1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hướng dẫn học sinh lớp 9 đưa dẫn chứng vào bài văn nghị luận xã hội theo hướng phát triển năng lực

19 314 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 252,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kim Phúc nói: Sự tha thứ giải thoát tôi khỏi lòng thù hận.. Vẫn còn nhiều vết sẹo trên thân thể tôi, và sự đau đớn vẫn kéo dài trong nhiều ngày, nhưng tâm tôi nay đã được an lành..

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài:

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng khẳng định “ dạy làm văn là chủ yếu dạy cho học sinh diễn tả cái gì mình suy nghĩ, mình cần bày tỏ một cách trung thành, sáng tỏ, chính xác, làm nổi bật được điều mình muốn nói” Và để “ làm nổi bật được

điều mình muốn nói ” trong bài văn Nghị luận xã hội không phải đơn giản mà cần một quá trình rèn luyện lâu dài Nghị luận xã hội là dạng bài đưa người học về gần

hơn với cuộc sống, đồng thời đòi hỏi ở người học khả năng tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo Dạng bài này giúp người viết phát huy năng lực bản thân từ tư duy, suy nghĩ, huy động vốn hiểu biết đến năng lực trình bày một vấn đề xã hội nào đó sao cho giàu sức thuyết phục Một trong những yếu tố để làm tốt bài văn nghị luận xã hội, thuyết phục được người đọc là cách đưa hệ thống dẫn chứng Song thực tế cho thấy khi viết bài đa số học sinh còn lúng túng trong lựa chọn dẫn chứng nên thường mắc một số lỗi: dẫn chứng thiếu chính xác, không đúng trọng tâm, thiếu sự chọn lọc nên chưa tiêu biểu, có khi lại sa vào kể lể

Hiện nay có nhiều bài viết, sách tham khảo hướng dẫn về cách làm bài văn nghị luận xã hội Tuy nhiên không có tài liệu nào tập trung tháo gỡ khó khăn cho học sinh về phương pháp đưa dẫn chứng vào bài nghị luận xã hội Thêm vào đó, mặc dù kiểu bài Nghị luận xã hội học sinh đã được làm quen từ năm lớp 7 song đến năm lớp 9 mới có bài học riêng và thời lượng dành cho kiểu bài này cũng không nhiều (6 tiết) lại chủ yếu là lý thuyết, ít thực hành Do vậy phần lớn học sinh viết bài theo lối diễn thuyết, rất ít liên hệ thực tế, có khi không có dẫn chứng trong bài viết… Chính vì thế đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng bài làm của học sinh, chất lượng bài dạy

Những năm qua, kiểu bài Nghị luận xã hội không chỉ được đưa vào trong cấu

trúc đề thi học sinh giỏi Ngữ văn lớp 9 mà còn được đưa vào cấu trúc đề thi tuyển sinh vào Trung học phổ thông, dạng đề này chiếm 3 điểm trong thang điểm 10 Là

giáo viên trực tiếp dạy Ngữ văn 9, tôi nhận thấy Nghị luận xã hội là kiểu bài quan

trọng và có cái khó đặc thù là yêu cầu học sinh phải biết liên hệ thực tế, vận dụng vốn sống để lập luận, vì thế cần phải biết cách đưa dẫn chứng để bài viết có sức thuyết phục Điều đó cũng có nghĩa là thông qua bài văn nghị luận, qua việc đưa dẫn chứng vào bài viết, học sinh rèn luyện được cả kĩ năng sống và giá trị sống, các em bày tỏ được thái độ, suy nghĩ, nhận xét…của bản thân trước các vấn đề xã hội một cách đúng đắn, chân thực và sắc sảo góp phần làm phong phú thêm đời sống tâm hồn, tình cảm của học sinh Từ những lí do đó bản thân tôi luôn trăn trở, tìm tòi phương pháp, cách thức hướng dẫn học sinh đưa dẫn chứng vào bài nghị luận xã hội

sao cho hiệu quả Do vậy, tôi chọn đề tài “Hướng dẫn học sinh lớp 9 phương pháp đưa dẫn chứng vào bài nghị luận xã hội theo hướng phát triển năng lực” để

nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao trình độ lí luận cho bản thân và vận dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong thực tiễn giảng dạy nhất là

Trang 2

giúp học sinh viết được bài văn nghị luận xã hội sắc sảo, có luận điểm rõ ràng, luận cứ, luận chứng xác thực, đúng đắn, nhằm nâng cao chất lượng dạy - học bộ môn

1.2 Mục đích nghiên cứu

Tìm ra một số biện pháp thiết thực, khả thi để phát triển năng lực học sinh và nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc hướng dẫn học sinh cách thức đưa dẫn chứng vào bài nghị luận xã hội

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Để bồi dưỡng năng lực làm bài nghị luận xã hội, rèn kĩ năng, cách thức đưa dẫn chứng vào bài viết của học sinh, tôi tiến hành nghiên cứu:

