Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, với bản chất là hình thành và pháttriển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử với những ngườikhác và với xã hội, khả năng ứng phó tích
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Nhà văn Lỗ Tấn từng nói: “Ước mơ không phải là cái gì sẵn có, cũng không phải là cái gì không thể có Ước mơ giống như con đường chưa có, nhưng con người phải khai phá và vượt qua” Câu nói đó đã trở thành phương
châm và động lực sống mạnh mẽ cho bản thân tôi, và cũng là điều tôi luôn tâmniệm, đề cao khi giáo dục học sinh Tôi cho rằng ai cũng có thể học được bất cứđiều gì cần thiết để hiện thực hóa ước mơ của mình, nếu có đủ nghị lực và ý chí.Vậy điều gì làm nên những nghị lực và ý chí đó từ học sinh? Chúng ta đã khơidậy điều đó ở học sinh như thế nào? Tôi đang muốn nói đến vấn đề về giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh trên ghế nhà trường
Luật giáo dục năm 2005 tại điều 2 đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Như vậy, mục tiêu giáo dục phổ thông đã chuyển từ chủ yếu là trang bịkiến thức cho học sinh sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặcbiệt là năng lực hành động, năng lực thực tiễn, năng lực tự học, lòng say mê họctập và ý chí vươn lên
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, với bản chất là hình thành và pháttriển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử với những ngườikhác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộcsống rõ ràng là phù hợp với mục tiêu của giáo dục hiện nay Là một giáo viênvăn, tôi thiết nghĩ rằng môn Ngữ văn là phương tiện thích hợp nhất để giáo dục
kĩ năng sống cho học sinh “Văn học là nhân học” Nó không đơn thuần chỉ là
một môn nghệ thuật mà còn là một môn học luôn gắn bó mật thiết với cuộcsống Giáo dục kĩ năng sống cho các em là điều vô cùng cần thiết và các tácphẩm truyện- với những đặc trưng riêng biệt của nó có luôn khả năng truyền tảinhiều thông điệp về cuộc sống để dễ dàng lồng ghép giáo dục kĩ năng cho các
Trang 2phẩm truyện ngắn ẩn chứa trong đó rất nhiều giá trị sống, kĩ năng sống nếuchúng ta thực sự biết cách khai thác Hơn nữa, việc giáo dục kĩ năng sống chohọc sinh thông qua các giờ học Văn chính là một con đường vô cùng hiệu quảbởi tính thẩm mĩ và tính giáo dục mà nó mang lại Đây cũng là một trong nhữngvấn đề tôi trăn trở.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này tôi đã áp dụng cho học sinh khối 8 Trường THCS Thị Trấn nơitôi đang trực tiếp giảng dạy trong các năm học vừa qua Tôi mong muốn gópmột phần nhỏ bé của mình tạo sự cuốn hút trong giờ học văn, giúp học sinh yêuthích, say mê môn học này Đồng thời, đề tài cũng nhằm giáo dục thêm cho các
em một số kĩ năng sống cần thiết để áp dụng vào thực tế
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Tôi đã nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài nói chung và phươngpháp dạy học Ngữ Văn gắn liền với hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho họcsinh nói riêng ở THCS Ngoài ra, tôi còn nghiên cứu tài liệu bồi dưỡng giáo viêndạy thay sách THCS; trao đổi vối đồng nghiệp của mình, tham khảo các sángkiến của các đồng nghiệp trong trường, huyện về chuyên môn Ngữ văn và trêncác phương tiện thông tin đại chúng
