Đoạn văn tự sự phải mang màu sắc của văn bản tự sự, tức là phải kể vềngười, về việc, về hành động của các nhân vật.đoạn văn tự sự thường có một ýchính diễn đạt thành một câu gọi là câu c
Trang 11.3 Đối tượng nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1222
1 Mở đầu:
1.1.Lí do chọn đề tài:
Trang 2Khi đất nước phát triển và hội nhập như hiện nay học sinh có điều kiệngiao lưu mở rộng, được tiếp nhận nhiều nguồn thông tin đa dạng, phong phú từnhiều mặt của cuộc sống, có hiểu biết nhiều hơn, linh hoạt hơn Nhưng phươngthức học tập tự lập của học sinh vẫn bộc lộ nhiều mặt hạn chế Để hình thành kĩnăng tự học cho học sinh đòi hỏi phải có sự hướng dẫn của người thầy một cáchtận tình, đúng phương pháp tích cực, chủ động Chương trình, sách giáo khoa vàđổi mới phương pháp dạy học đã đáp ứng được nhu cầu đó Song trên thực tếdạy học còn nhiều những khó khăn cả về phía người học và dạy Đặc biệt vớihọc sinh lớp 6 hiện nay khả năng thích ứng với chương trình, sách giáo khoa,phương pháp dạy học theo tinh thần đổi mới còn rất khó khăn Các em chưa cókhả năng độc lập, sáng tạo trong học tập và tư duy lôgic; kĩ năng thực hành và tưduy ngôn ngữ còn yếu Đây là điểm hạn chế nếu chúng ta không chú ý khắcphục, uốn nắn cho các em.
Thực tế trong đổi mới chương trình giáo dục, sách giáo khoa bậc THCSđòi hỏi đổi mới một cách toàn diện từ nội dung, phương pháp, phương tiện dạyhọc, cách tổ chức dạy và học, kiểm tra, đánh giá kết quả dạy và học Tuy nhiên,hình thức kiểm tra đánh giá trắc nghiệm khách quan bên cạnh những mặt tíchcực như: phạm vi đánh giá kiến thức rộng hơn tự luận, số lượng câu hỏi nhiềuhơn, phủ khắp được kiến thức chương trình môn học, tránh việc “học tủ”, “họclệch” nhưng lại có hạn chế đến kĩ năng tạo lập văn bản – thực hành ngôn ngữcủa học sinh Đây chính là khó khăn thách thức đối với người giáo viên lên lớptrong tình hình đổi mới giáo dục hiện nay: vừa phải thực hiện đúng tinh thần đổimới phương pháp dạy học, vừa phải làm sao đem lại hiệu quả như mục tiêuchương trình, sách giáo khoa đã đề ra Nó đòi hỏi người giáo viên phải có trình
độ kiến thức sâu rộng, vừa phải thấm sâu tinh thần đổi mới phương pháp dạyhọc lại vừa phải có tấm lòng nhiệt huyết với học trò, với sự nghiệp trồng người
Có thể nói, rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản, kỹ năng xây dựng đoạn vănnằm trong phạm vi đổi mới phương pháp dạy học Trong quá trình dạy học mônNgữ văn, giáo viên phải luôn chú ý đến cách thức tổ chức cho học sinh hoạtđộng để phát triển kỹ năng viết cho các em Đặc biệt là đối với học sinh lớp 6cần phải chú trọng rèn luyện nhiều hơn, bởi vì kỹ năng tạo lập văn bản, kỹ năngxây dựng đoạn văn của các em còn rất hạn chế Chính vì vậy, tôi xin mạnh dạn
chia sẻ kinh nghiệm: “Kỹ năng xây dựng đoạn văn tự sự cho học sinh lớp 6 Trường THCS Lam Sơn, Ngọc Lặc”
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Trang 3- Rèn cho học sinh kĩ năng học theo tinh thần đối mới, có khả năng độclập, sáng tạo trong học tập và tư duy lô gic.