- Phương pháp dạy - học kiểu bài Nghị luận xã hội

- Phương pháp dạy - học phát triển năng lực

-Thực nghiệm ở lớp 9C Trường THCS Lê Hữu Lập – Hậu Lộc – Thanh Hóa

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Thông qua việc nghiên cứu tài liệu, sách tham khảo liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Khảo sát năng lực học sinh qua bài viết

- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành qua thực tiễn dạy học

- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu, phương pháp kiểm tra, đối chiếu, so sánh: So sánh, đối chiếu kết quả trước và sau khi vận dụng đề tài

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1 Cơ sở lí luận:

Phương pháp dạy - học theo quan điểm phát triển năng lực nhận thức học sinh được thể hiện rõ nhất trong Nghị quyết 29/NQ - TW với mục tiêu: Thay đổi

“Phương pháp dạy học từ truyền thụ kiến thức sang tổ chức hướng dẫn định hướng phát triển năng lực nhận thức học sinh” Phương pháp dạy - học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú

ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và

nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Dạy

học phải phát huy tính tích cực, tự giác của người học; hình thành, phát triển năng lực sử dụng sách giáo khoa, năng lực nghe nói, đọc viết, tìm kiếm thông tin…Trên

cơ sở đó học sinh trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy.Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác nhằm phát triển năng lực xã hội cho các em Dạy - học theo hướng phát triển năng lực học sinh được thể hiện rõ nét trong việc dạy - học thể loại văn nghị luận nói chung và dạng bài Nghị luận xã hội nói riêng bởi dạng bài này tính thực hành cao, khả năng vận dụng kiến thức đời sống nhiều nên học sinh sẽ vừa nắm vững nội dung kiến thức bài học vừa trau dồi cho bản thân kĩ năng sống

Nếu Nghị luận văn học là trình bày nhận xét, đánh giá về nội dung, nghệ thuật…của tác phẩm văn học thì Nghị luận xã hội là bày tỏ quan quan điểm của

mình trước các vấn đề xã hội; phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan đến các

Trang 3

mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội nhằm tạo ra những tác động tích cực đến con người và mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội mà cuộc đời xã hội thì muôn màu, muôn vẻ, phong phú, đa dạng nên có rất nhiều góc độ

để soi chiếu Bài Nghị luận xã hội được ứng dụng rộng rãi trong đời sống, nó giúp

học sinh nhận thức một cách đầy đủ, cập nhật, khách quan các vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày Để từ đó có định hướng đúng đắn cho sự phát triển tích cực của học sinh theo quy luật vận động của xã hội Vì vậy học văn nghị luận xã hội là yêu cầu thiết thực trong quá trình học tập của học sinh THCS

Những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói chung, phân môn Tập làm văn nói riêng đã được chú trọng nhiều, nhất là kiểu bài

Nghị luận xã hội Từ đó mở ra nhiều hướng suy nghĩ mới, yêu cầu giáo viên phải

nghiên cứu vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học trong quá trình giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy học Một trong số những phương pháp đó là rèn luyện cho học sinh các kĩ năng viết tốt bài văn nghị luận xã hội Muốn bài văn nghị luận xã hội có sức thuyết phục thì không thể không có dẫn chứng thực tế - đây là yêu cầu bắt buộc bởi không có dẫn chứng thì bài nghị luận xã hội gần như diễn thuyết suông, thiếu cơ sở thực tế, quá ít dẫn chứng, thiếu tin cậy, lạm dụng dẫn chứng thì bài văn lại chỉ là sự liệt kê dẫn chứng đơn thuần khiến bài viết bị loãng, vô hồn.Vậy nên, vấn đề đặt ra là: Lấy dẫn chứng như thế nào là phù hợp? Lấy bao nhiêu dẫn chứng thì đủ để bài văn thuyết phục nhất? Dẫn dắt dẫn chứng theo quy trình nào thì đạt hiệu quả nhất? Đây quả là thách thức đối với giáo viên và học sinh trong quá trình hướng dẫn và làm bài

Việc lấy dẫn chứng đối với một bài văn Nghị luận xã hội (dù là nghị luận về

một tư tưởng, đạo lý hay một hiện tượng đời sống) đều có vai trò đặc biệt quan trọng Không có dẫn chứng bài văn sẽ thiếu “chất sống”, thiếu sự sinh động, hấp dẫn Quan trọng hơn, nếu thiếu dẫn chứng, những lý lẽ đưa ra sẽ không còn sức thuyết phục Lúc đó bài văn chỉ còn là những lời bàn luận chung chung, thiếu cơ sở, thiếu căn cứ và hoàn toàn mang tính lý thuyết suông Bài văn nghị luận không thể chỉ có một dẫn chứng mà cũng không nên đưa tràn lan các dẫn chứng Việc đưa ra dẫn chứng bao nhiêu tùy thuộc chúng ta xem xét vấn đề dưới những góc độ, phương diện, khía cạnh nào, càng nhiều phương diện tất yếu sẽ cần càng nhiều dẫn chứng.Thông thường cứ đưa ra một luận điểm cần phải có ít nhất một dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm đó