1.5 Những điểm mới của Sáng kiến kinh nghiệm.
Sáng kiến này tôi đã đưa ra được cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn
đề giáo dục kĩ năng sống Đặc biệt, với một số truyện ngắn trong chương trình Ngữ văn 8 học kì 1, tôi cũng đã chỉ ra từng kĩ năng có thể giáo dục đối với từng
bài (cụ thể hơn qua truyện ngắn “ Lão Hạc” của Nam Cao)
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Quan niệm về kỹ năng sống
Có nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng sống
- Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO định nghĩa kỹ năng sống là "khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày" Kỹ năng sống
được chia thành 2 loại là kỹ năng tâm lý xã hội và kỹ năng cá nhân, lĩnh hội
và tư duy, với các yếu tố như: tự nhận thức, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn
đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử với người khác, ứng phó với các tình huống căngthẳng và cảm xúc, biết cảm thông, tư duy bình luận và phê phán, cách quyếtđịnh, giao tiếp hiệu quả và cách thương thuyết Kĩ năng sống là khả năng để
có hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quảtrước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày
- Theo Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên Hợp Quốc(UNESCO), Kĩ năng sống gắn với bốn trụ cột của giáo dục:
+ Học để biết(Learning to know)
Gồm các kỹ năng tư duy so sánh, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, raquyết định giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả
+ Học làm người(Learning to be)
Trang 3Gồm các kỹ năng: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhậnthức, tự tin
+ Học để sống với người khác(Learning to live together)
Gồm các kỹ năng như: Giao tiếp, thương lượng, tự khẳng đinh, hợp tác,làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông-chia sẻ
Tại nhiều nước phương Tây, thanh thiếu niên đã được học những kỹ năngsống về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện và đươngđầu với những khó khăn và cách vượt qua những khó khăn đó cũng như cáchtránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực giữa người và người
2.1.2.Nguyên tắc giáo dục Kĩ năng sống
Nguyên tắc 5 chữ T: Tương tác, trải nghiệm, tiến trình, thay đổi hành vi,thời gian
- Tương tác: KNS không thể được hình thành qua việc nghe giảng và tự
đọc tài liệu Cần tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động, tương tác với giáoviên và với nhau trong quá trình giáo dục
- Trải nghiệm: Người học cần được đặt vào các tình huống để trải nghiệm
và thực hành
- Tiến trình: Giáo dục KNS không thể hình thành trong “ngày một, ngày
hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình:
Nhận thứchình thành thái độ thay đổi hành vi
- Thay đổi hành vi: Mục đích cao nhất của giáo dục KNS là giúp người học
thay đổi hành vi theo hướng tích cực
- Thời gian: Giáo dục KNS cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện
càng sớm càng tốt đối với trẻ em
2.1.3 Các kĩ năng sống cơ bản
5.1 Kĩ năng giao tiếp
- Là kỹ năng làm việc có hiệu quả với một tập thể, cá nhân; ứng xử của mỗingười khi tiếp xúc với người khác; thái độ cảm thông và ý thức hợp tác của mỗingười; khả năng bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc đối với người khác
Trang 45.3 Kỹ năng xác định giá trị:
Giá trị là những gì con người cho là quan trọng (vật chất, tinh thần) kĩ năngxác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ những giá trị của bản thân mìnhTác dụng : Tôn trọng giá trị của mọi người; có quyết định đúng đắn phùhợp với bản thân
5.4 Kỹ năng suy nghĩ sáng tạo
Cách thức, phương pháp tự tư duy độc lập để tìm ra giải pháp tối ưu trongcác tình huống cuộc sống
Cách tạo ra suy nghĩ sáng tạo:
+ Tổng hợp từ tri thức và kinh nghiệm của cuốc sống
+ Dựa trên các qui luật của chuyên ngành và phương pháp tư duy để phântích
+ Liên hệ với thực tiễn, điều kiện của mình
+ Chủ động đưa ra giải pháp của mình
+ Trao đổi với người có liên quan để xử lý
Lưu ý: Trước khi hỏi phải suy nghĩ chủ động, kể cả suy nghĩ cách hỏi
vị kỷ và phục tùng, phụ thuộc
5.8 Kỹ năng đặt mục tiêu
- Mục tiêu được thể hiện bằng ngôn ngữ cụ thể, không chung chung, viễnvông, lượng hoá được kết quả cụ thể để có thể kiểm định được
- Xác định các bên liên quan (chủ trì, phối hợp trong thực tiễn)
- Xác định thời gian hoàn thành, các mốc thời gian trung gian
- Có nguồn lực đảm bảo
5.9 Kỹ năng ứng phó với tình huống căng thẳng
Là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huốngcăng thẳng như là sự tất yếu của cuộc sống, hiểu nguyên nhân và ứng phó tíchcực khi bị căng thẳng
5.10 Kĩ năng hợp tác
- Kỹ năng hợp tác là kỹ năng cần thiết của mỗi cá nhân, được hình thànhtrong quá trình tham gia hoạt động trong một nhóm (có thể từ 2 người trở lên) đểcùng nhau hoàn thành một công việc
Trang 5- Mỗi cá nhân đều có mặt mạnh riêng Sự hợp tác trong nhóm giúp mỗi cánhân đóng góp năng lực, sở trường riêng cho lợi ích chung của nhóm, đồng thờihọc tập và chia sẻ kinh nghiệm được từ các thành viên khác
5.11 Kĩ năng từ chối
- Là nghệ thuật nói không với những điều người khác đề nghị nhưng bảnthân mình không thích, không muốn và không có khả năng thực hiện nhưng lạikhông làm tổn thương lớn đến mối quan hệ vốn có
