Qua một thời gian học tập, tìm tòi nghiên cứu và trực tiếp giảng dạy, tôi đã có những suy nghĩ và xin mạnh dạn trao đổi cùng các thầy cô đồng nghiệpqua sáng kiến kinh nghiệm: "Một số biệ
Trang 12.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động
giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
13
Trang 21 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài:
Môn Ngữ Văn có một vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chungcủa trường Trung học cơ sở (THCS): góp phần hình thành những con người cóhọc vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị cho các em hoặc ra đời hoặc tiếp tục học lên
ở bậc học cao hơn Đó là những con người có ý thức tự tu dưỡng, biết yêuthương quý trọng gia đình, bè bạn; có lòng yêu nước yêu chủ nghĩa xã hội, biếthướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tôn trọng lẽ phải,
sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác
Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sángtạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mỹ trong nghệ thuật,trước hết là trong văn học, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng TiếngViệt như một công cụ để tư duy và giao tiếp
Ngày nay cùng với sự phát triển của đất nước thì vấn đề giáo dục đã trởthành một vấn đề cấp bách đối với toàn xã hội Để bắt kịp với đà phát triểnmạnh mẽ ấy, đổi mới trong giáo dục - đào tạo là một vấn đề cần thiết, quantrọng và phù hợp với xu hướng tiến bộ của thời đại, với công cuộc hiện đại hoágiáo dục
Một vấn đề làm tôi quan tâm hơn cả đó là hệ thống các văn bản nhật dụng(VBND) trong chương tŕnh SGK Ngữ văn THCS Có thể thấy việc đưa cácVBND vào chương trình SGK Ngữ văn mới là rất cần thiết bởi nó có khả năngkết hợp lí thuyết với thực tiễn đời sống và cả tính thời sự rất cao
Như vậy, VBND đã góp tiếng nói vô cùng quan trọng trong cuốn SGKNgữ văn Qua quá tŕnh nghiên cứu, tìm hiểu, giảng dạy và đặc biệt trong nămhọc 2018 - 2019 bản thân cá nhân tôi đang trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn 8.Cho nên tôi rất tâm đắc khi những văn bản này được đưa vào giảng dạy trongchương tŕnh Ngữ văn 8 bởi tính thời sự, tính thực tiễn và khả năng giáo dục của
nó Chính vì vậy mà tôi luôn trăn trở, suy nghĩ để những khả năng giáo dục tiềm
ẩn trong những văn bản ấy được khai thác có hiệu quả cao nhất trong quá tŕnhdạy học nhằm giúp học sinh liên hệ được tới đời sống thực tế đang diễn ra rấtsinh động xung quanh các em Để từ đó các em có được nhận thức đúng đắn đểthay đổi hành vi của mình và những người xung quanh theo hướng tích cực màgiáo viên mong muốn sau mỗi tiết dạy (điều này chương trình SGK cũ chưa baogiờ làm được)
Đối với học sinh THCS các em mới được làm quen với văn bản nhật dụngnên còn nhiều bỡ ngỡ Bên cạnh đó thực tế các trường THCS hiện nay nhiềuđồng chí giáo viên chưa thật quan tâm thích đáng đến phần văn bản này vì chorằng dạy văn là phải dạy những gì thơ mộng lãng mạn còn văn bản nhật dụng thìkhô khan thực tế quá Do đó việc vận dụng đổi mới phương pháp trong tiết dạyvăn bản nói chung và văn bản nhật dụng nói riêng có vai trò vô cùng quan trọng
Trang 3Học sinh học văn bản nhật dụng không chỉ để mở rộng hiểu biết toàn diện mà
còn tạo điều kiện tích cực để thực hiện nguyên tắc giáo dục kiến thức kết hợpvới hình thành kĩ năng sống giúp các em hoà nhập với cuộc sống xã hội mộtcách tốt nhất, rút ngắn khoảng từ trang sách đến cuộc sống thực tại và từ nhàtrường ra xã hội
Qua một thời gian học tập, tìm tòi nghiên cứu và trực tiếp giảng dạy, tôi
