Phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợp tác, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu của học sinh”… Một trong những trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoagiáo dục
Trang 1PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Trong nhiều năm qua, Đảng và nhà nước ta rất quan tâm tới giáo dục nói chung vàvấn đề đổi mới phương pháp giáo dục trong trường học nói riêng Đổi mới phương phápgiáo dục là vấn đề luôn được bàn luận một cách sôi nổi, được đề cập trong mỗi cuộc họpchuyên môn ở tất cả các trường học trên cả nước Bộ môn Ngữ văn cũng không nằmngoài quỹ đạo đó.Nghị quyết hội nghị lần II Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII
nêu rõ phương hướng phát triển giáo dục và đạo tạo đến năm 2020: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều Phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợp tác, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu của học sinh”…
Một trong những trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoagiáo dục phổ thông là tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạyhọc dựa vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh với sự tổ chức vàhướng dẫn thích hợp của giáo viên nhằm phát triển tư duy độc lập, sáng tạo gópphần hình thành phương pháp và nhu cầu, khả năng tự học, bồi dưỡng hứng thúhọc tập, tạo niềm tin và niềm vui trong học tập Tiếp tục tận dụng các ưu điểm củaphương pháp truyền thống và dần dần làm quen với phương pháp mới Đổi mớiphương pháp dạy học luôn đặt trong mối quan hệ với đổi mới mục tiêu, nội dungdạy học, đổi mới hình thức dạy học để phù hợp giữa dạy học cá nhân và các nhómnhỏ hoặc cả lớp, giữa dạy học trong phòng và ngoài hiện trường; đổi mới môitrường giáo dục để học tập gắn liền với thực hành và vận dụng Để đạt được mụcđích hoạt động đổi mới của phương pháp dạy học môn ngữ văn cũng như các mônhọc khác là tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, bản thân người giáo viênphải tự tìm tòi phương pháp thích hợp nhằm gây hứng thú cho học sinh Đó làđộng cơ khiến người thầy tâm huyết phải tích cực tìm tòi những phương pháp tối
ưu trong môn Ngữ văn nói riêng và các môn học nói chung
Một trong những phương pháp dạy học mới và hiện đại nhất được đưa vàochương trình là phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy - một phương pháp dạy họcđang được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng
Trang 2Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu, vận dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ tưduy, tôi nhận thấy phương pháp này rất có hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng dạy
và học Ngữ văn Đặc biệt là phương pháp dạy học này đã đem đến cho học sinh cái nhìnmới, tư duy mới về môn Ngữ văn
Xuất phát từ tâm huyết và niềm trăn trở với nghề, tôi đã nghiên cứu và vận dụngphương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy, áp dụng vào các tiết dạy học văn bản văn học
từ lớp 6 – 9 trong nhiều năm liên tục, Vì vậy, trong khuôn khổ bài viết của mình, tôi
mạnh dạn chọn đề tài : “Hướng dẫn học sinh xây dựng bản đồ tư duy trong một tiết
học văn bản” đối với đối tượng học sinh lớp 9
2 Mục đích nghiên cứu:
- Nâng cao hiệu quả trong việc hướng dẫn học sinh xây dựng bản đồ tư duy trongmột tiết học văn bản đối với học sinh lớp 9 - một phương pháp học mới và khó đối vớihọc sinh
- Cụ thể hóa lý thuyết bằng các bản đồ tư duy để giúp các em nắm bài một cáchnhanh nhất và hiệu quả nhất
3 Đối tượng nghiên cứu:
- Xây dựng bản đồ tư duy trong một tiết học văn bản đối với đối tượng học sinhlớp 9
- Học sinh lớp 9B - Trường THCS Đông Cương – Thành phố Thanh Hóa
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp thực nghiêm ,khảo sát
- Tìm hiếu cách đọc, nghiên cứu tài liệu về cách xây dựng bản đồ tư duy
- Thực tế trong công tác giảng dạy
- Tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, tổ khối chuyên môn
5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
Thông qua Tổ bộ môn
PHẦN II NỘI DUNG:
1 Cơ sở lí luận:
Có thể nói, cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tậpchủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Thầy giáo không phải là người
Trang 3nhồi nhét kiến thức cho học sinh mà là người hướng dẫn, tổ chức học sinh lĩnh hộitri thức bằng con đường tự học Hành trình chiếm lĩnh tri thức của học sinh bao giờcũng bắt đầu từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng
Mặt khác, nói đến phương pháp dạy học là nói đến cách dạy của người thầy.Trong chương trình giáo dục phổ thông, Ngữ văn là một môn học có vị trí quantrọng vì đây một môn học vừa mang tính công cụ, vừa là một môn học mang tínhnghệ thuật, lại mang tính nhân văn rất cao, đặc biệt là phân môn Văn học Bởi vậy
để học sinh học tốt môn Ngữ văn nói chung và phân môn Văn học nói riêng, ngườigiáo viên phải chú trọng đến phương pháp dạy học, phải tìm tòi, sáng tạo, nghiêncứu và áp dụng những hình thức, biện pháp tổ chức dạy học mới, hiện đại, sinhđộng, đưa học sinh đến với môn học này một cách tự giác, bằng niềm say mê thực
sự Chính vì thế, để tạo được sự thành công , hứng thú trong giờ học văn, đòi hỏingười GV một trình độ học vấn và tay nghề cao, năng động và sáng tạo rất nhiều
Bản đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy Đây là phương pháp dễnhất để chuyển tải thông tin vào bộ não của bạn rồi đưa thông tin ra ngoài
bộ não Nó là phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúngnghĩa của nó “sắp xếp” ý nghĩ của bạn Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép
sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng đào sâu các ý tưởng, nó kế thừa hìnhthức ghi chép sử dụng bảng biểu nhưng ở mức độ cao hơn Có thể khẳngđịnh rằng phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy là một trong nhữngphương pháp dạy học hiện đại Nó giúp học sinh dễ ghi nhớ, phát triển nhậnthức, khả năng tư duy, óc tưởng và khả năng sáng tạo… Bản đồ tư duy giúpcho học sinh có phương pháp học hiệu quả hơn
2 Thực trạng của vấn đề:
2.1 Thực trạng chung:
Môn Ngữ văn là một môn học kết tinh nhiều giá trị văn hoá truyền thống vànhân loại, là môn học rèn luyện những kĩ năng cơ bản, cần thiết cho các em Nhà
văn lớn của nhân loại Macxim Gorki từng nói “ Văn học là nhân học”, học Văn là
học làm người… Môn Văn là môn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong
sự phát triển tư duy của con người Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong việc