5.12 Kĩ năng thương lượng
* Một số nguyên tắc trong thương lượng
- Nêu câu hỏi nếu có thắc mắc
- Nên cung cấp thông tin
- Gợi ra những khoản nhân nhượng có đi có lại
- Đưa ra những dự kiến của mình
- Phối hợp tốt tính kiên quyết và tính mềm mỏng, trong mọi hoàn cảnh giữcho được sáng suốt, tỉnh táo
- Biết lắng nghe và hiểu rõ vấn đề
- Có khả năng đứng ở địa vị bên kia để nhận định sự việc theo quanđiểm của họ cũng như theo quan điểm của mình
2.1.4 Phương pháp giáo dục Kĩ năng sống
Hiện nay, đa số học sinh sống trong hai môi trường có hoàn cảnh khácnhau: một là các em được sự quan tâm chăm sóc quá sức chu đáo của phụ huynh
vì sống trong gia đình ít con, hoàn cảnh kinh tế ổn định; hai là những em sốngtrong gia đình với nhiều lo toan cho cuộc mưu sinh, phụ huynh bỏ mặc con cái.Môi trường hoàn cảnh khác nhau ấy lại thường cùng mang đến cho các emmột thiếu sót lớn trong từng bước trưởng thành, đó là kĩ năng sống Vì vậy, việcgiáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở qua học tập – sinh hoạt ởtrường là điều hết sức cần thiết
Theo đó, bằng trách nhiệm, bằng kinh nghiệm và vốn sống của mình, giáoviên cần từng bước một giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua từng bàidạy, thông qua các hoạt động ở trường, ở lớp
Giáo dục kỹ năng sống không phải là để nói cho trẻ biết thế nào là đúng thếnào là sai như ta thường làm Cũng không phải là rao truyền những lời hay ýđẹp để chúng vào tai này rồi ra tai kia Các phương pháp cổ điển như giảng bài,đọc chép sẽ thất bại hoàn toàn vì chúng chỉ cung cấp thông tin, mà từ thông tin
và nhận thức đến thay đổi hành vi thì khoảng cách còn rất lớn
Giáo dục kỹ năng sống là giúp trẻ nâng cao năng lực để tự lựa chọn nhữnggiải pháp khác nhau Quyết định phải phát xuất từ trẻ Vì thế, học phải hết sứcgần gũi với cuộc sống hay ngay trong cuộc sống Nội dung phải phát xuất từchính nhu cầu và kinh nghiệm của trẻ Trẻ cần có điều kiện để cọ xát các ý kiếnkhác nhau, trao đổi kinh nghiệm, tập tành, thực hành, áp dụng; trẻ phải tham giachủ động vì có thế trẻ mới thay đổi hành vi Dưới đây là một số phương pháptiêu biểu:
Trang 66.1 Phương pháp động não
Động não là phương pháp giúp cho học sinh trong một thời gian ngắn nảysinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó Đây là mộtphương pháp có ít để (lôi ra) một danh sách các thông tin
- GV nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểutrước cả lớp hoặc trước nhóm Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiếncàng nhiều càng tốt
- Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên học sinh, đặc biệt là những em nhútnhát, trở nên bạo dạn hơn; các em học được cách trình bày ý kiến của mình biếtlắng nghe có phê phán ý kiến của bạn; từ đó, giúp trẻ dễ hoà nhập vào cộngđộng nhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt
6.2 Thảo luận nhóm
Như bản thân tiêu đề của phương pháp đã ngụ ý thực chất của phương phápnày là để học sinh bàn bạc, trao đổi trong nhóm nhỏ Thảo luận nhóm được sửdụng rộng rãi nhằm giúp cho mọi học sinh tham gia một cách chủ động vào quátrình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẽ kiến thức, kinh nghiệm, ýkiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến bài học đồng thời cũng phát huyđược kĩ năng giao tiếp, hợp tác, ra quyết định…
6.3 Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “ Làm thử” một
số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giảngdạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vàomột sự kiện cụ thể mà các em quan sát được Việc “diễn” không phải là phầnchính của phương pháp này và hơn thế điều quan trọng nhất là sự thảo luận sauphần diễn ấy Qua đó học sinh có thể
6.4 Phương pháp nghiên cứu tình huống (hay nghiên cứu các trường hợp điền hình)
Nghiên cứu tình huống thường là một câu chuyện được viết nhằm tạo ramột tình huống “ thật” để minh chứng một vấn đề hay loạt vấn đề Đôi khinghiên cứu tình huống có thể được thực hiện trên video hay một băng cátset màkhông phải trên dạng chữ viết Vì tình huống này được nêu lên nhằm phản ánhtính đa dạng của cuộc sống thực, nó phải tương đối phức tạp, với các dạng nhânvật và những tình huống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản.Phương pháp này giúp học sinh rèn kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng ra quyếtđịnh hay hợp tác…
6.5 Phương pháp trò chơi
Trò chơi là phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu một vấn đề haythực hiện những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một tròchơi nào đó.Cùng với học tập, giao lưu với bạn bè, vui chơi cũng là một nhu cầucủa thanh thiếu niên học sinh Lí luận và thực tiễn đã chứng tỏ rằng: nếu biết tổchức cho thanh thiếu niên vui chơi một cách hợp lí, lành mạnh thì đều mang lạihiệu quả giáo dục Qua trò chơi, lớp trẻ không những được phát triển về các mặttrí tuệ, thể chất, thẩm mĩ mà còn được hình thành nhiều phẩm chất và hành vitích cực Chính vì vậy, trò chơi được sử dụng như là một phương pháp dạy học
Trang 7quan trọng về kĩ năng sống như kĩ năng hợp tác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tưduy sáng tạo, làm chủ bản thân.