đã có những suy nghĩ và xin mạnh dạn trao đổi cùng các thầy cô đồng nghiệpqua sáng kiến kinh nghiệm: "Một số biện pháp giảng dạy có hiệu quả các Vănbản nhật dụng trong Sách giáo khoa Ngữ văn 8" Tôi tin rằng với đề tài này, tôi
sẽ có thêm kinh nghiệm trong quá tŕnh giảng dạy và có cơ hội đóng góp mộttiếng nói nho nhỏ của mình vào quá trình thảo luận kinh nghiệm dạy học chươngtrình mới ở trường THCS
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Tôi chọn đề tài "Một số biện pháp giảng dạy có hiệu quả các Văn bảnnhật dụng trong Sách giáo khoa Ngữ văn 8" với những mục đích sau:
Dựa trên cơ sở vai trò và tầm quan trọng của văn bản nhật dụng là tính
thời sự, cập nhật với đời sống hiện tại và việc học tập của HS tôi đề xuất một số
biện pháp dạy học góp phần tạo hứng thú, nâng cao chất lượng học tập của HSđồng thời nâng cao hiệu quả giờ lên lớp của giáo viên
Có thể nói, việc giảng dạy các VBND sao cho có hiệu quả là một vấn đềgây không ít khó khăn đối với các giáo viên THCS hiện nay bởi lẽ các vấn đề
mà các VBND trong chương trình đưa ra hầu hết đều có liên quan tích hợp vớimột môn học nào đó trong chương trình và dường như những môn học kia lại cóthể góp phần giáo dục các vấn đó được tốt hơn cùng với môn Ngữ văn đóchính là vấn đề cần khai tính tích hợp liên môn trong dạy học ở bậc THCS Vídụ: vấn đề bảo vệ môi trường được đề cập trong môn Giáo dục công dân vàmôn Sinh học; vấn đề dân số thì tích hợp được với môn Địa lí
Chính vì vậy, việc dạy học các VBND để gây được sự hứng thú học tậpvới học sinh có thể dễ dàng thực hiện với một số giáo viên nhưng vẫn chưa thểnói là dễ dàng với bất kì một giáo viên nào - đặc biệt là những giáo viên trẻ mới
ra trường hay những giáo viên đă quá quen với phương pháp dạy học cũ Trongkhi đó, đặc điểm, tính chất của các VBND là tính cập nhật cao
1.3 Đối tượng nghiên cứu
"Một số biện pháp giảng dạy có hiệu quả các Văn bản nhật dụng trong
Sách giáo khoa Ngữ văn 8"
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp Nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp Khảo sát thực tế
- Phương pháp Phân loại , thống kê, xử lí số liệu
Trang 4ý nghĩa lâu dài trọng đại mà tất cả các dân tộc cùng quan tâm.
Yêu cầu đầu tiên của VBND là phải gắn chặt với thực tiễn mà thực tiễnthì luôn thay đổi trong khi một trong những yêu cầu lớn của nội dung giáo dục,của chương trình SGK là đảm bảo tính tương đối ổn định Bởi vậy, các VBNDđược chọn trong SGK, tuy có tính cập nhật cao song đều là những văn bản "viết
về những vấn đề xã hội có ý nghĩa lâu dài hơn là chỉ có tính chất nhất thời"
Nội dung chủ yếu của các VBND ở lớp 8 tập trung vào các vấn đề sau:
- Vấn đề môi trường: Bài "Thông tin về ngày trái đất năm 2000"
- Vấn đề tệ nạn xã hội: Bài "Ôn dịch, thuốc lá"
- Vấn đề dân số và tương lai loài người: Bài "Bài toán dân số"
Mặc dù chỉ có 3 tiết nhưng với sự góp mặt của các VBND trong chươngtrình SGK ngữ văn 8 là hết sức cần thiết Bởi nó cung cấp cho học sinh nhữngtri thức cập nhật, giáo giục cho các em ý thức, thái độ hành động mang tính côngdân, rèn cho các em kĩ năng thực hành, thậm chí là các kĩ năng, thói quen sốngtốt, có ích cho xã hội
- Sáng kiến kinh nghiệm: Giảng dạy có hiệu quả các Văn bản nhật dụngtrong Sách giáo khoa Ngữ văn 8, trước tiên xuất phát từ ý tưởng: làm thế nào đểdạy – học văn thêm hứng thú? Làm thế nào để học sinh tiếp cận tác phẩm Vănbản nhật dụng một cách chủ động, hiệu quả? Làm thế nào để đến với các tácphẩm Văn bản nhật dụng một cách tự nhiên, gần gũi? Làm thế nào để học sinh
có thể vận dụng mọi hiểu biết của mình để tìm hiểu Văn bản nhật dụng hiệu quảtốt nhất? Làm thế nào để học sinh không chỉ hiểu mà còn biết hành động và lantỏa hiểu biết của mình tới những người xung quanh trong cộng đồng?