- Giúp học sinh có kĩ năng thực hành và tư duy ngôn ngữ
- Rèn kĩ năng tạo lập văn bản, kĩ năng xây dựng đoạn văn
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Giáo viên dạy Ngữ văn và học sinh lớp 6 Trường THCS Lam Sơn - NgọcLặc, một số bài viết của học sinh lớp 6 về văn tự sự Cụ thể là:
+ Thực trạng về phương pháp giảng dạy của giáo viên và bài viết của một
số học sinh
+ Những giải pháp chủ yếu để rèn luyện kĩ năng nâng cao chất lượng
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân đã vận dụng một số phươngpháp nghiên cứu sau:
- Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, phân tích đối chiếu với thực trạng đưa ranhững đề xuất có tính khoa học để giáo viên vận dụng
- Phân tích, tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Dự giờ, thăm lớp, tham khảo ý kiến đồng nghiệp
2 Nội dung:
2.1 Cơ sở lí luận:
Tự sự theo nghĩa rộng là phương thức biểu đạt bằng cách kể ra các sựkiện theo mối quan hệ nào đấy như: quan hệ nhân quả, quan hệ liên tưởng Cốttruyện của tác phẩm tự sự được thể hiện qua một chuỗi tình tiết, thông thườngmỗi tình tiết được kể bằng một đoạn văn Bởi vậy đoạn văn tự sự có thể giớithiệu nhân vật (lai lich, tên họ, quan hệ, tính tình, tài năng…) hoặc kể về cácviệc làm, hành động, lời nói, kết quả và sự đổi thay do các hành động đó đemlại Ở đoạn có lời đối đáp giữa các nhân vật thường tương ứng với một đoạnthoại, tức là đoạn đối thoại ấy nhằm hướng đến một nội dung nào đó trong toàn
bộ nội dung của văn bản Đoạn thoại có thể gồm nhiều cặp thoại cùng hướngđến một nội dung nào đó trong toàn bộ cuộc thoại
Một đoạn văn bao giờ cũng phải liên quan chặt chẽ với các đoạn văn kháctrong bài văn, nghĩa là đoạn văn ấy phải chịu sự chi phối của phong cách vănbản Đoạn văn tự sự phải mang màu sắc của văn bản tự sự, tức là phải kể vềngười, về việc, về hành động của các nhân vật.đoạn văn tự sự thường có một ýchính diễn đạt thành một câu gọi là câu chủ đề Các câu trong đoạn văn có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau về nội dung (cùng hướng về một vấn đề) và hình thức(các câu liên kết với nhau thông qua các phương tiện liên kết)
Trang 4Như vậy, về hình thức, đoạn văn được quy định từ chữ đầu đoạn văn phảiviết hoa và lùi vào một chữ Về nội dung thường biểu đạt một ý tương đối trọnvẹn Đoạn văn thường phải có câu chủ đề Câu chủ đề mang nội dung khái quát,lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính chủ ngữ và vị ngữ Câu chủ đề
có thể đứng ở đầu đoạn hoặc cuối đoạn Nếu câu chủ đề đứng đầu đoạn tức đoạnvăn được trình bày nội dung theo cách diễn dịch; nếu câu chủ đề đứng ở cuốiđoạn tức nội dung được trình bày theo cách quy nạp Các câu trong đoạn văn cómối quan hệ ý nghĩa chặt chẽ với nhau Chúng có thể bổ sung ý nghĩa cho nhauhoặc bình đẳng nhau về ý nghĩa Các câu trong đoạn văn liên kết với nhau vềmặt nội dung nhằm duy trì đối tượng biểu đạt nhờ vào các từ ngữ chủ đề Từngữ chủ đề là từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ lặp lại nhiều lầntrong đoạn văn Ngoài hai cách trình bày nội dung như vừa nói trên, thì đoạnvăn còn có cách trình bày nội dung theo cách song hành, móc xích, tổng phânhợp
2.2 Thực trạng vần đề:
Thực trạng viết văn tự sự và viết đoạn văn tự sự của học sinh lớp 6 trườngTHCS Lam Sơn trong những năm gần đây vẫn đang còn nhiều vấn đề tồn tại,hạn chế Hiện tượng học sinh lớp 6 chưa biết viết hoặc chưa có kĩ năng viếtđoạn văn tự sự là một sự thực Số liệu thống kê trong bảng dưới đây cho biết rõhơn về thực trạng viết đoạn văn tự sự của học sinh lớp 6 trường THCS Lam Sơn