2.1.5 Đặc trưng của thể loại truyện ngắn
Truyện ngắn là “Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ.” Như vậy, ấn tượng mà truyện ngắn để lại, thứ nhất nằm ở hình thức (dung lượng), thứ hai là nằm ở khả năng tác động mạnh
mẽ và tức thì Điều này được Edgar Allan Poe – người được tôn vinh khai sinh
ra truyện ngắn hiện đại – đã nêu trong Triết lý về soạn tác (The Philosophy of Composition): “Nếu như một tác phẩm văn học quá dài, không thể đọc được một lèo, chúng ta bỏ mất hiệu quả quan trọng phát sinh từ sự thống nhất ấn tượng – bởi vì, nếu như phải đọc làm hai lượt (hai lèo), những công việc trên đời này sẽ xen vào và cái tổng thể lập tức bị phá hủy”
Thể loại truyện ngắn đang ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn.Phương thức căn bản để cấu trúc một truyện ngắn có sự thay đổi đáng kể Thay
vì chọn lựa những chuyện ly kỳ, hấp dẫn, gây bất ngờ như truyện ngắn thế kỷXIX hoặc đầu thế kỉ XX (Edgar Poe hay O’Henry chẳng hạn), những cây búthiện đại tỏ ra ưa chuộng hơn những sự kiện đời thường nhưng được trình diễnbằng một lối kể tinh xảo, không dành cho loại độc giả đọc vội Trong những
truyện ngắn của Hemingway như Rặng đồi tựa đàn voi trắng, Một nơi sạch sẽ
và sáng sủa… thật ra chẳng có hành động cụ thể nào diễn ra Hay như các truyện trong lòng bàn tay của Kawabata, cũng không dung chứa sự kiện gì
đáng kể, chỉ là một gì đó mơ hồ, một cảm xúc bảng lảng, giống như những rungđộng thơ ca
Chính những biến đổi sâu sắc của thể loại truyện ngắn khiến cho mọi địnhnghĩa về nó trở nên chật hẹp và mọi tiêu chí đưa ra không được thỏa mãn trọnvẹn Thế nhưng, đó lại chính là điểm mạnh của truyện ngắn, khẳng định tính đadạng, sức sống mạnh mẽ của thể loại này trong thời đại ngày nay
Có thể gọi truyện ngắn là thể loại của thời hiện tại Bởi mọi định nghĩa về
nó vẫn chưa được hoàn thiện Và cái chính, tác động của truyện ngắn là tức thời
và liền mạch Nó tạo một lát cắt, bất ngờ đặt người đọc vào đâu đó giữa lòngcuộc sống rồi cứ thế đẩy anh ta đi tiếp Truyện ngắn không đòi hỏi người đọcphải bao quát được nhiều tầng của hiện thực, nó chỉ là một khoảnh khắc đượcngưng đọng, một tia sáng được soi chiếu, thành ra người đọc dễ dàng đến vớitruyện ngắn trong bất cứ thời gian nào, bối cảnh nào Ký ức nó để lại bao giờcũng tươi rói và đầy ấn tượng, trong khoảnh khắc ấy, phút giây ấy Cho nên,không đầy sự hoài vọng như thơ hay tùy bút, không vươn mình kể những gì dàirộng như tiểu thuyết, truyện ngắn thản nhiên bày biện một cách gọn ghẽ mộthiện tại hiện tồn Dường như, truyện ngắn là thể loại thích hợp hơn cả để thểhiện những đoạn cắt cuộc đời Bởi quá khứ đã trôi qua, tương lai thì chưa tới,những mảnh vụn tâm tình chỉ có thể dành cho hiện tại
Hơn thế, trong nhịp sống hối hả ngày nay, con người có chút ít thời gian đểlật vội những trang báo, tạp chí hay kích chuột trên màn hình vi tính để tìm đọc
Trang 8những sáng tác văn chương, truyện ngắn trở thành thể loại “hợp thời” và cầnthiết cho công cuộc duy trì văn hóa đọc của quần chúng.
