1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực kết hợp tích hợp kĩ năng sống cho học sinh vào dạy học văn bản thạch sanh (ngữ văn 6)

29 135 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là giáo viên dạy Ngữ văn, nhận thức sâu sắc về mục tiêu chương trình, đặc trưng của bộmôn Ngữ văn và tâm lí tiếp nhận của học sinh đối với môn Ngữ văn, bản thân tôi nhận thấy rằngđổi mới

Trang 1

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 4

0

Trang 2

1 MỞ ĐẦU

1 1 Lí do chọn đề tài

Môn Ngữ văn là một trong những môn học cơ bản nhất giúp học sinh thưởng thức và đánhgiá tác phẩm văn chương ở mức độ nhất định, giúp người học sáng tạo qua con đường tư duytrừu tượng Mặt khác, môn Ngữ văn còn giáo dục học sinh có lòng nhân ái, tính hướng thiện,giúp con người sống với nhau chan hòa, thân ái, biết chia sẻ cùng nhau những buồn vui trongcuộc sống Mỗi lần tiếp xúc với tác phẩm văn chương, các em sẽ thấy mình lớn lên, sống tốt đẹphơn Tác phẩm văn chương thức tỉnh, lay động tâm hồn con người bởi văn chương mang chứcnăng giáo dục thẩm mỹ

Văn học sẽ trang bị cho các em biết bao kiến thức, bao tình cảm tốt đẹp về lòng nhân ái,dũng cảm, ý chí chủ động sáng tạo trong cuộc sống, khát vọng vươn tới cái chân – thiện – mỹ.Hình thành cho các em nhiều ước vọng, tình cảm trong sáng đặt nền móng vững chắc cho các

em bước vào đời, góp phần xây dựng ở các em nhân cách con người Việt Nam mới

Là giáo viên dạy Ngữ văn, nhận thức sâu sắc về mục tiêu chương trình, đặc trưng của bộmôn Ngữ văn và tâm lí tiếp nhận của học sinh đối với môn Ngữ văn, bản thân tôi nhận thấy rằngđổi mới phương pháp dạy học trong môn Ngữ văn là vô cùng cần thiết Bởi vì đổi mới phươngpháp giảng dạy sẽ đề cao vai trò chủ thể của học sinh trong quá trình giảng dạy, giúp các em chủđộng chiếm lĩnh tri thức; biến những tri thức trong sách và bài dạy của giáo viên thành kiến thứccủa mình; nâng cao nhận thức, góp phần hoàn thiện nhân cách của người học (học sinh)

Song song với việc đổi mới phương pháp dạy học thì việc giáo dục kĩ năng sống cho họcsinh cũng là một nội dung hết sức quan trọng Bởi vì “trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chếthị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực vàtiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với nhữngkhó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực Nếu không được giáo dục kĩ năng sống, nếu thiếu

kĩ năng sống, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, lai căng,thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách” [ 1] Ngược lại, người có kĩ năng sống phù hợp

sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tíchcực và phù hợp; họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sốngcủa chính mình

Trang 3

Môn Ngữ văn ở trường THCS có vai trò quan trọng và khá thuận lợi trong việc thực hiệnnhững mục tiêu giáo dục này Bởi vì phần lớn các bài học trong chương trình đều có thể tích hợpgiáo dục kĩ năng sống cho học sinh Song thuận lợi và hiệu quả hơn cả là dạy tích hợp qua cácvăn bản Trong các thể loại văn học ở trường THCS, phần văn học dân gian đặc biệt là phầntruyện cổ tích có rất nhiều nội dung hay để giáo viên có thể lựa chọn tích hợp giáo dục kĩ năngsống cho học sinh Bởi vì, truyện cổ tích thể hiện ước mơ, niềm tin của nhân dân về chiến thắngcuối cùng của cái thiện đối với các ác, cái tốt đối với cái xấu, sự công băng đối với sự bất công.Xuất phát từ những lí do trên, kết hợp với thực tế dạy học của bản thân trong nhiều năm qua,

tôi quyết đinh chọn đề tài: Vận dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực kết hợp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh vào dạy học văn bản “Thạch Sanh” (Ngữ văn 6)