- Trên cơ sở mục tiêu đổi mới giáo dục nói chung, nâng cao chất lượngmôn Ngữ Văn nói riêng và trên hết là dạy học theo hương tích cực Học sinhđược chủ động tiếp cận tác phẩm, chọn được phương pháp phù hợp để học tậpvới hiệu quả cao nhất mà không bị gò bó căng thẳng
Trang 5- Mặt khác dạy Văn bản nhật dụng tích hợp chủ đề, vận dụng kiến thứcliên môn để giải quyết một vấn đề cũng đang là phong trào của mỗi địa phương,trường học, giáo viên, học sinh cũng tích cực thực hiện.Bản thân tôi đã rất tâmđắc và tích cực tham gia cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn vào bài dạy thực
tế Bởi vậy, đề tài của tôi cũng bám sát những mục tiêu và sự định hướng đó
Nó sẽ là một cái nhìn mới, một cách tiếp cận mới trong giảng dạy Ngữ Văn nóichung, phần Văn bản nhật dụng nói riêng
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
Xuất phát từ thực tiễn 15 năm giảng dạy môn Ngữ Văn; 04 năm trực tiếpgiảng dạy Ngữ Văn 8 Do đó, bước đầu Tôi cảm nhận được: Muốn học sinhhứng thú với môn học, muốn có hiệu quả trong giảng dạy và học tập môn NgữVăn không thể không đổi mới phương pháp Kiến thức ngày càng đa dạng, có xuhướng xích gần với đời sống và có tính liên môn Đặc biệt là các môn khoa học
xã hội có sự gắn kết chặt chẽ Thậm chí một số môn học kiến thức còn chồngchéo lên nhau Do đó, làm thế nào để học sinh không nhàm chán, làm thế nào đểcác em biết vận dụng kiến thức đã học, hiểu biết có sẵn để giải quyết tốt một vấn
đề đang là câu chuyện đáng bàn ở mỗi trường học
Có thể nói, việc giảng dạy các VBND sao cho có hiệu quả là một vấn đềgây không ít khó khăn đối với các giáo viên THCS hiện nay bởi lẽ các vấn đề
mà các VBND trong chương trình đưa ra hầu hết đều có liên quan tích hợp vớimột môn học nào đó trong chương trình và dường như những môn học kia lại cóthể góp phần giáo dục các vấn đó được tốt hơn cùng với môn Ngữ văn Ví dụ:vấn đề bảo vệ môi trường được đề cập trong môn Giáo dục công dân và mônSinh học; vấn đề dân số thì tích hợp được với môn Địa lí
Chính vì vậy, việc dạy học các VBND để gây sự hứng thú học tập với họcsinh có thể dễ dàng thực hiện với một số giáo viên nhưng vẫn chưa thể nói là dễdàng với bất kì một giáo viên nào - đặc biệt là những giáo viên trẻ mới ra trườnghay những giáo viên đă quá quen với phương pháp dạy học cũ Trong khi đó,đặc điểm, tính chất của các VBND là tính cập nhật cao Từ thực tế đó dẫn đếnmột số tồn tại tất yếu của cả giáo viên và học sinh hiện nay như:
* Về phía giáo viên:
- Lúng túng trong khâu chuẩn bị và thực hiện chưa phát huy tính tích cựcchủ động sáng tạo của học sinh
- Khó khăn trong việc tạo không khí một giờ Ngữ văn cho học sinh Thực
tế vẫn có những giáo viên coi việc dạy những văn bản này như một hành động
g ̣ò ép, khô khan, thậm chí có người c ̣òn nhận xét "như là dạy Giáo dục côngdân" Điều đó chứng tỏ có một bộ phận giáo viên chưa nhận thức được đầy đủ
và đúng đắn vai tṛò của loại văn bản này
- Nhiều giáo viên chỉ đơn giản truyền thụ những tri thức có trong tài liệugiảng dạy và SGK mà không chú trọng đến việc liên hệ đời sống thực tiễn - mộtyêu cầu không thể thiếu đối với học sinh
Trang 6- Nhiều giáo viên không biết cách tổ chức một tiết học VBND có sự tíchhợp với các phân môn khác và làm toát lên đặc điểm nội dung của các VBND làtính cập nhật, tính thực tiễn.