2.1.6 Khả năng giáo dục kĩ năng sống của truyện ngắn
Truyện ngắn là một thể lọai tự sự cỡ nhỏ nên học sinh có thể dễ dàng nắmbắt cốt truyện và hiểu được những giá trị, tư tưởng mà người viết muốn gửi gắmqua mỗi tác phẩm Đó thường là những trải nghiệm, những băn khoăn, trăn trởcủa người cầm bút trước cuộc đời Và đằng sau mỗi trang viết ấy, ta bắt gặp cảmột nỗi niềm và những giá trị sống đích thực mà mỗi con người cần hướng tới
Xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt khi học sinh được tiếp cận với sự hiệnđại tối tân của công nghệ thông tin thì dường như tâm hồn, tình cảm của các emngày càng trở nên khô cứng Những giá trị sống hằng ngày về lòng biết ơn, tìnhyêu thương giữa người và người hay gần gũi hơn với các em là tình thầy cô, bạn
bè dần phai nhạt Thay vào đó là sự chạy đua của các mốt thời thượng, của sựhọc đòi theo thần tượng, là những vụ bạo lực học đường hay những trận chiến ảoảnh của những trò chơi game Còn đâu những nghĩa cử cao đẹp của tinh thầnđoàn kết, hòa hợp; còn đâu những tình bạn chân chính trong lứa tuổi học sinh vàcòn đâu những niềm cảm thông, chia sẻ trước những mảnh đời bất hạnh vẫn cònquá thương tâm xung quanh các em? Làm thế nào để các em có thể thay đổi thái
độ sống thờ ơ và ích kỉ ấy?
Các truyện ngắn trong Sách giáo khoa Ngữ văn 8, dù là văn học Việt Namhay tác phẩm văn học nước ngoài đều hướng tới ngợi ca những phẩm chất, mốiquan hệ tốt đẹp giữa người và người Những tác phẩm này, phần nào có thể giáodục và định hướng cho các em những giá trị sống cơ bản, giúp các em hìnhthành nhân cách và tư tưởng đúng đắn
Ví dụ: “Lão Hạc” của Nam Cao là một trong những truyện ngắn xuất sắc
của nền Văn học hiện đại Việt Nam Tác phẩm không chỉ có giá trị hiện thực,nhân đạo, giá trị nghệ thuật đặc sắc mà còn có giá trị nhân văn cao cả Thôngqua truyện ngắn này, chúng ta có thể giáo dục được học sinh rất nhiều kĩ năng
và giá trị sống Giúp hình thành nhân cách và giúp các em có vốn sống phongphú hơn
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Trong những năm gần đây, tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội có xuhướng gia tăng Đặc biệt, xuất hiện những vụ án giết người, cố ý gây thương tích
mà đối tượng gây án là hoc sinh và nạn nhân chính là bạn hoc và thầy cô giáocủa họ Bên cạnh đó, sự bùng phát hiện tượng hoc sinh phổ thông hút thuốc lá,uống rượu, tiêm chích ma túy, quan hệ tình dục sớm, thậm chí là tự sát khi bịvướng mắc trong cuộc sống Nhiều em học giỏi, nhưng ngoài điểm số cao, khảnăng tự chủ và kĩ năng giao tiếp lại rất kém Các em sẵn sàng đánh nhau, sa đàvào các tệ nạn xã hội, thậm chí liều lĩnh từ bỏ cả mạng sống Có nhiều nguyênnhân khác nhau dẫn đến tình trạng trên, nhưng theo các chuyên gia giáo dục,nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu kỹ năng sống Các em chưa bao giờ đượcdạy cách đương đầu với những khó khăn của cuộc sống như cha mẹ ly hôn, giađình phá sản, kết quả hoc tập kém Các em không được dạy, không có nhiều cơhội trải nghiệm thực tế hay được định hướng để hiểu về giá trị của cuộc sống
Trang 9Thực tế, việc giáo dục toàn diện cho hoc sinh, trong đó có kĩ năng sống ởnước ta còn rất hạn chế Nhà trường vẫn còn quan niệm dạy học là dạy kiến thứcchứ chưa dạy các em thái độ, kĩ năng ứng xử trong các mối quan hệ (với conngười, với môi trường thiên nhiên…) Trong khi đó, giáo viên đến lớp phần lớn
là cung cấp kiến thức quá nhiều nên không dành thời gian giáo dục kĩ năng sốngcho các em Giáo viên chủ nhiệm cả tuần chỉ có 1 tiết sinh hoạt lớp nên đôi khikhông có thời gian để nắm tình hình từng em
