Qua thực tế giảng dạy, thông qua việc chấm điểm bài kiểm tra định kỳ, bài thi khảo sát học kỳ của các em, tôi nhận thấy trong bài làm của học sinh, phần mất điểm nhiều nhất là câu nghị l
Trang 1MỤC LỤC
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN 5
2.3.1 Xác định mối quan hệ giữa vấn đề nghị luận với phần đọc
hiểu
8
Trang 23.1 Kết luận 17
MỘT SỐ KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 9 VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN
XÃ HỘI KHOẢNG 200 CHỮ.
1 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Nghị luận xã hội là kiểu bài quan trọng trong chương trình tập làm văn lớp 9, kiểu bài này lại khó hơn kiểu bài nghị luận văn học vì phạm vi của nó rất rộng, đề tài phong phú đa dạng, kết hợp cả kiến thức văn học và cuộc sống Để làm tốt dạng văn này không chỉ đòi hỏi kiến thức văn học, kĩ năng lập luận mà còn là sự thể hiện vốn sống, ý thức quan tâm đến xã hội, bản lĩnh tư duy độc lập
và một thế giới tâm hồn phong phú nhạy cảm chân thành Đặc biệt trong năm học 2018-2019 theo Thông báo số 2268/TB-SGDĐT ngày 19/09/2018 của Giám đốc Sở GDĐT tỉnh Thanh Hóa có sự thay đổi cấu trúc đề thi học sinh giỏi, thi vào 10 đối với tất cả các bộ môn, trong đó môn Ngữ văn Sự thay đổi lớn nhất của môn Ngữ văn theo cấu trúc mới là câu nghị luận xã hội Nếu theo cấu trúc
cũ câu nghị luận xã hội thường là viết một bài văn nghị luận xã hội về một sự việc hiện tượng đời sống hoặc về vấn đề tư tưởng đạo lí thì theo cấu trúc mới câu nghị luận xã hội viết một đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ với nội dung liên quan đến ngữ liệu phần đọc hiểu Có nghĩa là ở câu 1 phần tạo lập văn bản
có sự gắn kết giữa hai phần đọc hiểu và làm văn Đọc hiểu là tiền đề của làm văn và làm văn là biểu hiện một phần nào đó của việc đọc hiểu và vận dụng kỹ năng
Trang 3Qua thực tế giảng dạy, thông qua việc chấm điểm bài kiểm tra định kỳ, bài thi khảo sát học kỳ của các em, tôi nhận thấy trong bài làm của học sinh, phần mất điểm nhiều nhất là câu nghị luận xã hội viết đoạn văn khoảng 200 chữ Bởi với dạng đề này, các em còn lúng túng, có em viết quá dài, có em viết sơ sài, thiếu ý, chưa biết vận dụng kiến thức cuộc sống vào bài viết, nhiều em còn lạc đề… tôi vô cùng trăn trở Trước yêu cầu đòi hỏi nói trên, là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 9 nhiều năm, tôi luôn suy nghĩ làm thế nào để rèn luyện được kĩ năng cho học sinh, giúp các em có kĩ năng làm tốt dạng bài viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ Muốn vậy cần phải trang bị cho các em kỹ năng cơ bản và cần thiết khi vận dụng kiến thức để làm dạng đề này,
đó là kỹ năng xác định đề, kỹ năng tìm ý, kỹ năng lập luận, kỹ năng lấy dẫn chứng…Khơi dậy các em niềm hứng thú, tình yêu đối với văn học, niềm say mê tìm tòi khám phá, vận dụng kiến thức văn học vào cuộc sống, giúp học sinh có cái nhìn bao quát và toàn diện về những vấn đề văn học và đời sống, giúp học sinh thấy được mối quan hệ gần gũi mật thiết giữa văn học và cuộc sống Và cái đích cuối cùng không chỉ giúp các em đạt kết quả cao trong kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, thi khảo sát chất lượng học kỳ II, và thi vào 10 THPT mà còn trang bị các em kiến thức về cuộc sống xã hội, kỹ năng sống, thấy được giá trị của bộ môn văn học đối với cuộc sống con người Xuất phát từ lí do trên nên tôi viết đề
tài “Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh lớp 9 viết đoạn văn nghị luận
xã hội khoảng 200 chữ.” Với mong muốn chia sẻ, trao đổi với các đồng nghiệp
để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Ngữ văn
1 2 Mục đích nghiên cứu
- Đối với giáo viên: Đề xuất một số biện pháp, kinh nghiệm giúp học sinh
lớp 9 viết tốt đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ, nhằm trao đổi với đồng nghiệp một vài kinh nghiệm giảng dạy dạng văn nghị luận xã hội, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy
- Đối với học sinh: Giúp cho học sinh lớp 9 nắm vững hơn phương pháp
làm kiểu bài này, với mong muốn nâng cao chất lượng bài thi, bài kiểm tra và kết quả học tập của các em Giúp học sinh cảm nhận được mối quan hệ giữa văn học với cuộc sống Rèn luyện và nâng cao năng lực viết đoạn văn nghị luận xã hội đạt hiệu quả cao
Bồi dưỡng cho học sinh niềm say mê và hứng thú khi học văn nói riêng và dạng văn nghị luận xã hội nói riêng , từ đó giúp các em yêu thích bộ môn Ngữ văn
1 3 Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh lớp 9 trường TH&THCS thị trấn Quan Sơn -Thanh Hóa
Trang 4Các tiết dạy văn nghị luận xã hội, dạng bài nghị luận viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp thống kế
Phương pháp so sánh, đối chiếu kết quả
Phương pháp trải nghiệm thực tế qua các tiết ôn tập, sửa bài kiểm tra Phương pháp quan sát học sinh trong các tiết học
Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
Sáng kiên kinh nghiệm của tôi không phải là mới, bởi đã có không ít thầy
cô nghiên cứu và viết thành đề tài nghiên cứu khoa học, đặc biệt là các thầy cô giảng dạy THPT Tuy nhiên điểm mới trong sáng kiến của tôi, tìm ra các biện pháp cụ thể, chi tiết hướng dẫn học sinh nắm vững các kỹ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội, giúp học sinh dễ nhận biết, dễ hiểu, phân biệt được viết bài văn nghị luận xã hội với đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ Từ đó giúp học sinh biết cách làm kiểu dạng bài viết đoạn văn nghị luận xã hội rõ ràng hơn, cụ thể hơn
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Ở chương trình tập làm văn lớp 9 các em tiếp cận với hai dạng văn, dạng nghị luận xã hội và nghị luận văn học Nếu nghị luận văn học là trình bày những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện chủ đề…trong tác phẩm thì nghị luận xã hội là bày tỏ suy nghĩ nhận thức, quan điểm cách đánh giá…của người viết về một sự việc hiện tượng phổ biến đang diễn ra trong đời sống hoặc vấn đề tư tưởng đạo lí Để làm tốt dạng văn này đòi hỏi học sinh không chỉ có kiến thức về văn học, về cuộc sống, nhận thức về xã hội mà còn phải có kỹ năng xây dựng luận điểm, lựa chọn luận cứ và kỹ năng lập luận Học sinh khi làm dạng văn này cần dùng dẫn chứng kết hợp với các thao tác lập luận để tăng tính thuyết phục
Nghị luận xã hội có hai dạng bài cụ thể là, nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí Ở kiểu bài nghị luận
xã hội, học sinh qua những trải nghiệm của bản thân, trình bày những hiểu biết,
ý kiến, quan niệm, cách đánh giá, thái độ của mình về các vấn đề xã hội Từ đó rút ra được bài học (nhận thức và hành động) cho bản thân Để làm tốt khâu này, học sinh không chỉ biết vận dụng những thao tác cơ bản của bài văn nghị luận (như giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ ) mà còn
Trang 5phải biết trang bị cho mình kiến thức về đời sống xã hội, phải có dẫn chứng cụ thể thực tế trong cuộc sống thì bài viết mới có sức thuyết phục
Đoạn văn là đơn vị cơ sở của văn bản, diễn đạt một nội dung trọn vẹn và thống nhất Về hình thức đoạn văn mở đầu bằng chỗ lùi đầu dòng, viết hoa và kết thúc bằng dấu chấm ngắt đoạn
Các hình thức trình bày đoạn văn, có ba hình thức trình bày phổ biến: Diễn dịch, quy nạp, tổng –phân- hợp
Trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch là cách trình bày đi từ ý chung, ý khái quát đến các ý cụ thể chi tiết Câu chủ đề mang ý nghĩa khái quát đứng ở vị trí đầu đoạn Các câu còn lại triển khai ý tưởng đã nêu ở câu chủ đề
Trình bày đoạn văn theo cách quy nạp là cách trình bày đi từ ý chi tiết, cụ thể đến các ý chung, khái quát Câu chủ đề mang ý nghĩa khái quát đứng ở vị trí cuối đoạn Các câu phía trên làm nhiệm vụ dẫn dắt, lí giải để có thể đi đến kết luận ở câu chủ đề
Trình bày đoạn văn theo cách tổng –phân- hợp là đoạn văn trong đó câu chủ đề mang ý nghĩa khái quát đứng ở đâu đoạn, mở ra vấn đề cho các câu tiếp theo triển khai ý cụ thể Câu kết đoạn chốt lại vấn đề và nâng cao ý