- Chưa tạo được niềm vui và sự đam mê cho các em học sinh trong từngtiết học của mình.Đôi khi giáo viên còn ngại thay đổi cách tư duy cách dạy
* Về phía học sinh:
- Học sinh sau khi học xong các VBND không hiểu VBND là gì vì vậy,nhiều em chỉ giơ tay phát biểu cho "có chuyện" chứ thực chất không hiểu mụcđích của nó là gì và không biết học nó để làm gì
- Hơn nữa, khi học xong các bài về VBND, nhiều học sinh chưa liên hệđược với thực tiễn ở xung quanh các em
- Nhiều học sinh coi đó chỉ là các bài phụ và không dành thời gian thoảđáng cho loại bài này, thậm chí nhiều em học xong là thôi
* Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên.
Hệ thống các VBND đă tạo nên bộ mặt mới cho chương trình giáo dục,bởi lẽ qua các văn bản này học sinh phần nào biết được những gì đang diễn ratrên thế giới và xung quanh mình đang được mọi người quan tâm Tuy nhiên donhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận giáo viên và học sinh nên mặc dù đó lànhững vấn đề rất cấp thiết nhưng vẫn chưa được sự quan tâm đúng mức, thậmchí có người c ̣òn cho rằng đó không phải là nhiệm vụ của môn Ngữ văn Tìmhiểu thực trạng này tôi đă tiến hành điều tra tại khối lớp 8 của trường với 90 họcsinh được chỉ định ngẫu nhiên Kết quả như sau:
Câu hỏi 1: Em hiểu VBND là ǵì?
- Có 18 học sinh trả lời đúng về khái niệm VBND ( 20%)
Câu hỏi 2: Những vấn đề được VBND đề cập có vai trò như thế nào đốivới đời sống?
- Có 12 học sinh trả lời được câu hỏi này (13%)
Câu hỏi 3: Em có thích học VBND không? Có Không
- Học sinh trả lời trên phiếu trắc nghiệm, có 21 học sinh trả lời "có" (23%)Mặc dù học sinh đã được học VBND từ lớp 6 nhưng với kết quả trên quảthật đáng lo ngại Từ thực tế đó, tôi đã suy nghĩ, tìm hiểu nguyên nhân và tìmhướng giải quyết Sau khi áp dụng nhiều biện pháp thực hiện khác nhau, tôi thấymột số biện pháp được trình bày sau đây là có hiệu quả thiết thực nhất, muốnđược trao đổi thêm với các bạn đồng nghiệp của mình
- Làm thế nào để dạy – học Ngữ văn thêm hứng thú? Làm thế nào để họcsinh tiếp cận tác phẩm Văn bản nhật dụng một cách chủ động, hiệu quả? Làmthế nào để đến với các tác phẩm Văn bản nhật dụng một cách tự nhiên, gần gũi?
Trang 7Làm thế nào để học sinh có thể vận dụng mọi hiểu biết của mình để timh hiểuVăn bản nhật dụng hiệu quả tốt nhất? không còn là vấn đề đơn thuần nữa mà nótrở thành nhiệm vụ của mỗi ai đã, đang và sẽ là giáo viên dạy Ngữ Văn trongmỗi nhà trường THCS.