Ngoài ra, tôi còn nhận thấy giáo viên trong quá trình giảng dạy các truyệnngắn chỉ đơn thuần hướng dẫn học sinh tiếp cận và tìm hiểu tác phẩm thông quaphần đọc hiểu Từ đó, giáo viên cùng học sinh rút ra giá trị nội dung và giá trịnghệ thuật của văn bản Rõ ràng, việc áp dụng hay đưa vấn đề giáo dục kĩ năngsống cho học sinh thông qua các truyện ngắn còn hạn chế, thậm chí có giáo viêncòn không thực hiện Bản thân tôi, trước khi áp dụng sáng kiến này cũng rơi vàotình trạng như thế Sau nhiều năm nghiên cứu, học hỏi, tiếp thu, tôi nhận thấyphương pháp dạy học lồng ghép giáo dục kĩ năng sống thực sự mang lại hiệuquả cao hơn, mang tính thực tiễn nhiều hơn Thái độ và hiệu quả của các họcsinh khối 8 tôi dạy có sự thay đổi đáng kể theo chiều hướng tích cực
Đối với năm học 2018 -2019, trong 63 em học sinh khối 8 của trường tôinhận thấy:
- Chỉ 35% các em có kĩ năng giao
tiếp tốt
- Chỉ 57% tự nhận thức được năng
lực, sở thích, sở trường của bản thân,
hoàn cảnh của gia đình, nhu cầu của
xã hội
- Chỉ 40% có khả năng tự giải quyết
các vấn đề của bản thân, của tập thể
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1 Xác định rõ mục tiêu cần đạt khi giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường THCS qua các giờ học Ngữ văn
Về kiến thức: Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc
cũng như các giá trị tốt đẹp của nhân loại; góp phần củng cố, mở rộng và bổsung, khắc sâu kiến thức đã học về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, giađình, nhà trường và xã hội, về định hướng nghề nghiệp; nhận thức được sự cầnthiết của các kĩ năng sống giúp cho bản thân sống tự tin, lành mạnh, phòng tránhđược các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất, tinh thần củabản thân và người khác; nhận thức được những giá trị cốt lõi làm nền tảng cho
các KNS.Ví dụ: Khi dạy văn bản “Ôn dịch thuốc lá” của Nguyễn Khắc Viện
(Ngữ Văn 8) giúp cho HS nhận thức được tác hại to lớn, nhiều mặt của việc hútthuốc lá đối với đời sống cá nhân và cộng đồng Từ đó, giúp cho các em có kĩnăng từ chối, đưa ra quyết định đúng đắn để bản thân không rơi vào tệ nạn này
Trang 10Về kĩ năng: Có kĩ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm, biết ứng xử linh
hoạt, hiệu quả và tự tin trong các tình huống giao tiếp hàng ngày; có suy nghĩ vàhành động tích cực, tự tin, có những quyết định đúng đắn trong cuộc sống; có kĩnăng quan hệ tích cực và hợp tác, biết bảo vệ mình và người khác trước nhữngnguy cơ ảnh hưởng đến an toàn và lành mạnh của cuộc sống (tệ nạn xã hội,HIV/AIDS, bạo lực, nạn xâm hại tinh thần, thể xác ); giúp HS phòng ngừanhững hành vi, nguy cơ có hại cho sự phát triển của cá nhân
Về thái độ: Hứng thú và có nhu cầu được thể hiện các kĩ năng sống mà bản
thân đã rèn luyện được đồng thời biết động viên người khác cùng thực hiện các
kĩ năng sống đó; hình thành và thay đổi hành vi, nhất là những hành vi liên quanđến lối sống lành mạnh, có trách nhiệm với bản thân, bạn bè, gia đình, cộngđồng; có ý thức về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường
và xã hội; có ý thức định hướng nghề nghiệp
* Một số lưu ý khi tích hợp giáo dục KNS qua tiết Ngữ văn
- Bám sát những mục tiêu giáo dục KNS, đồng thời đảm bảo mạch kiếnthức, kĩ năng của giờ dạy Ngữ văn Cần dựa theo chuẩn kiến thức kĩ năng củamôn học mà xác định vấn đề cơ bản, chủ yếu nhất trong giáo dục KNS phù hợpvới kiến thức cơ bản của bài học để giáo dục cho học sinh Không biến giờ họcNgữ văn thành giờ ngoại khóa về KNS, cần đi đúng trọng tâm giờ học
- Tiếp cận giáo dục KNS theo hai cách: nội dung và phương pháp dạy học,trong đó nhấn mạnh đến cách tiếp cận phương pháp Nghĩa là thông qua nộidung và phương pháp dạy học để giáo dục KNS cho học sinh chứ không phảitích hợp vào nội dung bài dạy Rèn luyện KNS cho học sinh thông qua các giờhọc bộ môn
