật sự việc phải đánh giámột cách tổng thể, từ đó các em vận dụng vào tổ chức các hoạt động tập thể mộtcách có hiệu quả Các em biết yêu thương biết sẻ chia, đoàn kết giúp đỡ nhau khikhông có gia đình bên cạnh,biết nhận lỗi và sửa lội khi mình mắc lỗi, cái quantrọng hơn là các em biết đánh giá đúng sai các hành vi của mình để có các kĩ năngsống tốt hơn
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện:
a Những yêu cầu đặt ra:
a.1 Đối với đội ngũ cốt cán chuyên môn:
- Tham mưu với BGH nhà trường động viên khích lệ giáo viên bộ mônnhất là giáo viên Ngữ văn tự tin hơn vào vai trò bộ môn của mình, không ngừnghọc hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đổi mới phương pháp nhằm nângcao chât lượng giảng dạy bộ môn
a.2 Đối với giáo viên bộ môn trong tổ:
- Không ngừng nâng cao nhận thức sâu sắc về vai trò tầm quan trọng của
bộ môn và nhất là tầm quan trọng của nội dung tích hợp lồng ghép kỹ năng sốngvào mỗi tiết học cho học sinh
a.3 Đối với phụ huynh, học sinh:
- Giáo viên bộ môn cần dành nhiều thời gian gặp gỡ phụ huynh để trao đổi,động viên, quan tâm tìm hiểu hoàn cảnh gia đình tạo sự gắn bó thân mật để phụhuynh thực sự dành nhiều sự quan tâm chăm sóc tới con em mình góp phần phốikết hợp với nhà trường nâng cao hiệu quả giáo dục
- Giáo viên thường xuyên gần gũi quan tâm tới các đối tượng học sinh đểnắm bắt được tâm tư nguyện vọng của các em từng bước cùng các em tháo gỡnhững vướng mắc, những khó khăn Thậm chí giúp các em vượt qua những cám dỗcủa cuộc sống, thoát khỏi lối sống ảo, tự tin nói “không” với những cái xấu
- Giáo viên thường xuyên tuyên truyền tới đông đảo phụ huynh học sinh vềvai trò và tầm quan trọng của kỹ năng sống đối với lứa tuổi học sinh nhất là họcsinh THCS trong giai đoạn hiện nay nhằm mở rộng nâng cao tầm nhận thức củacác tầng lớp phụ huynh học sinh
b Công tác giảng dạy chính khóa:
Giáo viên cần:
- Bám sát những mục tiêu giáo dục chuẩn kiến thức kĩ năng của môn học
về : Thái độ, kĩ năng bộ môn, thái độ Từ đó xác định vấn đề cơ bản để lồngghép giáo dục Kỹ năng sống cho phù hợp với nội dung bài học và phù hợp vớiđối tượng học sinh
Trang 9- Giáo dục KNS trong môn học Ngữ văn, theo đặc trưng của môn học, làgiáo dục theo con đường “ Mưa dầm thấm lâu” nhẹ nhàng, tự nhiên, không gượng
ép Từ đó Tạo niềm tin, sự hứng thú học tập bộ môn và cao hơn là giúp các em cónhững kỹ năng sống cơ bản trong cuộc sống hiện tại và tương lai
c Vận dụng phương pháp lồng ghép, tích hợp rèn luyện KNS qua tiết học văn bản “Thầy bói xem voi và Chân, tay, tai, mắt, miệng”
c.1 Phương pháp chung:
c.2 Xác định từng kĩ năng sống sẽ áp dụng trong bài:
A Đối với tiết 42, văn bản :“ Thầy bói xem voi”
- Kĩ năng tự nhận thức bản thân: Đối với các thầy bói xem voi, các thầymỗi người chỉ sờ được một phần của con voi vì bị mù cho nên các thầy tưởng đóchính là đặc điểm của con voi Các thầy không biết rằng đó chỉ là một bộ phận củacon voi cho nên khi ngồi lại các thầy cãi nhau dẫn đến không ai chịu ai và đánhnhau toác đầu chảy máu Kĩ năng sống rút ra là: Khi đánh giá nận xét về một sự vậthiện tượng gì đó, phải có cái nhìn đầy đủ toàn diện