2.3 Các giải pháp để giảng dạy đạt hiệu quả tốt nhất các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ Văn 8:
Để đảm bảo được hiệu quả mong muốn trong việc học loại VBND thìgiáo viên phải có một phương pháp dạy phù hợp và học sinh phải có ý thức họctốt Ở đây, tôi xin đưa ra 8 biện pháp cần thiết khi dạy các VBND trong chươngtrình SGK Ngữ văn 8
2.3.1 Khai thác nội dung văn bản gắn với thực tiễn và tính cập nhật.
Bản thân nội dung văn bản đă mang tính thực tiễn, tính thời sự rất cao,nhưng bên cạnh nội dung đó thì giáo viên nên tổ chức liên hệ đến những vấn đề,những hiện tượng đời sống khác để tăng tính thời sự, cập nhật giúp các em cónhận thức sâu rộng, có điều kiện rèn luyện kĩ năng quan sát lựa chọn, phân tích,
lí giải thực tiễn Từ đó, các em sẽ hứng thú tự tìm hiểư thực tiễn ngay trong cuộcsống của các em
Ví dụ 1: Dạy bài "Thông tin về ngày trái đất năm 2000" việc tổ chức tìm
hiểu tác hại của bao bì ni lông đối với sức khoẻ con người và môi trường TráiĐất là trọng tâm nhưng vẫn chưa đủ, giáo viên cần phải nêu vấn đề tạo tìnhhuống để học sinh thảo luận, tìm hiểu trong thực tiễn gần gũi với các em, có thểnêu như sau:
Giáo viên: Kể ra những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường ở địa
phương em ? (Trả lời có sự gợi mở của giáo viên )
Học sinh:
- Rác thải sinh hoạt vứt bừa bãi ( chai lọ, bao bì ni lông, các đồ nhựa hưhỏng, xác chết của động vật )
- Các công trình vệ sinh tạm bợ thiếu kiên cố
- Chuồng trại chăn nuôi ở gần nơi sinh hoạt, gần nguồn nước
- Nước đọng, bụi rậm, nơi tiềm ẩn những tác nhân gây bệnh nguy hiểm( vi khuẩn, ruồi, muỗi )
Giáo viên: Ở địa phương em, mọi người thường đi chợ mua thức ăn đựng
vào túi ni lông, về nhà dùng xong rồi đem vứt bừa bãi ra đường làng, xuống ao,xuống sông hoặc ra đồng phun thuốc sâu, thuốc trừ cỏ… thì vứt luôn vỏ baongoài ruộng đồng Em có suy nghĩ gì về hiện tượng này?
Học sinh:
- Rác thải đó gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường sống
- Người dân chưa có ý thức bảo vệ môi trường
Trang 8Đồng thời, giáo viên có thể dẫn ra những ví dụ sinh động khác qua thôngtin trên các phương tiện khác như:
- Ở Mỹ mỗi năm có tới 400.000 tấn Pôlietilen được chôn lấp sẽ chiếm rấtnhiều đất canh tác
- Ở Mê-hi-cô, cá ở các hồ nước chết nhiều là do rác thải, ni lông và nhựamềm đổ xuống hồ nhiều
- Ở một số vườn thú tại Ấn Độ, 90 con hươu đă chết do ăn phải đồ nhựađựng thức ăn thừa của khách du lịch vứt bừa băi
- Hàng năm có 100.000 chim, thú chết do nuốt phải bao bì ni lông
Giáo viên: Liên hệ ở địa phương em hăy kể ra những tác hại do bao bì ni
lông gây ra mà em biêt?