- Giáo dục KNS trong môn học Ngữ văn, theo đặc trưng của môn học, là
giáo dục theo con đường “ Mưa dầm thấm lâu” nhẹ nhàng, tự nhiên, không
gượng ép
- Đưa những nội dung giáo dục tiêu biểu cho các dạng bài học, bên cạnh đó
có “độ mở” tạo điều kiện cho giáo viên có thể phát huy tính linh hoạt trong việcvận dụng các tình huống giáo dục
- Phải tăng cường đổi mới phương pháp dạy học; đa dạng hóa các hình thứchoạt động của học sinh trong tiết học để tạo sự hứng thứ, chủ động, tích cực họctập của các em
- Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, sưu tầm tư liệu, hình ảnhsinh động trong các tiết dạy phần văn bản để hiệu quả giảng dạy Ngữ văn đượcnâng lên
2.3.2 Một số kĩ năng sống được giáo dục qua các tác phẩm truyện ngắn Ngữ văn 8 tập 1
1 Truyện ngắn “Tôi đi học" của Thanh Tịnh
Với truyện ngắn này, giáo viên giúp học sinh nắm được nội dung của văn
bản: "Trong cuộc đời mỗi con người, kỉ niệm trong sáng của tuổi học trò nhất là buổi tựu trường đầu tiên, thường được ghi nhớ mãi Thanh Tịnh đã diễn tả dòng cảm xúc này bằng nghệ thuật tự sự xen miêu tả và biểu cảm, cùng với những rung động tinh tế"
Trang 11Qua đây, giáo viên hình thành và giáo dục cho học sinh một số kĩ năngsống như:
- Kĩ năng suy nghĩ sáng tạo: Dòng cảm xúc trong sáng, những kỉ niệm mơn
man, bâng khuâng của nhân vật tôi được ghi lại qua các thời điểm : khơi nguồnnỗi nhớ, cảm giác trên đường cùng mẹ đến trường, khi đứng giữa sân trường,khi nghe gọi tên và rời mẹ vào lớp học cho đến khi ngồi vào lớp học với tiết họcđầu tiên Với truyện này, giáo viên có thể gợi dẫn để học sinh lần lượt chỉ racác chi tiết, hình ảnh trong văn bản giúp làm nổi bật tâm trang của nhân vật tôi
trong ngày đầu tiên đi học qua kĩ năng suy nghĩ sáng tạo.
- Kĩ năng xác định giá trị bản thân: Qua văn bản, giáo viên giúp học sinh
nhận thức được: Đối với mỗi người những kỉ niệm thời thơ ấu, đặc biệt là kỉniệm về buổi tựu trường đầu tiên có sức ám ảnh và lưu giữ sâu sác trong kí ứcnhư thế nào Từ đó, giúp các em nhận thấy cần sống có ích, sống có trách nhiệmhơn thông qua kĩ năng này
- Kĩ năng giao tiếp: Sau khi tìm hiểu văn bản, giáo viên giúp học sinh cảm
nhận về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm bằng cách trình bày suynghĩ của bản thân
Ví dụ: Trong truyện ngăn" Tôi đi học", tác giả sử dụng biện pháp so sánh
rất hiệu quả Em hãy chép lại và phân tích các so sánh đó Đó có phải là biệnpháp nghệ thuật làm nên thành công của văn bản? (Học sinh trình bày)
2 Truyện ngắn “ Chiếc lá cuối cùng” của O Hen-ri
Với truyện ngắn này, giáo viên giáo dục học sinh kĩ năng xác định giá trị bản thân, kĩ năng nhận thức: mỗi con người sống cần có tình yêu thương và
trách nhiệm với mọi người xung quanh
Qua nhân vật Xiu - một họa sĩ trẻ sống cùng Giôn-xi, vì tình bạn chânchính đã luôn chăm sóc, động viên cô bạn của mình trong mọi tình huống Giáoviên có thể chỉ ra cho học sinh thấy được, không phải ai cũng có được tình bạnchân thành, đáng quý ấy Từ đó giáo dục học sinh kĩ năng sống làm sao để có
được một tình bạn đẹp, biết sống và chia sẻ cùng người khác.
Tác phẩm còn giúp các em phát triển kĩ năng giao tiếp và suy nghĩ sáng tạo
khi đưa ra các câu hỏi về tâm trạng của Giôn –xi, sự thay đổi tâm trạng của côkhi nhìn thấy chiếc lá thường xuân cuối cùng vẫn gan góc bám trụ trên bứctường trước mặt; về kiệt tác mà cụ Bơ-men để lại có giá trị như thế nào
Kết thúc văn bản, giáo viên có thể đặt câu hỏi:
- Tại sao tác giả lại để cho Xiu kể lại câu chuyện về cái chết và nguyênnhân dẫn đến cái chết của cụ Bơ-men?
- Tại sao tác giả chỉ kết thúc câu chuyện bằng lời kể của Xiu?