Như vậy: Để học sinh nắm bắt và có khả năng thực hành, vận dụng nhuần nhuyễn cách thức đưa dẫn chứng trong bài Nghị luận xã hội thì vai trò định hướng của người giáo viên là vô cùng quan trọng Giáo viên hướng dẫn thế nào, cách thức hoạt động ra sao sẽ quyết định chất lượng mức độ hiểu bài và vận dụng của học sinh như thế ấy.Tuy nhiên có giáo viên thành công và có nhiều kinh nghiệm trong việc hướng dẫn học sinh cách đưa dẫn chứng vào bài viết nhưng cũng có giáo viên chưa thành công, còn gặp nhiều lúng túng, hoặc định hướng chưa rõ ràng, hoặc hướng dẫn tràn lan, thiếu trọng tâm dẫn đến chưa phát huy được khả năng tư duy của học sinh

Trang 4

Cách thức hướng dẫn của giáo viên là một trong những yếu tố quyết định chất lượng lĩnh hội kiến thức của học sinh Thông qua câu hỏi, thông qua những yêu cầu của giáo viên, học sinh suy nghĩ, phát hiện kiến thức, phát triển nội dung bài học, kích thích sự sáng tạo của các em, từ đó phát triển tư duy Vì thế, mỗi giáo viên phải rèn luyện cho mình có được phương pháp hướng dẫn, gợi mở sao cho học sinh dễ hiểu, nhớ nhanh, nhớ lâu kiến thức, và có thể thực hành tạo lập được văn bản theo yêu cầu Đồng thời rèn luyện cho các em tính tích cực trong học tập, phát triển tư duy, rèn luyện kĩ năng làm văn và giáo dục tình yêu văn học, yêu cuộc sống, con người…

2 Thực trạng:

Có rất nhiều người có suy nghĩ rằng, một bài văn nghị luận xã hội chỉ cần đầy đủ các ý là sẽ đạt điểm cao, tuy nhiên chỉ đủ ý mà không có dẫn chứng thì bài văn nghị luận xã hội chỉ là một bài diễn thuyết, diễn nôm mà không mang tính thuyết phục Dẫn chứng đóng một vai trò không thể thiếu trong bài văn Nghị luận xã hội.Trên thực tế, có rất nhiều học sinh nắm rất vững các kiến thức cơ bản, tự tin để giải quyết được các yêu cầu của một đề văn nghị luận xã hội Tuy nhiên, các em lại gặp vấn đề trong việc đưa dẫn chứng cho bài văn của mình, phải luôn loay hoay trong các câu hỏi: lấy dẫn chứng ở đâu? Đưa bao nhiêu dẫn chứng là đủ? Đưa vào phần nào cho phù hợp? Nên đưa những dẫn chứng như thế nào để mang tính thuyết phục cao? Có cần phải khai thác sâu dẫn chứng hay không ?

Qua thực tế giảng dạy, bản thân nhận ra một số lỗi thường gặp khi đưa dẫn chứng trong bài viết của học sinh:

Đưa quá ít hoặc quá nhiều dẫn chứng cho bài văn dẫn đến tình trạng bài văn thiếu thuyết phục hoặc bị loãng; Lấy dẫn chứng nhưng không phân tích dẫn chứng, điều này dẫn đến việc dẫn chứng không phát huy được hiệu quả; Lấy dẫn chứng không cân đối, có những luận điểm có đến hai hoặc ba dẫn chứng nhưng có luận điểm lại chẳng có dẫn chứng nào dẫn đến bài văn thiếu hài hòa, mất cân đối; Lấy dẫn chứng một cách chung chung, không tiêu biểu, nổi bật, sáo rỗng hoặc không liên quan đến vấn đề trình bày…Tựu chung lại, thường khi viết bài nghị luận xã hội (nhất là dạng bài nghị luận về tư tưởng đạo lý), học sinh dễ mắc phải hai lỗi cơ bản sau:

Chọn dẫn chứng chưa phù hợp, hoặc dẫn chứng không liên quan đến vấn đề nghị luận, hoặc dẫn chứng chưa cụ thể, tiêu biểu, xác thực Lỗi này có nguyên nhân

do học sinh thiếu vốn dẫn chứng, có thể khắc phục bằng cách tổ chức các hoạt động cho học sinh sưu tầm

Lỗi thứ hai khó sửa hơn, đó là học sinh tìm được dẫn chứng rồi nhưng viết dẫn chứng không đạt, chưa biết khai thác sâu dẫn chứng Lỗi thường gặp nhất vẫn là

sa đà, kể lể Đối với học sinh khá thì lỗi hay mắc là các em chưa biết liên kết dẫn chứng với các lí lẽ và với vấn đề nghị luận Nguyên nhân của lỗi thứ hai này là do các em viết đoạn văn một cách bản năng, cảm tính, chưa có sự hình dung về trật tự sắp xếp ý cũng như mối liên hệ giữa các ý trong mạch lập luận của mình