Bên cạnh đấy trong văn nghị nghị luận nói chung và đoạn văn nghị luận nói riêng cần sử dụng các thao tác lập luận như: Giải thích, chứng minh, phân tích, so sánh, bác bỏ…
Giải thích là dùng lí lẽ để giúp người khác hiểu đúng, hiểu rõ vấn đề Chứng minh là dùng lí lẽ và dẫn chứng trong thực tiễn để giúp người khác tin vào những gì mình nói, viết Bình luận là bày tỏ, đánh giá, bàn luận của bản thân
về một vấn đề nào đó Phân tích là chia tách một vấn đề lớn thành các khía cạnh nhỏ hơn và tìm hiểu thấu đáo các mặt của vấn đề So sánh là đặt hai hay nhiều vấn đề trên cùng một bình diện nào đó để nhận ra điểm giống nhau và khác nhau của chúng Bác bỏ là dùng lí lẽ và dẫn chứng có sức thuyết phục để phủ nhận một ý kiến nào đó
Đoạn văn nghị luận là bộ phận của bài văn Đoạn văn thể hiện một chủ đề tương đối trọn vẹn Nếu như một bài văn nghị luận có nhiều đoạn văn nhằm thể hiện cái nhìn đa chiều cũng như giải quyết vấn đề một cách trọn vẹn thấu đáo thì đoạn văn với gới hạn 200 chữ nhưng cũng thể hiện được cái nhìn, nhận thức của học sinh một cách toàn diện, đầy đủ Như vậy, có thể nói viết được đoạn văn
200 chữ về một vấn đề đặt ra trong phần đọc hiểu thực chất là yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức, kỹ năng làm văn nghị luận để giải quyết một vấn đề cho trước, tạo lập văn bản liên văn bản, có sự gắn kết giữa văn bản đọc hiểu với đoạn văn nghị luận
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1 Thực trạng:
Trang 6- Đối với học sinh
Do đặc trưng của vùng miền, nhất là vùng miền núi, mặc dù sống trên địa bàn thị trấn Quan Sơn nhưng đa số học sinh còn nhiều hạn chế trong việc tiếp thu và cảm thụ văn học và kiến thức cuộc sống, xã hội Một mặt do trình độ nhận thức của số đông học sinh còn hạn chế, phần lớn các em là con em đồng bào dân tộc thiểu số
Trong những năm gần đây, một thực trạng đang tồn tại của học sinh trường Th&THCS Thị trấn Quan Sơn nói riêng và học sinh lớp 9 nói chung do ảnh hưởng cuộc sống hiện đại tiếp cận cuộc cách mạng 4.0 nhiều học sinh bị cuốn hút vào trò chơi điện tử, mạng xã hội…dẫn đến ham chơi, lười học, ngại học văn Vì thế nhiều học sinh đứng trước một đề bài văn các em không xác định được yêu cầu của đề bài, không phân định rõ đó là dạng nghị luận gì, từ đó khó có thể xác định và tìm được hướng đi của bài, thậm chí các em chỉ làm qua loa, đại khái cho xong có em còn làm lạc đề hoặc kết cấu bài làm thiếu ý, đoạn văn thiếu mạch lạc rõ ràng Nhiều em còn mắc các lỗi về dùng từ, diễn đạt có
em còn xác định sai đề, dẫn đến sai kiến thức cơ bản do suy diễn cảm tính, suy luận chủ quan hoặc tái hiện quá máy móc dập khuôn trong tài liệu, thậm chí có chỗ “râu ông nọ cắm cằm bà kia” Cá biệt nhiều em không cần suy nghĩ cách làm, khi giáo viên giao đề văn thì ngay lập tức đi tìm sách tham khảo để xem để chép hoặc dựa vào dàn ý cô giáo cho sẵn để làm dẫn đến bài viết không linh hoạt khô cứng, không chân thật có phần gượng ép, rất hiếm có những bài nghị luận có được sức hấp dẫn, thuyết phục bởi cách lập luận rõ ràng, chính xác, đầy
đủ và chặt chẽ từng luận điểm, luận cứ Bài viết của các em khi thì sai về yêu cầu thao tác nghị quá số lượng độ dài của đề bài qui định, chưa biết lựa chọn các dân chứng tiêu biểu, khi lại không sát, không đúng với nội dung nghị luận của
đề bài Một điều nữa mà ta dễ dàng nhận thấy khi dạy kiểu bài này các em đều quan niệm là bài văn “khô khan” nên bài viết chưa có sức hút, chưa lay động được tâm hồn người đọc
Một thực trạng khá phổ biến nữa, đó là mặc dù kiểu bài nghị luận xã hội các em đã được học ở lớp 7 nhưng hầu hết học sinh lâu ngày đã phôi phai dần quên mất kiến thức lí thuyết Lên lớp 9 thời lượng dành cho các tiết lí thuyết về dạng văn nghị luận xã hội còn ít dẫn đến kĩ năng làm bài còn hạn chế