Trang 4giáo dục quan điểm tư tưởng, tình cảm cho học sinh Bởi vậy, bất cứ người giáo viên nào
có tâm huyết với nghề đều tự đặt ra câu hỏi: Làm thế nào để dạy tốt môn Ngữ văn? Từxưa đến nay, người ta vẫn cho rằng: học và dạy Văn thì dễ, nhưng để học giỏi và dạy giỏimôn Văn thì rất khó Và thực tế đã chứng minh điều đó Quả thực việc dạy Văn là vôcùng khó bởi dạy Văn không chỉ là dạy đúng, dạy đủ mà còn phải hay, phải lôi cuốn, làmcho học sinh hứng thú, say mê Hiện nay, một thực trạng đáng lo ngại là học sinh bâygiờ không còn thích học Văn ,ngày càng ít học sinh đi thi học sinh giỏi môn Văn, các
em cũng thấy chán nản, không mấy hứng thú khi học giờ Văn Thực trạng này lâu nay
đã được báo động Thậm chí nó không chỉ còn là những lời chia sẻ hay than thởcủa các đồng nghiệp mà gần đây đã trở thành vấn đề quan tâm của báo chí và dưluận Là một người trực tiếp đứng lớp và chấm trả bài cho học sinh, tôi nhận thấy
có rất nhiều những biểu hiện tâm lí ngại học Văn của các em hiện nay Đồng thờiqua quá trình tham gia dự giờ của nhiều đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường tôiđang công tác, tôi thấy cả việc dạy Văn và học Văn đang có nhiều lúng túng Cụthể như sau:
a Đối với giáo viên:
Mặc dù nhiều đồng chí tỏ ra khá nhiệt tình, tâm huyết với nghề, song trongphương pháp dạy học còn tồn tại nhiều bất cập Đó là việc vận dụng các phươngpháp dạy học chưa thực sự phù hợp với đặc trưng bộ môn hay với một bộ phậnkhông nhỏ học sinh yếu kém dẫn đến chất lượng đại trà chưa cao Bên cạnh đó, dođiều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy học, phương pháp trực quanvào các tiết học còn hạn chế Chính điều đó ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu bàicủa học sinh Mặc dù đã được tập huấn chuyên đề về sử dụng bản đồ tư duy trongdạy học, nhưng nhiều đồng chí còn hạn chế về trình độ tin học hay chưa biết cách
vẽ bản dồ tư duy trên phần mềm MindMap hoặc ngại thiết kế và ứng dụng nó trongcác tiết học nên chưa tạo ra được sự mới mẻ về mặt phương pháp Trên thực tế domáy vi tính cá nhân của nhiều giáo viên có cấu hình thấp nên việc cài đặt phầnphềm còn gặp khó khăn, nhiều máy không cài đặt được khiến cho việc tự tìm tòinghiên cứu của giáo viên cũng bị chi phối Đồng thời cũng còn một số giáo viênchưa thực sự trăn trở, tâm huyết với nghề, trong bài giảng Văn học chưa khơi gợi
Trang 5được mạch nguồn cảm xúc ẩn sâu trong tâm hồn học sinh Giáo viên không tạo chohọc sinh sự say mê với ngôn từ trong văn bản một cách độc lập mà đi theo sự sắpđặt sẵn hướng tìm hiểu mà thầy cô đã chỉ ra Do vậy ít phát huy được tính chủđộng, tích cực của học sinh, giờ học Văn không tránh khỏi nhàm chán
2 Đối với học sinh:
Trong những năm gần đây, do sự phát triển như vũ bão của khoa học, kĩthuật, cuộc sống của con người nói chung dần trở nên thực dụng Các em học sinhlười và ngại học môn Văn, cho rằng đó chỉ là môn học thuộc, thiên về lí thuyếtthông thường, ít có hứng thú học tập Điều đáng lo ngại hơn nữa là có không ít phụhuynh đã chọn hướng cho con thi khối A với 3 môn Toán-Lý- Hoá ngay từ khi cònhọc Tiểu học- một bậc học mà học sinh mới bắt đầu làm quen với việc rèn luyệnnói, viết và những khái niệm từ ngữ cơ bản Từ đó nhiều em đánh mất đi thiênhướng và năng khiếu, mất đi những cảm xúc với môn Văn