Kĩ năng giao tiếp: Năm ông thầy bói vì không biết lắng nghe nhau, aicũng cho là mình đúng và người khác sai nên cuối cùng đánh nhau toác đầuchảy máu mà hình thù con voi vẫn chưa tường tận
Bài học Kĩ năng sống rút ra đó là khi giao tiếp cần biết lắng nghe, chiasẻ,bày tỏ quan điểm của mình nhưng khi trao đổi, tranh luận cần tránh xung độtmới đạt được kết quả giao tiếp tốt
Kĩ năng làm chủ bản thân: Trong cuộc tranh luận và miêu tả con voi, thầybói nào cũng cho là “con voi” của mình là đúng, vì không kiềm chế được bảnthân nên cuộc xô xát đã diễn ra
Bài học Kĩ năng đó là cần kiềm chế bản thân, tích cực học hỏi để nângcao tri thức cho tương xứng với công việc, biết giữ mình để tạo ra sự đoàn kết
và đồng thuận từ mọi người
Kĩ năng hợp tác: truyện Thày bói xem voi là một trong những bài học về
sự hợp tác Rõ ràng, mỗi thầy chỉ xem có một bộ phận của con voi, nếu biết “ghép” lại với nhau thì sẽ ra một con voi hoàn chỉnh, nhưng vì thiếu sự hợp tácnên không đạt được mục tiêu là biết con voi, lại còn dẫn đến mất đoàn kết
Bài học Kĩ năng sống là cần bắt tay nhau trong công việc, vì một mụcđích chung, biết đưa ra ý tưởng của bản thân nhưng cũng cần lắng nghe ý kiếncủa người khác, tôn trọng lẫn nhau, không ích kỉ, cố chấp
Kĩ năng ứng phó với tình huống căng thẳng: Sự căng thẳng sẽ làm người
ta mất tập trung vào công việc hoặc hủy diệt một phần cuộc sống
Trong truyện năm ông thầy bói cố chấp, tranh cãi nhau dẫn tới căng thẳng
và cuối cùng là xô xát, đánh nhau
Bài học Kĩ năng sống rút ra được đó là cần có cái nhìn tích cực hơn, biếtkiềm chế bản thân, suy nghĩ tích cực để giảm bớt căng thẳng, thậm chí có thểlựa chọn cách rút lui, chuyển hướng suy nghĩ, thương lượng, tâm sự với ngườikhác …để giải tỏa
Trang 10Kĩ năng thương lượng: Sự cố chấp, ai cũng cho là mình đúng còn các thầykhác đều không đúng, không phải nên năm ông thầy bói cuối cùng vẫn chả biếtđược con voi.
Kĩ năng thương lượng rút ra qua truyện đó là cần biết lắng nghe, đặt mìnhvào vị trí của người đối diện, cần có thái độ mềm mỏng, sáng suốt và trong từngtrường hợp cụ thể cũng cần có tính quyết đoán
B Tiết 47 Văn bản: “Chân , Tay ,Tai, Mắt, Miệng”
Đối với tiết này, giáo viên tích hợp lồng ghép giáo dục cho học sinh kĩnăng sống biết hợp tác, đoàn kết, thương yê và chia sẻ khó khăn trong cuộc sốngbiết làm chủ bản thân không sống ích kỉ nhỏ nhen, biết nhường nhịn nhau tronghọat động tập thể, sống hòa mình với tập thể, không ích kỉ cá nhân
Như vậy để một tiết dạy học Ngữ văn nói chung, tiết dạy truyện ngụ ngônlồng ghép nội dung giáo dục Kĩ năng sống nói riêng thành công đòi hỏi người giáoviên phải có sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt các phương pháp mới vào từng bàisoạn, từng tiết dạy cụ thể
Hoặc: Khi kết thúc nội dung này rồi GV có thể cho HS liên hệ bản thân:Nếu là em khi sống trong môi trường đó em sẽ có cách xử sự như thế nào?(Sống gần gũi, đoàn kết cùng tìm hiểu thêm về cuộc sống xung quanh)
Như vậy qua đây giáo viên đã giáo dục cho các em kĩ năng giao tiếp, kĩnăng tự nhận thức
Hoặc khi dạy đến nội dung : Thầy bói xem voi
GV hỏi: nếu em đang sống ở vùng thôn bản xa xôi, khi được ra thành phốtham gia giao thông em có thái độ như thế nào?