Trang 5

Là người trực tiờ́p đứng lớp, qua trò chuyợ̀n, trao đụ̉i với đụ̀ng nghiợ̀p bản

thõn tụi nhọ̃n thṍy rằng: Nghị luọ̃n xã hụ̣i chiờ́m vị trí khụng nhỏ trong chương trình

nhưng đờ̉ dành thời gian hướng dõ̃n học sinh cách đưa dõ̃n chứng vào bài viờ́t thì khụng phải giáo viờn nào cũng lưu tõm, vụ́n kiờ́n thức đời sụ́ng của học sinh còn nghèo, nờn viợ̀c vọ̃n dụng đờ̉ viờ́t bài của học sinh còn gặp nhiờ̀u khó khăn Nhiờ̀u đụ̀ng nghiợ̀p có kinh nghiợ̀m trong giảng dạy cũng khẳng định: “ Hướng dõ̃n học sinh cách đưa dõ̃n chứng vào bài nghị luọ̃n xã hụ̣i ” sẽ mang lại kờ́t quả khá cao, tạo được hứng thú học tọ̃p cho học sinh song sẽ mṍt thời gian mà thời lượng dành cho dạng bài nghị luọ̃n xã hụ̣i khụng nhiờ̀u Bản thõn cũng có tư tưởng ngại hướng dõ̃n, thường hay cho rằng các em tự tích lũy được

Xuṍt phát từ yờu cõ̀u đụ̉i mới dạy – học bụ̣ mụn Ngữ văn trong nhà trường THCS nói chung và trường THCS Lờ Hữu Lọ̃p nói riờng cùng với sự góp ý của tụ̉ chuyờn mụn, của đụ̀ng nghiợ̀p và nhằm phát triờ̉n năng lực học sinh, khơi dọ̃y hứng thú học tọ̃p, sự yờu thích văn chương nhṍt là khả năng vọ̃n dụng kiờ́n thức thực tờ́ đời sụ́ng vào tạo lọ̃p văn bản nghị luọ̃n xã hụ̣i, chúng tụi đã soạn giáo án bụ̀i dưỡng và lờn lớp đờ̉ thực nghiợ̀m đờ̀ tài của mình và đã thu được kờ́t quả tích cực

3 Giải pháp và biợ̀n pháp tổ chức thực hiợ̀n:

a Giải phỏp thực hiện:

Đờ̉ thực hiợ̀n thành cụng đờ̀ tài, tụi đã sử dụng mụ̣t sụ́ giải pháp sau:

* Giải phỏp 1: Hiờ̉u rõ vai trò của dõ̃n chứng trong bài văn nghị luọ̃n xã hụ̣i

đờ̉ hướng dõ̃n học sinh cách thức đưa dõ̃n chứng vào bài viờ́t sao cho hiợ̀u quả

* Giải phỏp 2: Nghiờn cứu và lựa chọn các phương pháp dạy học tích cực,

tích hợp cùng với viợ̀c ứng dụng cụng nghợ̀ thụng tin đờ̉ bài dạy đạt kờ́t quả cao.Vọ̃n dụng kĩ thuọ̃t dạy học tích cực, sử dụng hình thức tụ̉ chức dạy học hợp lí, linh hoạt,

đa dạng phong phú có sức hṍp dõ̃n phù hợp với đặc trưng bài học, trình đụ̣ học sinh và điờ̀u kiợ̀n trường lớp

* Giải phỏp 3: Khai thác nhiờ̀u nguụ̀n tài nguyờn dạy học (Sách tham khảo,

kiờ́n thức trờn mạng Internet,vụ́n sụ́ng, kinh nghiợ̀m giảng dạy của đụ̀ng nghiợ̀p ) đờ̉ thiờ́t kờ́ giáo án, giảng dạy trờn lớp

* Giải phỏp 4: Lờn kờ́ hoạch cụ thờ̉ trong viợ̀c hướng dõ̃n học sinh tích lũy

kiờ́n thức, sắp xờ́p tư liợ̀u có thờ̉ làm dõ̃n chứng theo chủ đờ̀, sụ́ lượng dõ̃n chứng trong bài viờ́t như thờ́ nào là đủ, hướng khai thác, phõn tích dõ̃n chứng sao cho hiợ̀u quả

b.Cỏc biện phỏp tổ chức thực hiện:

Hiờ̉u được những lợi ích thiờ́t thực của viợ̀c phát triờ̉n năng lực qua hướng dõ̃n học sinh đưa dõ̃n chứng vào bài nghị luọ̃n xã hụ̣i ở trường THCS, viợ̀c đõ̀u tiờn là khơi dọ̃y trong các em tình yờu với mụn Ngữ văn tiờ́p đờ́n là những thay đụ̉i vờ̀ phương pháp: Thực tờ́, hữu ích với mục tiờu là học sinh biờ́t vọ̃n dụng kiờ́n thức đời sụ́ng vào viợ̀c tạo lọ̃p văn bản theo yờu cõ̀u, sử dụng câu từ, cách diễn đạt chính xác,

dễ hiểu, ngắn gọn mà rõ ràng Từ đó phát huy năng lực tiờ́p cọ̃n và xử lí thụng tin,

Trang 6

phát huy năng lực trình bày và góp phần bồi dưỡng tâm hồn các em hướng tới cái đẹp Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành thực hiện một số biện pháp sau:

* Biện pháp 1: Giúp học sinh nhận thức rõ vai trò của dẫn chứng trong bài Nghị luận xã hội:

Sức mạnh của văn nghị luận xã hội là sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm, sự thuyết phục của lập luận và sự sắc sảo trong cách đưa dẫn chứng Việc lấy dẫn chứng cho một bài văn nghị luận xã hội có vai trò vô cùng quan trọng, kể cả nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lí hay nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống Dẫn chứng là chứng cứ làm chỗ dựa cho lập luận Dẫn chứng là “chất sống”, mang lại sự thuyết phục cũng như tính sinh động và hấp dẫn cho bài văn.Tuy nhiên, đối với học sinh lớp 9, tích lũy kiến thức văn học là việc làm thường xuyên nhưng việc tích lũy, bồi đắp kiến thức cuộc sống, những hiểu biết xã hội còn bị xem nhẹ trong khi đó các lĩnh vực đời sông làm đề tài cho bài văn nghị luận xã hội rất đa dạng, nên kiến thức phục vụ cho bài làm của học sinh là vô cùng phong phú Vì vậy, giáo viên cần giúp học sinh nhận thức rõ vai trò của dẫn chứng trong bài nghị luận xã hội để các em hiểu và vận dụng có hiệu quả trong bài làm của mình

* Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh tích lũy dẫn chứng

Muốn có được hệ thống dẫn chứng cụ thể, xác thực trong bài viết thì yêu cầu người viết phải có vốn hiểu biết rộng, chịu khó tìm hiểu, học hỏi, đọc tài liệu song nếu không được định hướng cụ thể thì học sinh cũng sẽ rất lúng túng ở khâu này Vì thế vai trò hướng dẫn của người thầy là hết sức quan trọng Có thể định hướng học sinh huy động kiến thức từ các nguồn sau đây:

Kiến thức từ sách vở: Chủ yếu từ báo chí, sách tham khảo về các lĩnh vực của

cuộc sống, từ văn học, lịch sử, khoa học, tôn giáo, sách về gương người tốt việc tốt…"Hạt giống tâm hồn", "Hạt giống hạnh phúc", "Suy nghĩ của những người trẻ",

… Điều quan trọng là cùng các em tìm và lựa chọn sách cần thiết để học, biết cách đọc, biết hệ thống hóa kiến thức

Kiến thức từ đời sống: Hiểu biết, tích lũy từ đời sống hàng ngày của bản thân

người viết, yêu cầu học sinh có thói quen quan sát cuộc sống, những hoạt động, sự việc, những vấn đề từ cuộc sống xung quanh quan trọng hơn là biết suy nghĩ, suy xét những gì mình nghe được, quan sát được Trên cơ sở đó, biết lựa chọn, nắm bắt lấy bản chất vấn đề

Kiến thức từ trải nghiệm bản thân, đây sẽ là ví dụ minh họa sống động, có sức

thuyết phục nếu nó được vận dụng vào bài văn một cách tự nhiên, chân thành

Nhưng, điều quyết định là giáo viên hướng dẫn và khơi dậy trong các em ý thức quan sát, tìm hiểu, để tâm đến những vấn đề của đời sống xã hội; biết cách ghi chép, để vận dụng sao cho hiệu quả Vì vậy, hãy theo dõi và cập nhật thông tin qua chương trình thời sự, các trang báo uy tín, tìm hiểu về các vĩ nhân, danh nhân, để

chuẩn bị cho mình một vốn dẫn chứng giàu có, đa dạng, thuyết phục và sắc sảo Các

dẫn chứng thường là:

Trang 7

+ Các sự thật lịch sử và đời sống, bao gồm các sự kiện lịch sử, cuộc đời các nhân vật kiệt xuất, các nhà văn hóa của dân tộc và của thế giới, những nhà phát minh vĩ đại, các sự kiện đời sống được nhiều người biết…

+ Các tư tưởng, lý luận của những nhà tư tưởng lớn như Khổng Tử, Các Mác, Hồ Chí Minh,…

+ Các số liệu khoa học được công bố trên các báo, tạp chí về dân số, về số lượng HS trong cả nước, về thu nhập quốc dân, về sự phát triển kinh tế, kĩ thuật,… Các định lý, định luật khoa học,…