Đặc biệt trong năm học 2018-2019 đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh và đề thi khảo sát chất lượng học kỳ II của Sở Giáo dục và Đào tạo có nhiều thay đổi trong cấu trúc đề thi Phần Đọc- hiểu có một ngữ liệu với 4 câu hỏi, tổng số điểm 3 điểm Phần tập làm văn gồm hai câu, một câu yêu cầu viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về một vấn đề đặt ra trong phần độc hiểu hai điểm Câu hai là câu nghị luận văn học năm điểm
Trang 7Như vậy, có thể nhận thấy so với đề thi học sinh giỏi và đề thi khảo sát chất lượng học kỳ các năm học trước, phần đổi mới nhiều nhất là câu 1 phần tập làm văn Nếu như trước đây câu 1 văn nghị luận xã hội với yêu cầu viết cả bài văn về một sự việc, hiện tượng đời sống hoặc nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí hoàn toàn độc lập với phần đọc hiểu còn trong đề thi theo cấu trúc mới là viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ bàn về một vấn đề đặt ra trong phần độc- hiểu Đó là sự vận dụng văn bản giải quyết vấn đề cụ thể và liên hệ mở rộng một vấn đề nào đó từ văn bản bằng suy nghĩ, ý kiến của mình hay còn gọi
là liên văn bản Với dạng đề này vì là dạng đề mới nên học sinh còn nhiều bỡ ngỡ và thường vấp các lỗi, vẫn viết như một bài văn hoặc viết quá dài về số chữ
so với yêu cầu của đề bài hoặc viết qúa ngắn không làm sáng tỏ vấn đề, một só
em không biết viết như thế nào? Không những thế kỹ năng diễn đạt của học sinh còn nhiều hạn chế như viết lan man không làm sáng tỏ vấn đề, không viết đúng đặc trung văn nghị luận…Những lỗi này ảnh hưởng đến kết quả, chất lượng của bài kiểm tra
- Đối với giáo viên:
Qua thực tiễn giảng dạy của cá nhân tôi và việc dự giờ đồng nghiệp trường TH&THCS Thị Trấn nói riêng và các trường trong huyện nói chung thông qua các hình thức sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học, tôi nhận thấy trong các tiết dạy lí thuyết về dạng văn nghị luận xã hội, về phần lí thuyết giáo viên còn dạy chung chung, chưa phân biệt và chỉ ra rõ ràng, cụ thể giữa viết bài văn nghị luận và đoạn văn nghị luận khiến kiến thức cơ bản học sinh nắm chàng màng Phần thực hành, giáo viên đã có ý thức ra bài tập rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh, tuy nhiên hệ thống bài tập chưa nhiều, đôi khi chưa cung cấp đầy đủ cách làm các dạng văn nghị luận với đoạn văn nghị luận xã hội dẫn đến học sinh lúng túng khi xác định hệ thống luận điểm Chất lượng giờ dạy chưa đạt kết quả cao
Một thực tế tồn tại giáo viên cũng không thích dạy các tiết tập làm văn bằng các tiết văn bản và các tiết tiếng việt nên ít thầy cô chọn các tiết hội giảng, tiết chuyên đề ngoại khóa về tập làm văn Thậm chí ngay trong các kì thi giáo viên giỏi các cấp các thầy cô cũng không muốn dạy tiết tập làm văn, đặc biệt là văn nghị luận xã hội
Một số giáo viên còn thiếu nhiệt tình, tâm huyết trong công tác giảng dạy Ngại khó, ngại tìm hiểu, ngại đầu tư thời gian và công sức cho việc nghiên cứu tìm ra phương pháp giảng dạy đơn giản nhất để truyền đạt giúp học sinh hiểu được cách làm bài nghị luận xã hội nói riêng và viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ đạt hiệu quả cao
2.2.2 Kết quả của thực trạng:
Trang 8Để khẳng định rõ hơn về thực trạng trên, trong học kì II năm học
2018-2019 khi dạy xong phần lý thuyết bài “Nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí”, để kiểm tra vốn hiểu biết vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực hành của các em Tôi đã ra một đề kiểm tra Ngữ văn học thời gian 90 phút với học sinh lớp 9 trường TH&THCS Thị Trấn Quan Sơn
Đề bài:
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3.0 điểm) : Đọc đoạn thơ sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
Ta làm con chim hót
Ta làm một mùa hoa
Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
(Mùa xuân nho nhỏ- Thanh Hải)
Câu 1 ( 0,5 điểm) Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ gì? Nêu hiểu biết của
em về thể thơ này?