Bên cạnh đó, ở địa bàn xã nơi tôi công tác, học sinh phần lớn là con em các giađình thuần nông, sự định hướng và tạo điều kiện của phụ huynh cho việc học củacon cái còn hạn chế Thêm vào đó, do đặc trưng sinh lí của lứa tuổi mới lớn, các
em học sinh lớp 9 cũng thiếu tập trung trong học hành Riêng môn Văn lại càng tỏ
ra vội vàng, hấp tấp, ít có chiều sâu
Qua bài thi khảo sát chất lượng đầu năm, tôi đã làm phép điều tra ban đầuđối với việc diễn đạt, tạo lập văn bản của học sinh khối 9 Tôi nhận thấy khả năngtrình bày của học sinh còn rất nhiều lỗi sai cơ bản như: dùng từ sai, viết câu sai, bốcục, lời văn lủng củng, thiếu mạch lạc…Đặc biệt khả năng ghi nhớ những kiếnthức cơ bản của học sinh còn rất hạn chế
Việc làm quen với bản đồ tư duy ở học sinh cũng gặp không ít khó khăn
Do các em có thói quen học tập thụ động, nhất là môn Ngữ Văn, nên sự tìm tòi
để tự chiếm lĩnh và thể hiện kiến thức bài học trên một bản đồ hình vẽ cần ócsáng tạo, sự nhanh nhạy và khả năng tổng hợp, điều đó không phải học sinhnào cũng làm được
Như vậy với thực trạng trên, việc vận dụng bản đồ tư duy vào dạy học làmột thử thách với cả thầy và trò
Trang 62.2 Khảo sát thực trạng tại đơn vị :
* Từ thực trạng trên, đầu năm học 2018-2019, khi được phân công giảng dạychương trình Ngữ văn lớp 9, tôi đã tiến hành điều tra cơ bản:
- Chất lượng môn Ngữ văn khối 9 qua khảo sát đầu năm:
“Hướng dẫn học sinh xây dựng bản đồ tư duy trong một tiết học văn bản”.
Từ những trăn trở của mình về thực trạng học Văn qua các năm, tôi mongmuốn được trao đổi kinh nghiệm cùng với bạn bè đồng nghiệp để từng bước nângcao chất lượng giờ dạy phân môn Văn học nói riêng và hiệu quả đối với việc dạyhọc Ngữ văn nói chung, đáp ứng yêu cầu giáo dục của thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước Trong phạm vi đề tài này, tôi xin đi sâu vào
tiết 117 “ Viếng lăng Bác” của nhà thơ Viễn Phương (Ngữ văn 9 tập 2)
3 Các giải pháp thực hiện:
3.1 Các giải pháp:
Sau kết quả điều tra ban đầu, tôi nhận thấy trên thực tế, đối tượng học sinhlớp 9 mà tôi được phân công giảng dạy, mặc dù sắp tốt nghiệp THCS mà môn Ngữvăn lại là môn học chính để thi lên THPT nhưng nhiều em còn lơ là trong học tập,năng lực ghi nhớ, trình bày và diễn đạt còn hạn chế Tôi thấy cần phải đưa ranhững giải pháp cụ thể và tích cực hơn để nâng cao chất lượng môn Ngữ văn nóichung và nâng cao khả năng ghi nhớ, tổng hợp kiến thức của học sinh nói riêng.Tôi đã tiến hành thực hiện các giải pháp sau:
- Giới thiệu cho các em hiểu bản chất của bản đồ tư duy và vai trò của nótrong quá trình đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói chung
- Vận dụng bản đồ tư duy trong các tiết dạy học tác phẩm Văn học
- Hướng dẫn học sinh xây dựng bản đồ tư duy trong một tiết học văn bản
Trang 7Từ những nhận thức về vai trò của bản đồ tư duy đối với quá trình đổi mớiphương pháp dạy học, tôi vận dụng những bản đồ tư duy mẫu vào các tiết học banđầu để học sinh làm quen rồi sau đó hướng dẫn học sinh tự xây dựng bản đồ tư duytrong quá trình tự học để đạt được hiệu quả ghi nhớ kiến thức cao Sự vận dụngnày cần hết sức linh hoạt, tinh tế và phải phù hợp với nội dung bài học và đốitượng học sinh.