NĂM
HỌC
LOẠI BÀI KHẢO SÁT
SĨ SỐ
KẾT QUẢ KHẢO SÁT
Không biết diễn đạt(xác định câu chủ đề, xác định ý,
sử dụng phép liên kết, sử dụng từ)
Diễn đạt (xác định câu chủ đề, xác định ý,
sử dụng phép liên kết, sử dụng từ) còn hạn chế
Vận dụng linh hoạt
2016-2017
Bài viết số 1 (Tiết theo PPCT: 17, 18)
Bài viết số 2 (Tiết theo
Trang 5Bài viết số 3 (Tiết theo
Bảng thống kê số liệu của năm học: 2013 - 2014 trên đây ta thấy có 3 mứcđánh giá Mức yếu kém: “Không viết được (chỉ là chuỗi câu văn lộn xộn)” là kếtquả những bài làm của học sinh không viết thành đoạn văn, nó chỉ là chuỗi câulộn xộn, chắp nối thiếu mạch lạc hoặc vô nghĩa, hoặc thậm chí có học sinh bỏtrống chẳng viết được chữ nào ( bài kiểm tra 15 phút – viết đoạn văn) hoặc viếtsai thể loại hoặc không hiểu đề, không có kiến thức môn học Mức trung bình:
về cơ bản là biết viết đoạn văn tự sự nhưng diễn đạt còn lủng củng, đây là nhữngbài làm của học sinh viết đúng nội dung đề bài song còn có chỗ diễn đạt yếu, ýtrùng lặp, lựa chọn từ ngữ thiếu chính xác, sai chính tả, sai cú pháp…Mức khá,giỏi: “viết tốt”, đây là những bài thuộc đối tượng học sinh khá giỏi Nhìn chungcác em viết sâu sắc, hiểu nội dung yêu cầu của đề bài và có kỹ năng viết văn tự
sự tương đối tốt Nhìn chung, đây là những học sinh có năng lực giao tiếp trongthực tiễn của đời sống; có “năng lực hành động, năng lực thích ứng, năng lựccùng sống và làm việc, năng lực tự khẳng định mình”
Như vậy, qua các bài kiểm tra của học sinh lớp 6 trường THCS Lam Sơn
ở năm học trước, tôi thấy rằng: những học sinh có kỹ năng thành thạo, trôi chảytrong việc xây dựng đoạn văn tự sự chỉ chiếm một số lượng rất ít Còn nhữnghọc sinh yếu về kỹ năng viết đoạn văn tự sự và những học sinh viết được songdiễn đạt lủng củng lại chiếm số lượng nhiều hơn…Điều đó thực sự là nỗi trăntrở, mối quan tâm của những giáo viên văn tâm huyết Tôi thực sự lo lắng vềthực trạng khả năng, kỹ năng viết văn tự sự, kỹ năng xây dựng đoạn văn tự sựcủa học sinh lớp 6 Trường THCS Lam Sơn Tôi luôn mong muốn, tất cả giáoviên bộ môn Ngữ văn hãy đóng góp những việc làm thiết thực để hình thành vàphát triển tốt năng lực viết văn nói chung và năng lực viết văn tự sự nói riêngcho học sinh THCS
Trang 6Thứ nhất: Xác định ý của đề bài:
Để làm tốt bài văn tự sự, trước khi làm phải đọc kĩ đề bài và nắm vữngyêu cầu của đề bài, từ đó sẽ xác định nội dung theo yêu cầu của đề Như vậy,xác định ý của đề là suy nghĩ, định hướng, xác định nội dung sẽ vết theo yêu cầucủa đề Cụ thể là xác định nhân vật, sự việc, tình tiết, diễn biến, kết quả và ýnghĩa của truyện
Với việc xác định ý của đề tùy theo yêu cầu của đề bài mà giáo viênhướng dẫn cho học sinh cách xác định ý, lựa chọn ý cho bài viết Để làm sáng tỏyêu cầu của đề bài học sinh cần phải triển khai, trình bày nội dung cụ thể của đốitượng, tức là cần trả lời câu hỏi: viết những gì? Cần phải xác định nhân vật, sựviệc, diễn biến, kết quả và ý nghĩa của câu chuyện
Thứ hai: Xác định câu chủ đề cho từng ý
Trong văn bản tự sự có nhiều đoạn văn Mỗi đoạn văn thường diễn đạtmột ý tương đối hoàn chỉnh Ý chính này thường được diễn đạt thành một câu,gọi là câu chủ đề Các câu khác diễn đạt những ý phụ dẫn đến ý chính đó, hoặcgiải thích cho ý chính, làm cho ý chính nổi lên Để viết được các đoạn văn cónội dung phù hợp với chủ đề của đoạn văn, trước hết xác định chủ đề lớn của bàivăn là gì? Sau đó mới xác định câu chủ đề cho từng ý, tức là từng đoạn văn Cáccâu chủ đề của đoạn văn thường nằm ở đầu đoạn( đoạn văn trình bày theo cáchdiễn dịch) hoặc cuối đoạn (đoạn văn qui nạp)