1.2 Mục đích nghiên cứu

Tôi nghiên cứu đề tài này với mong muốn bồi dưỡng năng lực đọc – hiểu văn bản cho họcsinh, phát huy tính tích cực, chủ động của các em trong học tập, góp phần rèn luyện, nâng cao kĩnăng sống cho học sinh Đồng thời, nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong nhàtrường Qua đề tài này, tôi cũng mong muốn được lắng nghe ý kiến góp ý của đồng nghiệp để đềtài của tôi được hoàn thiện hơn

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Học sinh lớp 6 trường trung học cơ sở Yên Thọ năm học 2015 - 2016

- Phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữvăn

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chínhnhư sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết giáo học pháp

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp quan sát thông qua dự giờ

- Phương pháp tìm hiểu, điều tra, phân tích, tổng hợp

- Phương pháp thực tiễn để đúc rút kinh nghiệm

2

Trang 4

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Phương pháp dạy học là một lĩnh vực rất phức tạp và đa dạng Có nhiều quan niệm khácnhau về phương pháp dạy học nhưng ta có thể hiểu chung nhất phương pháp dạy học là conđường hoạt động chung giữa giáo viên và học sinh, trong những điều kiện dạy học xác định,nhằm đạt tới mục đích dạy học

Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ ngắn gọn được dùng ở nhiều nước để chỉnhững phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh

Trong “Luật giáo dục 2005 (Điều 5) quy định: Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích

cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.

Với mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể

chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm

Trang 5

công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số

16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu: Phải

phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” [ 2].

Tính tích cực trong hoạt động dạy- học phải được diễn ra đồng thời giữa thầy và trò Với thầy,

đó là sự tích cực trong khâu soạn giảng, truyền thụ kiến thức Còn với trò, đó là sự tích cực trongnhận thức và sáng tạo Biểu hiện tính tích cực của học sinh là lòng ham mê học tập, tích luỹ kiếnthức và khát vọng thể hiện sự hiểu biết của bản thân để khẳng định mình trước thầy cô, bạn bè.Một học sinh tích cực sẽ không ngần ngại nói ra những ý kiến riêng của mình cho dù ý kiến đã cóthể sai, có thể đi ngược lại với ý kiến của giáo viên và bạn bè Đó là biểu hiện của cái “tôi” cánhân rất cần ở một học sinh trong giai đoạn hiện nay Chính những ý kiến có vẻ lệch lạc đó sẽtạo tiền đề để các em chủ động tiếp nhận, kiểm chứng kiến thức, từ đó khắc sâu kiến thức Đócũng là biểu hiện của lối tư duy độc lập ở học sinh

Trong quá trình dạy - học, người học vừa là đối tượng của hoạt động “dạy”, vừa là chủ thểcủa hoạt động “học” thông qua hoạt động “học” Dưới sự hướng dẫn của thầy, người học phảitích cực cải biến mình về kiến thức, kĩ năng, thái độ hoàn thiện nhân cách Nếu người học không

tự giác, không chủ động, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế.Cho nên người giáo viên phải khơi dậy được hứng thú, sự say mê cho học sinh trong học tậpđáp ứng yêu cầu của điều 2, Luật giáo dục năm 2005: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là đàotạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghềnghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡngnhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc

Như vậy, mục tiêu giáo dục phổ thông đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho họcsinh sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực hành động, nănglực thực tiễn

Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, với bản chất là hình thành và phát triển cho các em khảnăng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năngứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống là phù hợp với mục tiêu của giáo dục phổthông, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông

Tóm lại, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động,sáng tạo của học sinh và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các nhà trường phổ thông nóichung và môn Ngữ văn nói riêng là một yêu cầu tất yếu và rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu đổimới giáo dục phổ thông

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Phòng giáo dục và nhà trường đã tổ chức tập huấn các chuyên đề “Đổi mới phương pháp, kĩthuật dạy học” và “Giáo dục kĩ năng sống” trong môn Ngữ văn cho tất cả các giáo viên đang trựctiếp đảm nhiệm công tác giảng dạy bộ môn Các đồng chí giáo viên đã có ý thức vận dụng cácchuyên đề vào trong quá trình giảng dạy bộ môn Nhưng thực tế việc vận dụng chuyên đề vàogiảng dạy còn gặp không ít khó khăn Một số giáo viên còn lúng túng, thiếu kinh nghiệm trongviệc lựa chọn các phương pháp, kĩ thuật dạy học và các kĩ năng sống cần giáo dục cho học sinhtrong mỗi bài học Một số giờ học giáo viên còn lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy học chưaphù hợp Quá trình tích hợp còn mang tính hình thức, áp đặt, hiệu quả trong việc hình thành kĩnăng sống cho học sinh chưa cao Một số em học sinh còn chưa mạnh dạn, chưa tích cực, chủ

4

Trang 6

động trong quá trình học tập, chưa xác định được ý nghĩa của việc “học đi đôi với hành” Chấtlượng học và hứng thú học tập đối với môn Ngữ văn chưa cao.

Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân:

Thứ nhất, giáo dục kĩ năng sống là một nội dung khó, đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều thời

gian để nghiên cứu kĩ, lựa chọn những nội dung giáo dục của từng bài học trong chương trình

Thứ hai, một bộ phận không nhỏ học sinh và phụ huynh vẫn chưa hiểu hết được vai trò, ý

nghĩa của việc học tập bộ môn Ngữ văn đối với sự hình thành và phát tiển nhân cách của con emnên chưa có sự đầu tư về thời gian, sách vở, tài liệu để các em học tập tốt nhất Một số em họctập theo kiểu chiếu lệ, đối phó với giáo viên, các em chưa có sự say mê tự tìm tòi, nghiên cứuchủ động, tích cực trong học tập

Thứ ba, phương pháp truyền thụ của một số giáo viên chưa thực sự cuốn hút, tạo hứng thú

để học sinh say mê tìm hiểu, khám phá thế giới bằng hình tượng văn chương Đây là lí do hếtsức quan trọng

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

Trong dạy môn Ngữ văn nói chung và dạy tác phẩm truyện dân gian nói riêng, phải phối hợphài hòa nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học, tích hợp giáo dục các kĩ năng sống phù hợp và cầnthiết cho học sinh Hướng các em vận dụng những điều đã học vào thực tiễn cuộc sống

Tâm lí học chứng minh rằng: Nhân cách chỉ được hình thành và phát triển thông qua hoạtđộng giao lưu Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tácgiữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung bài học Thông qua thảo luận, tranh luậntrong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người họcnâng mình lên một trình độ mới

2.3.1 Các phương pháp và kĩ thuật dạy học

Từ kinh nghiệm và cách hiểu của bản thân như trên, trong quá trình giảng dạy, tôi đã vậndụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học sau:

a Các phương pháp: Phương pháp vấn đáp (đàm thoại), phương pháp gợi mở, phương

pháp dạy học nhóm, phương pháp giải quyết vấn đề

b Các kĩ thuật: Kĩ thuật trình bày một phút, kĩ thuật khăn phủ bàn, kĩ thuật động não, kĩ thuật

chia nhóm, kĩ thuật cặp đôi chia sẻ suy nghĩ

2.3.2 Bên cạnh các phương pháp trên, tôi còn sử dụng các phương tiện dạy học hỗ trợ:

Theo tôi, chúng ta nên sử dụng máy chiếu cho hầu hết các phần của bài học Từ kiểm tra bài

cũ đến cung cấp khái niệm về thể loại, giải thích từ khó, trình chiếu khai thác tranh minh họa, đốichiếu kết quả thảo luận nhóm cho đến tổng kết bài

Trang 7

Ưu điểm của việc sử dụng máy chiếu là giáo viên không cần phải ghi chép một số nội dungkiến thức lên bảng Việc trình chiếu một số tranh minh họa sẽ giúp cho bài giảng trở nên sinhđộng, hấp dẫn hơn.

2.3.3 Giáo dục một số kĩ năng sống cần thiết, phù hợp với nội dung bài học

Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các nhà trường phổ thông được thực hiệnthông qua dạy học các môn học và tổ chức các hoạt động giáo dục nhưng không phải là lồngghép, tích hợp thêm kĩ năng sống vào nội dung các môn học và hoạt động giáo dục; mà theo mộtcách tiếp cận mới, đó là sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để tạo điều kiện ,

cơ hội cho học sinh được thực hành, trải nghiệm kĩ năng sống trong quá trình học tập Với cáchtiếp cận này, sẽ không làm nặng nề, quá tải thêm nội dung các môn học và hoạt động giáo dục.Ngược lại, còn làm cho các giờ học và hoạt động giáo dục trở nên nhẹ nhàng hơn, thiết thực và

bổ ích hơn đối với học sinh

Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn được tiếp nhận theo hai phương diện: từ nội dungcác bài học và từ phương pháp triển khai các nội dung bài học Với văn bản “Thạch Sanh”, chúng