+ Các câu tục ngữ, thành ngữ, danh ngôn, châm ngôn,… kết tinh trí tuệ của dân gian và nhân loại, …

Ví dụ: Giáo viên hướng dẫn học sinh sưu tầm dẫn chứng theo chủ đề:

- Chủ đề về nghị lực sống :

+ Nick Vujicic, diễn giả nổi tiếng sinh ra thiếu hai tay, hai chân, nhưng anh đã vượt qua trở ngại bệnh tật, tốt nghiệp đại học tài chính năm 21 tuổi, trở thành nhà diễn thuyết nổi tiếng và truyền cảm hứng tới 3 triệu người trên thế giới Anh nổi tiếng với phương châm “Cuộc sống không giới hạn”

+ Hiệp sĩ công nghệ thông tin Nguyễn Công Hùng: Với cơ thể chỉ khoảng 20

kg, nhưng có sự thông minh và nghị lực sống phi thường, năm 2003, Công Hùng đã đứng ra mở một trung tâm tin học dành cho người có hoàn cảnh như mình Trung tâm của Công Hùng đã giúp nhiều người khuyết tật tại Nghệ An xóa bỏ mặc cảm, mở ra cơ hội việc làm và tương lai tươi sáng hơn cho họ Năm 2006, anh được Trung ương Đoàn bầu chọn là 1 trong 10 gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quốc, được mệnh danh là “Hiệp sĩ công nghệ thông tin” (Báo nguoiduatin.vn)

+ Helen Keller (27/6/1880 – 1/6/1968) là một nhà văn, nhà hoạt động xã hội mù, điếc người Mỹ Bà là người mù điếc đầu tiên trên thế giới tốt nghiệp một trường cao đẳng.Tuy sống trong thế giới không ánh sáng, không âm thanh nhưng Keller vẫn là một phụ nữ tràn đầy tinh thần lạc quan, thiết tha yêu cuộc sống Trong Thế chiến thứ I và thứ II, bà đến hơn 70 bệnh viện để an ủi bệnh nhân, động viên họ Bà dành trọn cuộc đời cho Hội người mù Mỹ

- Chủ đề về lòng nhân ái, bao dung, sự tha thứ.

+ Thay vì trừng phạt những kẻ bại trận (Liên minh miền Nam ủng hộ chế độ

nô lệ), trong buổi lễ sau khi cuộc nội chiến Mỹ kết thúc, Abraham Lincoln đã phát biểu: “Chúng tôi không ác tâm với bất kỳ ai, hãy để chúng tôi nỗ lực làm trọn công việc của mình để hàn gắn đất nước

+ Phan Thị Kim Phúc, “Cô gái Napalm” trong bức ảnh gây chấn động thế giới về chiến tranh VIệt Nam, đã phải chịu những vết thương sâu sắc cả về thể xác lẫn tinh thần Khi trưởng thành, Kim Phúc đã tha thứ cho những người ở bên kia chiến

tuyến, những kẻ đã trực tiếp gây ra những nỗi đau cho cô Kim Phúc nói: Sự tha thứ

giải thoát tôi khỏi lòng thù hận Vẫn còn nhiều vết sẹo trên thân thể tôi, và sự đau đớn vẫn kéo dài trong nhiều ngày, nhưng tâm tôi nay đã được an lành.

- Chủ đề về bảo vệ môi trường - Những con số biết nói về môi trường :

Trang 8

+ 14 chiếc túi ni lon được làm ra tổn phí nhiên liệu bằng lượng xăng dầu cho một chiếc ô tô chạy 1 km

+ 10 triệu USD là ngân sách nhà nước Việt Nam chi cho vấn đề rác thải hàng năm, trong khi không tiến hành phân loại và tái chế rác gây lãng phí 9 triệu USD (gần 140 tỉ đồng)

+ Trong 130 năm qua nhiệt độ trái đất tăng 0.40 độ C

+ Việt Nam đứng thứ hạng thấp nhất trong số 8 nước Đông Nam Á về các chỉ

số môi trường ổn định

* Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh cách đưa dẫn chứng vào bài văn nghị luận xã hội

- Số lượng dẫn chứng

Nếu bài văn nghị luận xã hội thiếu dẫn chứng thì những lí lẽ đưa ra chỉ là lý thuyết suông, mang tính chung chung, thiếu cơ sở Do đó bài văn sẽ không thể nào thuyết phục hoàn toàn được người đọc Tuy nhiên, nếu đưa dẫn chứng quá nhiều, tràn lan thì lí lẽ của bài sẽ bị mờ nhòa, bài văn sẽ bị loãng đi đáng kể Vậy, đưa bao nhiêu dẫn chứng vào một bài văn nghị luận xã hội là đủ ?