3.2 Các biện pháp tổ chức thực hiện:
3.2.1 Vai trò của bản đồ tư duy(BĐTD) trong việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn:
Phương pháp dạy học bằng BĐTD là một phương pháp mới nên để học sinh
có thể tiếp cận cách học với BĐTD, đầu năm học, thông qua một tiết học Tự chọnNgữ văn, tôi hướng dẫn, giới thiệu cho các em những hiểu biết cơ bản bước đầu vềbản chất của BĐTD và vai trò của nó trong quá trình đổi mới dạy và học Ngữ văn.Bản đồ tư duy còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằmtìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệthống hoá một chủ đề…bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màusắc, chữ viết
Nghĩa của cụm từ Bản đồ tư duy không hiểu theo nghĩa bản đồ thông thườngnhư bản đồ địa lí mà BĐTD được hiểu là hình thức ghi chép theo mạch tư duy củamỗi người Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, việc thiết kế BĐTD theo mạch tư duycủa mỗi người, không yêu cầu tỉ lệ chi tiết khắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽthêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hìnhảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau Cùng một nội dung nhưng mỗi người “thểhiện” nó dưới dạng BĐTD theo cách riêng
Dạy học bằng BĐTD là một giải pháp góp phần đổi mới cơ bản giáo dục Trước hết BĐTD tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng Trong
đó sự hình dung là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất BĐTD tận dụnghình ảnh để học sinh có thể hình dung về kiến thức cần nhớ Đối với não bộ BĐTDgiống như một bức tranh lớn đầy hình ảnh và màu sắc phong phú hơn là một bàihọc khô khan, nhàm chán Bên cạnh sự hình dung, BĐTD còn tạo được sự liên
Trang 8tưởng, tưởng tượng BĐTD thể hiện sự liên kết giữa các ý tưởng một cách rất rõràng Ngoài ra, BĐTD còn giúp làm nổi bật sự việc Thay cho những từ ngữ tẻnhạt, đơn điệu, BĐTD cho phép giáo viên và học sinh làm nổi bật các ý tưởngtrọng tâm bằng việc sử dụng những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng Hơn nữaviệc BĐTD dùng rất nhiều màu sắc khiến giáo viên và học sinh phải vận dụng trítưởng tượng sáng tạo đầy phong phú của mình Nhưng đây không phải là một bứctranh đầy màu sắc sặc sỡ thông thường, BĐTD giúp tạo ra một bức tranh mangtính lí luận, liên kết chặt chẽ về những gì được học.
Sau khi giới thiệu về mặt lí thuyết, tôi cung cấp những hình ảnh mẫu BĐTDtrên máy chiếu để học sinh quan sát Tôi giới thiệu về cấu tạo và cách vẽ BĐTD đểcác em có thể thực hiện
Về cấu tạo: Ở giữa BĐTD là một hình ảnh trung tâm (hay một cụm từ) khái
quát chủ đề Gắn liền với hình ảnh trung tâm là các nhánh cấp 1 mang các ý
chính làm rõ chủ đề Phát triển các nhánh cấp 1 là các nhánh cấp 2 mang các
ý phụ làm rõ mỗi ý chính Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục để cụ thể hóa chủ đề, nhánh càng xa trung tâm thì ý càng cụ thể, chi tiết Có thể nói, BĐTD là một
bức tranh tổng thể, một mạng lưới tổ chức, liên kết khá chặt chẽ theo cấp độ
để thể hiện một nội dung, một đơn vị kiến thức nào đó Tôi cung cấp hình ảnh minh họa mô hình BĐTD lên máy chiếu như sau:
Trang 9- Cách xây dựng BĐTD
Để thiết kế một BĐTD dù vẽ thủ công trên bảng, trên giấy , hay trên
phần mềm Mind Map, chúng ta đều thực hiện theo thứ tự các bước sau đây:
Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với từ, cụm từ thể hiện chủ đề (có thể vẽ hình
ảnh minh họa cho chủ đề - nếu hình dung được)
Bước 2: Từ hình ảnh trung tâm (chủ đề) chúng ta cần xác định: để làm rõ
chủ
đề, thì ta đưa ra những ý chính nào Sau đó, ta phân chia ra những ý chính, đặttiêu đề các nhánh chính, nối chúng với trung tâm
Bước 3: Ở mỗi ý chính, ta lại xác định cần đưa ra những ý nhỏ nào để làm
rõ mỗi ý chính ấy Sau đó, nối chúng vào mỗi nhánh chính Cứ thế ta triển khaithành mạng lưới liên kết chặt chẽ
Bước 4: Cuối cùng, ta dùng hình ảnh (vẽ hoặc chèn) để minh họa cho các ý,
tạo tác động trực quan, dễ nhớ
3.2.2 Vận dụng BĐTD trong các tiết dạy học văn bản Văn học:
Tôi tiến hành vận dụng BĐTD vào trong quá trình giảng dạy của mình trên
cơ sở đảm bảo tính nguyên tắc và phù hợp với từng phân môn của bộ môn Ngữvăn
Môn Ngữ văn gồm 3 phân môn nhỏ: Văn học, Tiếng Việt và Làm văn Tuy
có chung mục đích giáo dục thẩm mĩ và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nghe,nói, đọc, viết; nhưng chúng có vị trí độc lập tương đối bởi những mục tiêu riêngbiệt của từng phân môn Theo đó, 3 phân môn có nhận thức khác biệt nên cần phải
có phương pháp dạy học đặc thù Trong phạm vi đề tài này, tôi chỉ đề cập đến việcvận dụng BĐTD trong phân môn văn học
Với phân môn Văn học, mục đích cuối cùng của việc đọc - hiểu văn bản làngười đọc phải biết cách đọc để hiểu cho được giá trị của mỗi văn bản thể hiện quacái hay, cái đẹp trong nội dung và hình thức thể hiện của văn bản đó Cái hay, cáiđẹp trong nội dung và hình thức thể hiện của văn bản là cái duy nhất không lặp lại.Nhờ vậy mà ta xác định được những giá trị nhận thức mà văn bản đó đem lại.Muốn dạy đọc - hiểu được các văn bản, yêu cầu người giáo viên phải hiểu được
Trang 10văn bản ấy Bước tiếp theo, giáo viên là người hướng dẫn và tổ chức để học sinhbiết cách đọc tác phẩm, tìm ra cái hay, cái đẹp bằng chính nhận thức của các em Vậy cần sử dụng BĐTD để nâng cao chất lượng trong các giờ học Văn học?
Đó là câu hỏi khiến tôi trăn trở và không ngừng phấn đấu tìm tòi, nghiên cứu Từ
đó, tôi xác định hướng khai thác BĐTD thực sự có hiệu quả trong giờ học Văn bảntheo tiến trình lên lớp một tiết dạy như sau:
Những điều cần tránh khi xây dựng BĐTD:
Trong quá trình hướng dẫn học sinh tự xây dựng BĐTD sau mỗi tiết học vănbản, tôi nhắc nhở các em về những nguyên tắc vẽ BĐTD và những điều cần tránh
để các em tự vẽ được những BĐTD thực sự có hiệu quả Cụ thể như sau:
- Tránh ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng
- Tránh ghi chép quá nhiều ý không cần thiết
- Tránh dành quá nhiều thời gian để vẽ, viết, tô màun…Chỉ nên vẽ nhữnghình ảnh có liên quan đến kiến thức Khi thiết kế BĐTD cần chọn lọc những ý cơbản, kiến thức cần thiết, tránh vẽ cầu kì hoặc vẽ quá sơ sài không có thông tin
Tóm lại: Để phát huy tối đa tác dụng của bản đồ tư duy trong việc dạy học
phân môn Văn học, người giáo viên cần biết sử dụng BĐTD hợp lý với từng bàihọc Quan trọng hơn là giáo viên phải biết cách hướng dẫn học sinh tự xây dựngđược BĐTD qua mỗi tiết học để phục vụ cho quá trình tự học đạt hiệu quả cao bởi
sự tự học của học sinh mới là yếu tố quyết định đến việc nâng cao chất lượng mônhọc nói chung
THIẾT KẾ BÀI DẠY
Tiết 117: Văn bản: VIẾNG LĂNG BÁC