Câu 2( 0,5 điểm) Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào? Em hiểu biết gì về tác giả
qua hoàn cảnh ra đời của bài thơ?
Câu 3 (1,0 điểm) Giải thích nhan đề ý nghĩa của bài thơ.
Câu 4 ( 1,0 điểm): Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ từ vựng
trong hai khổ thơ trên
PHẦN II: TẠO LẬP VĂN BẢN
Câu 1: (2,0 điểm) Từ nội dung văn bản ở phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn
văn 200 chữ (khoảng 20 đến 25 dòng tờ giấy thi) bàn về ước nguyện được cống hiến
Câu 2: (5,0 điểm) Cảm nhận của em về hai khổ thơ đầu trong bài thơ “Viếng
lăng Bác” của Viễn Phương
Với câu 1 phần tạo lập văn bản, kết quả học sinh đạt được:
Sĩ số Bài viết đạt
yêu cầu
Bài viết không đạt yêu cầu Viết thành
bài văn
Viết quá dài
so với số chữ quy định
Viết quá ngắn
Viết lạc đề, không biết xác định đề
Trang 92 10 4 20 4 20 8 40 2 10
Kết quả trên đây cho thấy nguyên nhân mấu chốt là học sinh phần nhiều 90% chưa biết làm bài văn nghị luận dạng bài viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ bàn về văn đề đặt ra trong phần đọc hiểu Vậy nên việc nâng cao, mở rộng, rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội nói chung và viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ nói riêng là rất cần thiết.Trước thực trạng này bản thân tôi đã tìm ra một số biện pháp sau:
2 3 Các biện pháp thực hiện
Để thực hiện tốt dạng văn viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ cần trang bị cho học sinh một số kỹ năng:
Trong phần đọc hiểu, theo cấu trúc đề thi mới gồm 4 câu được xây dựng theo cấp độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng Để làm tốt 4 câu hỏi này, học sinh phải tìm hiểu, khám phá, cắt nghĩa, lí giải nội dung, ý nghĩa của văn bản cũng như rút ra những thông điệp, bài học triết lí cho riêng mình Thông thường câu 3
và câu 4 của phần đọc hiểu có mối quan hệ với câu 1 phần tập làm văn Đây là
cơ sở để vận dụng giải quyết vấn đề trog thực tế đời sống
2.3.2 Kỹ năng phân tích đề:
Trước một yêu cầu của đề bài, bước đầu tiên là xác định đề Đây là bước cực kì quan trọng khi làm bài văn, song thực tế học sinh thường chủ quan ở bước này.Vì khi phân tích đề đúng giúp học sinh xác định đúng mà còn xác định trúng vấn đề tránh lạc đề, xa rời đề Để xác định đề đúng học sinh đọc kỹ đề và cần trả lời câu hỏi đề bàn về vấn đề gì, gạch chân từ khóa trong đề ra- từ thể hiện nội dung vấn đề cần làm sáng tỏ
2.3.3 Kỹ năng tìm ý và lập dàn ý:
Bất kì bài văn hay đoạn văn nào cũng cần tìm ra các ý chính- tìm ra hệ thống luận điểm chính, khung sườn cho đoạn văn Vậy làm thế nào để tìm được
ý Trong phần tìm ý, học sinh cần đặt và trả lời câu hỏi : Vấn đề đặt ra là gì ? Vì sao lại có vấn đề đó? Biểu hiện của vấn đề đó như thế nào? Ý nghĩa của vấn đề
đó đối với cuộc sống con người? Từ vấn đề đó bản thân rút ra bài học gì?