Việc đưa dẫn chứng vào một bài văn nghị luận xã hội không được quy định cụ thể Số dẫn chứng đưa vào phải tùy thuộc vào độ dài ngắn của bài văn cũng như yêu cầu trực tiếp của đề ra Trong một bài văn nghị luận xã hội không thể chỉ có một dẫn chứng nhưng cũng không nên đưa dẫn chứng tràn lan Phải dựa vào các khía cạnh của bài văn để lấy dẫn chứng.Thông thường cứ đưa ra một lý lẽ, luận điểm cần phải có ít nhất một dẫn chứng để làm sáng tỏ lý lẽ đó

Ví dụ:

Để làm sáng tỏ cho vấn đề nghị luận: “Người nấu bếp, người quét rác cũng

như thầy giáo, kỹ sư, nếu làm tròn trách nhiệm thì đều vẻ vang như nhau ( Hồ Chí

Minh) thì trong phần phân tích, chứng minh ở thân bài ít nhất học sinh phải nêu ra hai khía cạnh tương đương hai luận điểm và đưa ra dẫn chứng để làm rõ hai luận điểm đó

- Luận điểm thứ nhất: Nghề nào cũng cao quý, mỗi nghề nghiệp đều nảy sinh

từ nhu cầu xã hội nên có đặc điểm, vị trí riêng, không thể thay thế trong đời sống xã hội.

Chứng minh cho luận điểm này cần đưa ra dẫn chứng bằng cách thử đặt giả thiết nếu bây giờ không có những người lao công quét rác, không có những người nấu bếp, không có những người thợ thủ công…, xã hội sẽ thiếu hụt điều gì ? Người lao công làm sạch đường phố, bảo vệ môi trường; người thợ thủ công làm ra ngững sản phẩm phục vụ đời sống con người bằng bàn tay khéo léo, tài hoa của mình…nếu không có họ ắt xã hội sẽ không thể phát triển

- Luận điểm thứ hai: Con người làm vẻ vang nghề nghiệp, làm nghề gì, người

lao động cũng cần nhiều thời gian và công sức, có thể là lao động cơ bắp, cũng có thể là lao động trí óc Nhưng dù là công việc gì, họ cũng đã đóng góp sức lao động chân chính của mình để xây dựng xã hội Do vậy, họ đáng được tôn vinh.

Trang 9

Để làm rõ cho khía cạnh này, học sinh có thể đưa ra dẫn chứng về những

cuộc thi “Vua đầu bếp” để tôn vinh những người đầu bếp nấu ăn ngon hay những cuộc thi “Khéo tay hay làm” để tôn vinh những người thợ giỏi Điều đó chứng tỏ những công việc tưởng chừng như bình thường vẫn được tôn vinh nếu người làm việc cố gắng hết sức…

Các em nên lấy dẫn chứng liên quan trực tiếp vấn đề nghị luận và là dẫn chứng ngoài đời sống chứ không phải trong các tác phẩm văn chương, lấy dẫn chứng gần gũi với đời sống học sinh Khi lấy dẫn chứng ngoài đời sống lại phải ưu tiên dẫn chứng nóng hổi, có tính thời sự, tiêu biểu

- Phân bố dẫn chứng phù hợp

Thông thường, với mỗi luận điểm, lí lẽ chúng ta sẽ lấy dẫn chứng để làm sáng tỏ cho luận điểm đó Tuy nhiên nếu không lựa chọn đúng lí lẽ cần đưa và phân tích sâu dẫn chứng thì sẽ làm bài viết bị mờ nhòa hoặc đi sai trọng điểm Do đó cần lựa chọn và phân bổ dẫn chứng trong toàn bài văn một cách hợp lí, đúng trọng tâm, trọng điểm Trong cấu trúc bài văn nghị luận xã hội không phải phần nào cũng cần dẫn chứng Đối với bài nghị luận về một hiện tượng đời sống, phần cần nhiều dẫn

chứng nhất chính là nêu thực trạng Còn đối với dạng bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lý, phần phân tích, chứng minh phải có dẫn chứng đi kèm.

Đối với phần thân bài là trọng tâm của cả bài, do đó cần chú trọng đưa dẫn chứng vào phần này, tập trung phân tích để thấy được điểm nhấn của bài Ngoài ra, phần kết luận thường đưa ra suy ngẫm, liên hệ với bản thân…do đó ở phần này cũng nên đưa dẫn chứng vào để tăng thêm tính thuyết phục và sinh động cho bài văn

- Những dẫn chứng mang tính thuyết phục cao

Trước hết, dẫn chứng đưa vào bài văn phải là những nhân vật, sự việc, hiện tượng tiêu biểu trong xã hội, được nhiều người quan tâm và thừa nhận Đó có thể là các nhân vật lịch sử, những người được nhiều người biết đến như: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bethoven, Thomas Edison,Nick Vujicic…cũng có thể là những vấn đề nổi cộm, đang được đông đảo mọi người quan tâm như: bạo lực gia đình, ô nhiễm môi trường…

Thứ hai, dẫn chứng đưa vào bài văn phải phù hợp với lí lẽ dẫn chứng mà nó làm sáng tỏ Không thể trình bày lí lẽ, luận điểm một đằng rồi lại đưa dẫn chứng một nẻo