ta có thể giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua cả hai hướng trên Tuy nhiên, giáo viên cần lựachọn những kĩ năng sống phù hợp để giáo dục cho học sinh đạt hiệu quả cao nhất phù hợp vớiđặc trưng thể loại và yêu cầu của chuẩn kiến thức, kĩ năng Dạy bài “Thạch Sanh”, giáo viên nênlựa chọn một số kĩ năng sống sau đây để giáo dục cho học sinh như: Kỹ năng giao tiếp, kỹnăng lắng nghe tích cực, kỹ năng hợp tác, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề,

kĩ năng xác định giá trị,

2.3.4 Quá trình tổ chức giờ dạy

Giới thiệu bài: Các em vừa học xong năm truyền thuyết tiêu biểu của truyền thuyết Việt Nam,

đã nắm được các đặc trưng cơ bản của thể loại truyền thuyết, cách đọc - hiểu truyền thuyết Giờhọc hôm nay chúng ta sẽ bắt đầu một thể loại mới - thể loại truyện cổ tích và câu chuyện nổitiếng Thạch Sanh Đây là câu chuyện kể về cuộc đời và chiến công của chàng dũng sĩ ThạchSanh Chiến công của Thạch Sanh cùng với sự hấp dẫn của cốt truyện và các chi tiết thần kì đãlàm câu chuyện được nhiều thế hệ người đọc say mê Bài học này vừa giúp các em biết mộttruyện dân gian nổi tiếng, vừa giúp các em biết những đặc trưng thể loại của truyện cổ tích đểcảm thụ đúng các truyện cổ tích được học

Văn bản này học trong hai tiết Để đạt hiệu quả, giáo viên nên định lượng kiến thức sẽ truyềnthụ trong mỗi tiết

Tiết 1:

I TÌM HIỂU CHUNG

1 Thể loại:

Đây là tác phẩm truyện cổ tích đầu tiên trong chương trình Ngữ văn trung học cơ

sở nên việc khai thác kiến thức về thể loại là một hoạt động quan trọng và cần thiết

vì nó định hướng cho học sinh cách tiếp cận văn bản theo đặc trưng thể loại

Để thực hiện khâu này, GV hướng dẫn HS tìm hiểu định nghĩa truyện cổ tích và rút ra ba đặctrưng thể loại

GV yêu cầu HS đọc thầm định nghĩa truyện cổ tích trong SGK (tr 53 - phần chú thích cuối

truyện Sọ Dừa), trao đổi với bạn bên cạnh để tìm ra các ý chính của định nghĩa.

- GV chốt ba đặc điểm của truyện cổ tích, diễn giải, làm rõ thêm định nghĩa:

6

Trang 8

+ Tính tự sự - đời thường: Là loại truyện dân gian truyền miệng kể về cuộc đời của một sốkiểu nhân vật quen thuộc: nhân vật bất hạnh, nhân vật dũng sĩ, nhân vật có tài năng kì lạ, nhânvật thông minh, nhân vật ngốc nghếch, nhân vật là con vật (GV: Khác với nhân vật của truyềnthuyết là những nhân vật có liên quan đến lịch sử thời quá khứ, có vai trò với lịch sử dân tộc hoặclịch sử một địa phương, nhân vật của truyện cổ tích có cuộc đời và số phận gần gũi với nhândân Họ là những người lao động bình thường nhưng có phẩm chất khác thường, phi thường Họphải chịu nhiều thua thiệt, vượt qua nhiều thử thách trước khi được hưởng hạnh phúc)

+ Có yếu tố hoang đường (GV: Yếu tố “hoang đường” - những gì không có thực, không thểtin được, do trí tưởng tượng của nhân dân sáng tạo ra Đây là yếu tố hình thức nghệ thuật nổi bậtcủa truyện cổ tích thần kì Truyện cổ tích sinh hoạt “Em bé thông minh” không có yếu tố hoangđường, chỉ có yếu tố khác thường)

+ Tính biểu trưng: Thể hiện ước mơ công lí của nhân dân: cái thiện chiến thắng cái ác, cái tốtchiến thắng cái xấu, công lí chiến thắng bạo tàn (GV: Tính biểu trưng của truyện cổ tích khác vớitruyền thuyết - truyền thuyết thể hiện quan niệm, thái độ, cách đánh giá của người xưa với cácnhân vật và sự kiện lịch sử.)