Học sinh: Nói rõ các tác hại do bao bì ni lông gây ra làm ô nhiễm môi
trường, làm mất vẻ đẹp cảnh quan, xói mòn đất, tắc cống rãnh gây ngập lụt,dịch bệnh
Ví dụ 2: Dạy bài "Ôn dịch, thuốc lá" ngoài việc truyền những tri thức về
tác hại của thuốc lá và ma tuý đều có đặc điểm chung là dễ nghiện, khó cai.Người có bản lĩnh không hút thuốc lá thì ma tuý củng không lôi kéo được Nhưvậy, giáo dục được ý thức không hút thuốc lá củng chính là giáo dục tinh thầnbài trừ ma tuý và các tệ nạn xã hội khác
-Giáo viên có thể mạnh dạn đưa ra một cuộc điều tra nhỏ với các câu hỏi:Trong trường ta có học sinh hút thuốc không? Ở nhà các em có ai hút thuốckhông? Để nắn được số liệu chính xác số liệu đối tượng mình cần tác động cụthể và hiệu quả
- Giáo viên có thể nêu cho học sinh tìm hiểu, thảo luận về những biệnpháp hạn chế thuốc lá của Chính phủ ta (đánh thuế cao, bắt buộc trên bao bìthuốc lá phải in thông điệp "Hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ", trên các công sở,nhà ga, bến tàu, nơi công cộng đều ghi ḍòng chữ "Không hút thuốc lá") Phầnnày có thể tiến hành sau khi khai thác chiến dịch chống hút thuốc lá của cácnước Châu Âu mà tác giả nêu lên trong phần kết của tác phẩm
Ví dụ 3: Dạy bài "Bài toán dân số", giáo viên cần phải liên hệ với đời
sống thực tế một cách cụ thể từ phạm vi gần gủi với các em đến phạm vi rộng
Giáo viên: Hai gia đình có thu nhập và kinh tế như nhau nhưng một gia
đình có 2 con và một gia đình có 4 con thì chất lượng bữa ăn và đời sống nóichung sẽ như thế nào?
Học sinh: Gia đình có 2 con sẽ có chất lượng bữa ăn và đời sống cao hơn,
còn gia đình có 4 con sẽ thấp hơn vì phải đáp ứng nhu cầu ăn uống, ở, mặc, họchành lớn hơn
Trang 9- Từ đó, giáo viên liên hệ đến các nước Châu Phi, Châu Á, các nước chậmphát triển, nghèo nàn lạc hậu do tỉ lệ sinh cao, gia tăng dân số mạnh để thấyđược tương lai của các dân tộc và của nhân loại phụ thuộc vào việc hạn chế việcgia tăng dân số, đó là con đường "Tồn tại hay không tồn tại".
- Từ hiện thực đó, giáo viên có thể cho học sinh thảo luận để bác bỏ quanniệm "Trời sinh voi, trời sinh cỏ" nhằm giúp các em có quan điểm tiến bộ hơn
2.3.2 Dạy học chú trọng những kỹ năng thực hành và liên hệ.
Dạy học thực hành là một trong những con đường ngắn nhất dẫn dắt họcsinh tìm ra chân lí Học sinh làm việc độc lập, chủ động sẽ giúp các em có điềukiện được bộc lộ mình và như vậy kiến thức mà các em thu được sẽ sâu sắc hơn,bền bỉ hơn
Phần này, giáo viên có thể để học sinh thảo luận nhóm ở phần luyện tậpcủng cố hoặc thi hùng biện trước lớp giữa các nhóm
Ví dụ 1: Dạy bài "Thông tin về ngày trái đất năm 2000" có thể cho học
sinh thảo luận ở các vấn đề sau:
a Những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường ở địa phương em
b Học xong bài này em sẽ làm gì với thói quen sử dụng bao bì ni lông củangười thân và những bao bì ni lông nằm rải rác xung quanh khu vực em sống
c Hãy tưởng tượng em đang tham gia đội tuyên truyền viên bảo vệ môitrường ở địa phương em trong một buổi họp thôn bản, hãy thuyết phục mọi giađình có cách sử dụng bao bì ni lông hợp lí
d.Hãy phát động phong trào đi chợ bằng làn đến mẹ các em và báo cáo kết quả
Ví dụ 2: Dạy bài "Ôn dịch, thuốc lá" có thể cho học sinh thực hành những
vấn đề như:
a Hãy tiến hành một cuộc điều tra tình trạng hút thuốc lá ở nơi em sống