- Nếu được viết tiếp cái kết cho tác phẩm em sẽ viết như thế nào?
Từ đó, giáo viên giáo dục học sinh kĩ năng ra quyết định
3 Truyện ngắn “ Cô bé bán diêm” của An-đec-xen
Qua câu chuyện giúp cho học sinh biết đồng cảm, chia sẻ nỗi bất hạnh với
em bé bán diêm Đồng thời, văn bản cũng giúp ta có thể hình thành một số kĩnăng khác cho học sinh như:
Trang 12- Kĩ năng giao tiếp: Học sinh trình bày suy nghĩ, phản hồi / lắng nghe tích
cực về tình cảnh đáng thương của cô bé bất hạnh; đồng thời biết cách tóm tắtvăn bản, trình bày bố cục văn bản, nêu suy nghĩ về những lần quẹt diêm của cô
bé cũng như nhận xét về giá trị của tác phẩm
- Kĩ năng suy nghĩ sáng tạo: Từ việc phân tích hoàn cảnh của cô bé bán
diêm, các lần quẹt diêm và giá trị nhân đạo mà nhà văn An-đec-xen gửi gắm qua
tác phẩm giáo viên giáo dục học sinh suy nghĩ sáng tạo.
- Kĩ năng phê phán: Trước cái chết thương tâm của cô bé bán diêm trong
đêm giao thừa ở cuối văn bản giáo viên có thể hỏi: Tình cảm của mọi ngườitrước cảnh tượng ấy? Nó chứng tỏ điều gì? Chính việc trả lời được những câu
hỏi này giúp các em hình thành kĩ năng phê phán: Biết nhận thức trước hành
động sai trái và phê phán nó Điều đó cũng đồng nghĩa với việc học sinh sẽ tự ýthức về việc làm, thái độ của mình trước những hành vi có ý nghĩa tương tự
- Kĩ năng tự nhận thức:
+ Không chỉ tả, tác giả còn bình luận về cái chết, về con người đã chết nhưmột cô tiên ngủ trong đông tuyết An-đec-xen đã nhìn thấy những ước mơ bébỏng, tội nghiệp của những em bé nghèo khổ, bất hạnh, đáng thương, lang thangtrên khắp đất nước Đan Mạch nên ông rất trân trọng và nâng niu chúng Chính
sự đồng cảm, và cảm thông sâu sắc cuả một ngòi bút chứa chan tình cảm nhânđạo đã thắp sáng ước mơ muốn sống cuộc đời tốt đẹp hơn của bao con ngườicùng cảnh ngộ với em Giáo viên giúp các em nhận ra điều đó, giáo dục các em
kĩ năng về sự cảm thông, chia sẻ
+ Cuối tiết học, giáo viên có thể yêu cầu học sinh viết một bài văn ngắn nêu cảm nhận của bản thân sau khi học xong truyện ngắn" cô bé bán diêm".
4 Truyện “ Hai cây phong” trích “ Người thầy đầu tiên” (Ai-ma-tốp)
Trong đoạn trích tryện " Người thầy đầu tiên" của Ai-ma-tôp, hai cây
phong được miêu tả hết sức sinh động bằng ngòi bút đậm chất hội họa Người kểchuyện truyền cho chúng ta tình yêu quê hương da diết và lòng xúc động đặcbiệt vì đấy là hai cây phong gắn liền với câu chuyện về thầy Đuy-sen - người đãvun trồng ước mơ, hi vọng cho những học trò nhỏ của mình Từ việc thấu hiểunội dung đó của đoạn trích, giáo viên xác định các kĩ năng sống có thể lồng ghéptrong bài học:
- Kĩ năng giao tiếp: Hai cây phong trong cái nhìn và cảm nhận của nhân vật
tôi có tiếng nói riêng, tâm hồn riêng, gắn liền với kí ức tuổi thơ của tác giả giáo viên có thể yêu cầu học sinh trình bày suy nghĩ của bản thân sau khi tómtắt văn bản cũng như khi phân tích về hai cây phong bằng kĩ năng giao tiếp
- Kĩ năng suy nghĩ sáng tạo: Đoạn trích là sự đan xen hai ngôi kể tôi và
chúng tôi Dù ngôi kể có thay đổi, có sự lồng ghép của hai thời điểm hiện quá khứ làm cho câu chuyện trở nên sống động, thân mật, gần gũi, ấm áp vàchân thật hơn đặc biệt hình ảnh hai cây phong vẫn là hình ảnh trung tâm gắnliền với tác giả và những người bạn Học sinh có thể đặt ra các câu hỏi: Việcthay đổi ngôi kể có tác dụng gì? Tại sao khi trưởng thành, đã hiểu được nhữngđiều bí ẩn của hai cây phong mà họa sĩ vẫn không vỡ mộng xưa?