2 Đọc, kể tóm tắt

a Đọc

Để chuẩn bị tốt cho quá trình tiếp thu bài học, ở tiết học trước giáo viên yêu cầu học sinh đọc trước ở nhà truyện “Thạch Sanh” kết hợp với soạn phần Đọc – Hiểu văn bản vào vở soạn.

b Kể tóm tắt

Đây là hoạt động quan trọng và cần thiết, giúp học sinh nắm được các chi tiết chính trong truyện Hoạt động này sẽ giáo dục cho học sinh có được các kĩ năng cần

thiết như kĩ năng giao tiếp Học sinh có thể tự tin nói hoặc sử dụng ngôn ngữ của cơ

thể một cách phù hợp với nội dung của văn bản trước mọi người Mặt khác kể tóm

tắt còn rèn luyện cho các em kĩ năng lắng nghe tích cực Các em học sinh trong lớp

sẽ tập trung chú ý lắng nghe và quan tâm theo dõi phần trình bày của các bạn Từ đó các em có thể ghi nhớ nội dung cốt truyện, các em sẽ học được ở bạn mình các kĩ năng cần thiết, tạo tâm thế thoải mái, hứng thú cho các em trong giờ học và các em

sẽ tiếp thu bài tốt hơn.

Giáo viên yêu cầu HS kể tóm tắt nội dung cốt truyện Trong lớp có nhiều đối tượng học sinhkhác nhau, nếu giáo viên yêu cầu học sinh trung bình hoặc yếu kể lại truyện thì giáo viên có thểgiới thiệu vài hình ảnh để các em kể truyện theo tranh (Hoạt động này các em được làm quenkhá nhiều khi học ở tiểu học)

GV yêu cầu HS quan sát một số bức tranh trên màn hình máy chiếu:

Trang 10

? Qua việc đọc trước ở nhà kết hợp với quan sát tranh, em hãy kể tóm tắt truyện Thạch Sanh

bằng lời văn của em?

(GV khuyến khích học sinh kể với lối diễn đạt không phụ thuộc vào văn bản nhưng vẫn đảmbảo được những tình tiết và sự kiện cơ bản của cốt truyện SGK)

Tóm tắt truyện: Thạch Sanh vốn là thái tử, được Ngọc Hoàng phái xuống đầu thai làm con

của hai vợ chồng người nông dân nghèo, lương thiện Cha mẹ mất sớm chàng sống dưới gốc

đa, làm nghề đốn củi Thạch Sanh kết nghĩa anh em với Lí Thông nhưng toàn bị Lí Thông lợidụng Chàng đã dũng cảm chém chằn tinh, giết đại bàng cứu công chúa nhưng đều bị Lí Thôngcướp công Thạch Sanh bị hồn chằn tinh, đại bàng vu oan và bị bắt vào ngục Nhờ cứu con vuaThủy Tề khi bị nhốt dưới hang nên chàng được tặng cây đàn Chàng ngồi trong ngục đem đàn ragảy, được công chúa nghe thấy và được giải oan Mẹ con Lí Thông bị sét đánh chết hóa kiếpthành bọ hung Thạch Sanh cưới công chúa, dẹp loạn quân mười tám nước chư hầu và lên ngôivua

3 Giải nghĩa từ khó

Trước khi giải nghĩa từ khó trong văn bản, giáo viên nhắc lại các cách giải nghĩa

từ mà học sinh đã học trong chương trình Ngữ văn lớp 6, tiết 11- bài Nghĩa của từ

(Có hai cách giải thích nghĩa của từ: Trình bày khái niệm mà từ biểu thị và đưa ra những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với những từ cần giải thích) Để phù hợp với thời gian tiết học, tôi đã chọn giải thích một số từ ngữ trong bài mà học sinh khó

hiểu: Thái tử, thiên thần, tứ cố vô thân, chằn tinh, trăn, đại bàng, nước chư hầu.

Học sinh giải thích, GV kết luận kết hợp trình chiếu nghĩa của các từ cần giải thích trên màn hình máy chiếu.

Thái tử: Con trai vua, người được chọn sẵn để sau nối ngôi.

Thiên thần: Thần trên trời

Tứ cố vô thân: Không có ai là người thân thích.

Chằn tinh: Một loại yêu quái trong thần thoại, truyện cổ tích.