Lập dàn ý: Cần tiến hành gồm ba phần
Phần mở đoạn: dẫn dắt, giới thiệu vấn đề (Có thể dẫn dắt từ hiện thực cuộc sống hay dẫn dắt từ những câu chuyện, những tấm gương, những câu thơ, câu châm ngôn liên quan đến vấn đề nghị luận) Phần này giáo viên yêu cầu học sinh viết ngắn gọn khoảng một đến hai câu
Trang 10Phần thân đoạn, gồm nhiều câu văn có sự liên kết về nội dung và hình thức Các câu văn có nhiệm vụ đưa ra các lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề
Giải thích vấn đề nghị luận, giải thích cấp độ từ, cụm từ, vế câu, cả câu, căn cứ vào từ ngữ then chốt, còn gọi là từ khóa của vấn đề nghị luận Sau đó là bàn luận, phân tích chứng minh vấn đề Thực chất là trả lời câu hỏi: Vì sao lại có vấn đề đó? Biểu hiện của vấn đề đó như thế nào? Ý nghĩa của vấn đề đó đối với cuộc sống con người? lấy một số dẫn chứng tiêu biểu làm sáng tỏ vấn đề Đưa ra
ý kiến nhận xét của người viết về vấn đề nghị luận Mở rộng vấn đề, đưa ra nhữn hiện tượng trái với vấn đề nghị luận Rút ra bài học nhận thức và hành động
Phần kết đoạn: Khái quát khẳng định lại vấn đề Nêu đánh giá, cảm nhận chung của người viết về vấn đề nghị luận, rút ra bài học cho bản thân, hướng phấn đấu Hoặc sau khi đánh giá, khái quát chung vấn đề nghị luận có thể kết lại bằng một câu thơ có ý nghĩa hay một câu nói nói tiếng của vĩ nhân hay một câu châm ngôn nổi tiếng nào đó có liên quan đến vấn đề nghị luận
2.3.4 Kỹ năng trình bày đoạn văn
Cách trình bày đoạn văn, học sinh có thể trình bày và viết đoạn văn theo ba cách phổ biến là diễn dịch, quy nạp, tổng- phân- hợp, tùy theo yêu cầu của đề bài miễn sao đáp ứng yêu cầu của đoạn và và giải quyết vấn đề đặt ra trong văn bản Tuy nhiên để lựa chọn cách trình bày đoạn văn cho phù hợp với vấn đề đặt
ra trong văn bản, học sinh càn xác định được câu chủ đề của đoạn văn, lí giải cảm nhận câu chủ đề một cách sau sắc, toàn diện với cảm xúc, cảm nghĩ chân thành phù hợp với những chuẩn mực đạo đức
2.3.5 Kỹ năng viết đoạn văn
Từ dàn ý có sẵn các em có thể viết thành đoạn văn, bài văn Giáo viên hướng dẫn các em viết thành đoạn văn tiêu biểu : mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn
Để làm tốt kiếu bài viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ cần biết cách vận dụng các thao tác lập luận: giải thích, bàn luận, phân tích, chứng minh…
Kỹ năng viết phần mở đoạn: Phần mở đoạn có vai trò quan trọng, giúp khai thông mạch văn Mở đoạn không những nêu được vấn đề nghị luận mà còn gợi hứng thú, sự tò mò cho người đọc, tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn cho cả đoạn văn Muốn vậy, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh viết phần mở đoạn ngắn gon, súc tích khoảng một đến hai câu Trước một vấn đề đặt ra, giáo viên sẽ làm mẫu cho học sinh hai đến ba cách dẫn dắt vấn đề nghị luận Sau đó yêu cầu học sinh
tự làm viết ra giấy nháp Giáo viên yêu cầu học sinh đọc, các bạn nhận xét và cuối cùng giáo viên nhận xét và chốt lại cho học sinh thấy, tuy cùng một nội dung, một vấn đề nhưng cách diễn đạt không ai giống ai, bởi lẽ vốn ngôn từ,