Thứ ba: Sử dụng phép liên kết và cách dùng từ trong đoạn văn
Mỗi đoạn văn bao giờ cũng phải trình bày tương đối hoàn chỉnh một ý.Các câu trong đoạn văn phải có quan hệ về ý nghĩa và phải liên kết chặt chẽ vớinhau bằng các phương tiện liên kết Phương tiện liên kết là những từ, những tổhợp từ dùng để liên kết câu Phép liên kết là cách sử dụng các phương tiện liênkết để liên kết câu Có các phép liên kết sau: phép nối, phép lặp, phép thế…
Thứ tư: Hướng dẫn cách viết các đoạn văn trong bài văn tự sự
Cách viết đoạn mở bài:
Phần mở bài có nhiệm vụ giới thiệu nhân vật, tình huống phát sinh câu
chuyện, không gian, thời gian của câu chuyện Như vậy, phần này phải trả lờicho các câu hỏi: câu chuyện xảy ra ở đâu? Vào không gian nào? Câu chuyện cómấy nhân vật? Nhân vật chính là ai? Cũng có lúc người ta bắt đầu từ một sự cốnào đó, hoặc kết cục câu chuyện, số phận nhân vật, rồi ngược lên kể lại từ đầu
Nhìn chung cách mở bài của bài văn tự sự rất phong phú đa dạng, có thể
kể tới các cách mở bài khác nhau:
Trang 7Cách mở bài Giới thiệu nhân vật và tình huống phát sinh câu chuyện.
Cách mở bài này nhằm thu hút người đọc, tạo sự tò mò đối với người đọc.Cách này ta thường thấy trong những câu chuyện cổ tích, truyện ngụ ngôn
Ví dụ:“Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mị Nương Người đẹp như hoa, tính nết hiền dịu Vua cha yêu thương hết mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng”
Cách mở bài giới thiệu trực tiếp nhân vật.
Ví dụ: “Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai, lão Miệng từ xưa vẫn sống với nhau khá thân thiết”
(Mở bài của em Nguyễn Thị Khánh Huyền lớp 6A)
Cách mở bài được bắt đầu bằng vài câu tả cảnh, tả thời khắc lúc đó để tạo bối cảnh cho truyện.
Ví dụ: “Cơn gió nhẹ nhàng lướt qua làm cả rừng mơ trắng bạt ngàn đong đưa theo chiều gió, gió mang hương thơm lan tỏa khắp núi rừng “bay gần bay xa” khiến không gian như tràn
hiện lên đẹp đến nao lòng qua khổ thơ sau”: ( ……)
(Bài của em Lê ThịQuỳnh An lớp 6A)
Cách mở bài nói đến kết quả sự việc rồi mới ngược lên kể lại từ đầu
Ví dụ: Hằng năm Thủy Tinh vẫn dâng nước đánh Sơn Tinh, nhân dân lại chịu cảnh lụt lội Nhìn cảnh tượng ấy ta lại nhớ về câu chuyện “Sơn Tinh, Thủy Tinh” đời Hùng Vương thứ 18.
( Mở bài của em Lê Thị Hương lớp 6A)
Như vậy, trong văn bản tự sự có nhiều cách mở đầu câu chuyện, điềuđáng quan tâm là phải mở đầu làm sao để thu hút sự quan tâm chú ý, tò mò hấpdẫn đối với người đọc Hầu hết học sinh cảm thấy rất khó khăn khi viết đoạn mởbài Bởi vì mở bài có lưu loát, trong sáng, hấp dẫn thì làm văn mới có cảm xúc,mới hay và thu hút người đọc
Cách viết đoạn thân bài
Phần thân bài của bài văn tự sự gồm nhiều đoạn văn Mỗi đoạn văn là một
ý của bài văn Các đoạn trong phần này có thể được trình bày theo các trình tựnhất định
Đoạn văn giới thiệu nhân vật: Giới thiệu tên, họ, lai lịch, quan hệ, tính
tình, tài năng, ý nghĩa của nhân vật
Ví dụ: Sơn Tinh, Thủy Tinh hai nhân vật này được khắc họa như sau:
Trang 8Sơn Tinh ở vùng núi Tản Viên, có tài lạ Vẫy tay về phía Đông, phía Đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía Tây, phía Tây mọc lên dãy núi đồi Còn nhân vật Thủy Tinh thì: gọi gió, gió đến, hô mưa, mưa về, là chúa của vùng nước thẳm.