Muốn lập luận thuyết phục, người viết phải biết lựa chọn dẫn chứng theo các tiêu chí sau đây:

Dẫn chứng phải phù hợp với yêu cầu khẳng định của luận điểm Nội dung của luận chứng phải thống nhất với nội dung của luận điểm

Dẫn chứng phải xác thực Khi nêu dẫn chứng, người viết cần biết chính xác về nguồn gốc, các số liệu, các sự kiện, tiểu sử nhân vật…Biết không chắc chắn thì chưa vội sử dụng Tuyệt đối không được bịa đặt dẫn chứng

Dẫn chứng phải tiêu biểu Nếu chọn chi tiết về nhân vật thì chọn chi tiết tiêu biểu nhất cho cuộc đời của nhân vật ấy

Trang 10

Dẫn chứng phải vừa đủ, đáp ứng yêu cầu chứng minh toàn diện cho luận điểm

Cuối cùng, dẫn chứng cần phải mới mẻ Nên cố gắng khai thác khía cạnh nội dung mới của dẫn chứng

Khi sử dụng dẫn chứng vào bài văn nghị luận, người viết cần lưu ý: Trước hết phải giới thiệu dẫn chứng, có trường hợp cần chỉ ra nguồn gốc của luận cứ ( số liệu lấy ở đâu, mẩu chuyện của ai, trích từ sách nào… ) Cần trích dẫn chính xác Nhớ nguyên văn thì đặt trong ngoặc kép, nhớ đại ý thì chuyển thành lời gián tiếp Dẫn nhân vật thì lược thuật cuộc đời và hoạt động của nhân vật…

* Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh khai thác sâu dẫn chứng

Trong một bài văn nghị luận, dẫn chứng đóng vai trò củng cố cho sức thuyết phục của lập luận Tuy vậy, dẫn chứng không phải là minh họa vô hồn, mà dẫn chứng cũng có thông điệp riêng của nó Nếu biết khai thác sâu dẫn chứng thì bài văn nghị luận xã hội không chỉ đúng mà còn có điểm nhấn và tạo ấn tượng cho người đọc.Vậy thế nào là khai thác sâu dẫn chứng? Đó là việc khai thác dẫn chứng theo các công đoạn:

Chọn dẫn chứng phù hợp với luận điểm, đảm bảo các yêu cầu: cụ thể,tiêu biểu, xác thực

Chọn chi tiết đắt giá trong dẫn chứng để khai thác nhằm tô đậm dẫn chứng: Chi tiết đắt giá là những yếu tố nhỏ thuộc về câu chuyện, nhân vật, sự kiện được chọn làm dẫn chứng song phải có sự liên quan chặt chẽ đến vấn đề nghị luận, đến luận điểm mà nó đang làm rõ; khái quát được vấn đề mà người viết muốn khai thác; gây được ấn tượng mạnh cho người đọc; được người viết xử lý hợp lí

Chọn cách viết phù hợp để khai thác giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật của dẫn chứng Cách tốt nhất là tạo chất văn khi phân tích dẫn chứng Bùi Ngọc Quý

cho rằng: “tình ấy gốc văn, tình chật hẹp thì văn kia xơ cứng , vì vậy vun đắp cái

tình khi làm văn là yêu cầu tất yếu xuất phát từ trải nghiệm và cảm xúc của người viết để hướng đến và tác động vào cảm xúc của người đọc; cảm xúc chân thành, mãnh liệt, nhiệt huyết; hành văn trôi chảy, lôi cuốn, dùng từ chính xác, biểu cảm, diễn đạt giàu hình ảnh, văn phong trong sáng đặt dẫn chứng vào hệ thống kiến thức khoa học để phân tích và soi chiếu

Chẳng hạn: Bàn về quan niệm của nhà thơ Thanh Huyền“Hạnh phúc ở trong

những điều giản dị” trong bài thơ “Hạnh phúc” Một học sinh đã viết đoạn văn bình

luận với lí lẽ sắc bén, dẫn chứng tinh chắt xuất phát từ sự trải nghiệm của bản thân, bằng tình cảm chân thành với những người thân yêu với lối viết giàu hình ảnh:

“ Thời gian, sự trải nghiệm sẽ khiến bạn thấu nhận sâu sắc rằng những hạnh phúc giản dị đời thường mới là nguồn sức mạnh lớn lao nhất giúp ta vững bước qua những thử thách lớn lao của cuộc đời Vòng tay ấm áp của mẹ là thế giới bình yên mênh mông; sự động viên khích lệ của cha làm ta vững bước, cái ôm của bạn bè là

sự sẻ chia khiến ta ấm lòng để nụ cười lại nở trên môi Đôi khi ta chạy theo những

ảo ảnh xa vời, tìm kiếm hạnh phúc ở nơi xa tít mà quên đi rằng những điều bình dị

Ngày đăng: 21/10/2019, 08:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w