và học tập, tìm hiểu nguyên nhân hút thuốc lá của họ và nêu suy nghĩ của em vềhiện trạng này
b Em có một người bạn cũng hút thuốc lá, hãy thuyết phục bạn bỏ thuốc(Có thể cho 2 học sinh xây dựng một tiểu phẩm ngắn)
Học sinh được thảo luận những tình huống, những vấn đề như trên khôngnhững đã rèn luyện cho các em thực hành cơ bản (nghe, nói, đọc, viết) mà còntạo cơ hội để các em được bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình được phân tích, lígiải thực hiện, từ đó mà hình thành các thói quen sống tốt đẹp, bên cạnh đó giờdạy củng sinh động, lôi cuốn hơn với học sinh và thực sự mang lại hiệu quả.Tôi
đã rất vui mừng khi một học sinh dân tộc Dao của tôi đã hớn hở đến lớp khoevới tôi là bố em đã bỏ hút thuốc lá khi được em chỉ ra những tác hại của thuốc lá
mà em được học ở lớp đó chính là niền vui và động lực để tôi dạy văn bản nhậtdụng tốt hơn
Trang 102.3.3 Không nên xem nhẹ các yếu tố h́ình thức của văn bản nhật dụng
Đối với VBND, mục đích chính là tuyên truyền tri thức khoa học và kêugọi hành động, chứ không phải mục đích nghệ thuật Do đó, tìm hiểu văn bản ởđây không phải đi tìm chất văn mà là tìm hiểu cách tổ chức, lập luận, phươngpháp thuyết minh của văn bản Sự kết hợp khai thác nội dung và các yếu tố hìnhthức ấy sẽ làm cho quá trình dạy học thêm sinh động, tạo được hứng thú cho họcsinh học tập
Để có được thông tin khoa học thuyết phục người đọc, người viết phải tìmhiểu số liệu, phân loại, so sánh kết hợp với lập luận chặt chẽ Vì vậy, khi khaithác nội dung phải gắn với yếu tố hình thức đó
Ví dụ 1: Khi dạy bài " Ôn dịch, thuốc lá " phải tổ chức cho học sinh tìm
hiểu các yếu tố sau:
- Giá trị tu từ trong cách đặt vấn đề của văn bản
- So sánh "Ôn dịch thuốc lá còn nặng hơn cả AIDS ": cách so sánh nàylàm mọi người thấy rõ sự nguy hại cực kỳ nguy hiểm của việc hút thuốc lá
- Những phân tích, lập luận sắc sảo trên cơ sở khoa học về tác hại củathuốc lá kết hợp với các số liệu cụ thể ("Hơn 5 vạn công trình nghiên cứu hàngmấy chục năm" đă khẳng định tác hại của thuốc lá "Hơn 80% ung thư vòm họng
và ung thư phổi là do thuốc lá") có sức thuyết phục cao
- Việc dẫn lời Trần Hưng Đạo vào đầu văn bản; loại giặc gặm nhấm nhưtằm ăn dâu rất đáng sợ, hút thuốc lá cũng gặm nhấm sức khoẻ con người rấtnguy hại Cách viện dẫn lời của Trần Hưng Đạo tạo điều kiện nói lên tác hại tolớn của thuốc lá là một cách lập luận độc đáo và khéo léo
- Việc tạo tình huống có tính đối đáp (có người bảo - xin đáp lại rằng) tạo
cơ sở phản đối vấn đề hút thuốc lá một cách tự nhiên, thuyết phục
- Những câu bình luận, đánh giá bày tỏ cảm xúc trực tiếp làm tăng sứcthuyết phục "Tội nghiệp thay những cái thai đang trong bụng mẹ", "hút thuốc lácạnh một người đàn bà có thai quả là một tội ác", "Nghĩ mà kinh"
Ví dụ 2: Đối với văn bản "Bài toán dân số", khi dạy cần lưu ý rất nhiều về
hình thức văn bản, đặc biệt là phương pháp lập luận kết hợp tự sự, thuyết minhrất hấp dẫn Cần hướng cho học sinh khai thác các yếu tố hình thức sau:
- Cách vào bài nhẹ nhàng tình cảm, chậm răi như lời tâm sự gợi sự suyngẫm của người viết và gây sự chú ý của người đọc ngay từ đầu
- Câu chuyện cổ ngắn gọn hấp dẫn được dẫn vào văn bản đầy thông minh
và trí tuệ tạo cơ sở để tác giả liên tưởng tới tốc độ gia tăng dân số
- Những số liệu có tính chính xác và khoa học cùng với các ví dụ đượcđưa vào bổ sung cho sự phân tích là lập luận làm tăng ý nghĩa của văn bản