* Tích hợp trong phần Luyện tập, củng cố cuối bài:
Sau khi đã giảng xong nội dung chính của bài, giáo viên có thể nêu vài câuhỏi như:
Hệ thống câu hỏi đó có thể là: Em rút ra được bài học gì cho bản thân quakết thúc của câu chuyện Chân Tay, Tai,Mắt Miệng
Qua việc trả lời các câu hỏi trên để học sinh từ đó rút ra các kĩ năng sống cóliên quan như: Kĩ năng hợp tác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm chủ bản thân, kĩnăng ứng phó với tình huống căng thẳng
d.Phương pháp dạy:
- Phương pháp đi từ lí thuyết đến thực tế:
+ Bước 1: GV dặt câu hỏi
+ Bước 2: HS trả lời
+ Bước 3: GV liên hệ thực tế
- Phương pháp đi từ thực tế đến lí thuyết :
Trang 11+ Bước 1: GV đưa ra tỡnh huống
+ Bước 2: HS trả lời
+ Bước 3: GV rỳt ra nội dung bài học
Cỏch dạy học tớch hợp bài: Thầy búi xem voi và Chõn, tay, tai, mắt, miệng:
(căn cứ theo hướng dẫn chuẩn kiến thức.)
Kiến thức:
- Đặc điểm của nhõn vật, sự kiện, cốt truyện trong một tp ngụ ngụn
- í nghĩa giỏo huấn sõu sắc của truyện ngụ ngụn
- Nghệ thuật đặc sắc của truyện: mượn truyện loài vật để núi chuyện conngười, ẩn bài học triết lớ; tỡnh huống bất ngờ, hài hước, độc đỏo
e.Phương phỏp cụ thể qua thiết kế giỏo ỏn mẫu
Tất cả những mong muốn và kinh nghiệm của bản thõn được thể hiện quagiỏo ỏn cụ thể sau:
- Đặc điểm nhõn vật, sự kiện, cốt truyện trong một tỏc phẩm ngụ ngụn
- í nghĩa giỏo huấn sõu sắc của truyện ngụ ngụn
- Cỏch kể chuyện ý vị, tự nhiờn, độc đỏo
2 Kỹ năng
- Đọc - hiểu văn bản truyện ngụ ngụn
- Liờn hệ cỏc sự việc trong truyện với những tỡnh huống, hoàn cảnh thựctế
- Kể diễn cảm truyện Thầy búi xem voi.
3 Thỏi độ :
- Cú thỏi độ đỏnh giỏ ,nhỡn nhận sự vật , sự việc một cỏch toàn diện ,khụng chủ quan, phiến diện
B Phương phỏp, kĩ thuật và phương tiện dạy học
- Phõn tớch gợi tỡm, nờu vấn đề, bỡnh giảng, phỏt vấn đàm thoại.
- Động nóo, đặt cõu hỏi
C Tổ chức các hoạt động dạy- học
* Hoạt động 1: Khởi động
* Hoạt động 2: Bài mới
GV giới thiệu bài