Trăn: Rắn lớn sống ở rừng nhiệt đới, không có nọc độc, còn dấu vết chân sau, có

Mỗi một tác phẩm văn học có nhiều cách tiếp cận, khám phá (phân tích theo bố cục, phântích theo nhân vật ) Theo tôi với bài này, chúng ta nên hướng dẫn học sinh phân tích theo nhânvật là tốt nhất Bởi truyện cổ tích thể hiện ước mơ, niềm tin của nhân dân về chiến thắng cuối

Trang 11

cùng của cái thiện đối với các ác, cái tốt đối với cái xấu, cái công bằng đối với các bất công Và

nó thường chia thành hai tuyến nhân vật rõ rệt

GV: Các em đã nắm được cốt truyện Thạch Sanh, chúng ta cùng tìm hiểu các nhân vật, sự kiện trong truyện Hãy cho biết truyện cổ tích Thạch Sanh có những nhân vật nào? Nhân vật

a Sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh.

GV yêu cầu HS đọc đoạn văn từ đầu “mọi phép thần thông”

?Tìm những chi tiết kể về sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh?

?Em có nhận xét gì về sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh? Tại sao em lại nhận xét nhưvây?

Sử dụng kĩ thuật động não để giải quyết yêu cầu học tập này.

+Mẹ chàng mang thai nhiều năm mới sinh ra chàng

+ Chàng được thiên thần dạy cho các môn võ nghệ và mọi phép thần thông

? Kể về sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh như vậy, theo em nhân dân muốn thể hiện điềugì?

GV sử dụng kĩ thuật suy nghĩ – thảo luận cặp đôi – chia sẻ để giải quyết yêu cầu học tập này.

* Ý nghĩa của việc kể về sự ra đời bình thường, khác thường đó là:

- Những chi tiết về sự ra đời và lớn lên bình thường của Thạch Sanh nhằm khẳng định:Thạch Sanh là con của người dân thường, cuộc đời và số phận rất gần gũi với nhân dân

- Những chi tiết về sự ra đời và lớn lên khác thường của Thạch Sanh có ý nghĩa:

+ Tô đậm tính chất kì lạ, đẹp đẽ cho nhân vật lí tưởng, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện

10

Trang 12

+ Nhân dân quan niệm rằng, nhân vật ra đời và lớn lên kì lạ như vậy, tất sẽ lập được chiếncông và những con người bình thường cũng là những con người có khả năng, phẩm chất kì lạ,khác thường.

Hết tiết 1, chuyển sang tiết 2

Ở phần a, các em đã được học về sự ra đời, nguồn gốc vừa bình thường vừa khác thườngcủa Thạch Sanh Tiếp theo câu chuyện được tiếp diễn với sự việc nào?

GV: Thạch Sanh được một gã bán rượu tên là Lí Thông gạ kết nghĩa anh em

? Thạch Sanh có đồng ý không? Vì sao?

GV: Vốn mồ côi cha mẹ, tứ cố vô thân, nay có người săn sóc mình, chàng đã cảm động, vui

vẻ nhận lời, từ giã gốc đa, đến sống chung với mẹ con Lí Thông Nhưng cũng từ đây Thạch Sanh

đã phải trải qua rất nhiều những thử thách và cũng lập nhiều chiến công Vậy những thử thách vàchiến công ấy của Thạch Sanh là gì, câu chuyện sẽ kết thúc như thế nào, cô trò mình sẽ cùngnhau giải đáp ở phần b

b, Những thử thách và chiến công

Theo dõi và hình dung lại cốt truyện các em thấy Thạch Sanh đã phải trải qua rất nhiềunhững thử thách và cũng lập rất nhiều chiến công Để tìm hiểu nội dung này cô sẽ hướng dẫncác em cùng nhau hoạt động nhóm:

GV: Giao việc cho 4 nhóm, quy định cách thức hoạt động, thời gian làm việc, hình thức đánhgiá

Nhóm 1:

Đọc thầm đoạn từ “ Năm ấy…nảy ra kế khác”

Trang 13

Nhóm 2:

Đọc thầm đoạn từ “ Đến nơi….lấp kín cửa hang lại”

12

Trang 14

Nhóm 3:

Đọc thầm đoạn từ : “Hồn chằn tinh… gả công chúa cho Thạch Sanh”

Nhóm 4:

Đọc thầm phần còn lại

Ngày đăng: 21/10/2019, 08:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w