Đoạn văn xây dựng sự việc: Khi kể việc thì kể các hành động, việc làm,
kết quả và sự đổi thay do các hành động ấy đem lại
Trong hệ thống sự việc của đoạn văn tự sự: có sự việc khởi đầu, sự việccao trào, sự việc kết thúc Khi xây dựng sự việc cần có sự việc mở đầu, nó lànguyên nhân trực tiếp làm bùng nổ các xung đột
Ví dụ:
Sự việc mở đầu trong truyện Sơn Tinh – Thủy Tinh là vua Hùng Vương thứ mười tám kén phò mã Đó là nguyên nhân của các sự việc tiếp theo: Sơn Tinh – Thủy Tinh đến cầu hôn Vua thách sính lễ, Sơn Tinh lấy được vợ.
Sự việc phát triển bao gồm các chuỗi sự kiện hoặc các biến cố nối tiếpnhau làm cho xung đột phát triển đến cao trào, sự việc cao trào là xung đột gaygắt căng thẳng và đi đến chỗ nhất thiết phải giải quyết
Ví dụ:
Thủy Tinh không lấy được vợ, nổi giận đem quân đuổi theo đánh Sơn Tinh, hòng cướp lại Mị Nương, Sơn Tinh cũng không chịu thất bại và đánh trả lại Thủy Tinh Sự việc kết thúc là kết quả của xung đột được giải quyết Ví dụ: Thủy Tinh thất bại
Các sự việc được sắp xếp theo một trình tự hợp lí, cái trước là nguyênnhân của cái sau và là cái kết quả của cái trước Sự sắp xếp như vậy khiến chocác sự việc quan hệ với nhau gắn bó chặt chẽ Như vậy, xây dựng sự việc chính
là quá trình tìm ý, chọn ý, sắp xếp các ý để viết đoạn văn tự sự
Phần nâng cao, mở rộng, tham khảo thêm cho học sinh khá giỏi:
Đoạn văn tự sự kết hợp với yếu tố miêu tả và biểu cảm
Các yếu tố miêu tả và biểu cảm làm cho việc kể chuyện sinh động và sâusắc hơn Muốn xây dựng một đoạn văn tự sự có kết hợp của yếu tố miêu tả vàbiểu cảm có thể theo năm bước sau:
+ Bước 1: Xác định sự việc chọn kể.
+ Bước 2: Chọn ngôi kể cho câu chuyện.
+ Bước 3: Xác định trình tự kể (chuyện bắt đầu từ đâu, diễn biến thế nào
và kết thúc ra sao?)
+ Bước 4: Xác định các yếu tố miêu tả và biểu cảm dùng trong đoạn văn
tự sự sẽ viết ( bao nhiêu? Ở vị trí nào trong truyện?)
+ Bước 5: Viết thành đoạn văn.
Trang 9Ví dụ:
Đoạn văn tự sự có kết hợp miêu tả và biểu cảm.
Sau năm năm, từ hồi lên thành phố học, đây là lần đầu tiên tôi trở về quêthăm bà ngoại Ngồi trên xe ô tô, lòng tôi náo nức, rộn rã vô cùng Nhìn qua cửa
kính, cảnh đồng quê dung dị thuần khiết hiện lên Những cánh đồng lúa chín vàng trải dài đến tận chân trời, những cánh cò trắng rập rờn trên không trung thật đẹp mắt Tôi như lạc vào một thế giới mới, như con cá sau bao ngày nắng hạn được vẫy vùng trong làn nước quê mát mẻ, trong lành Yêu lắm quê hương!
Đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố nội tâm
Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự là tái hiện những ý nghĩ, cảm xúc vàdiễn biến tâm trạng của nhân vật Đó là biện pháp quan trọng để xây dựng nhânvật, làm cho nhân vật sinh động Kết hợp sử dụng yếu tố nội tâm trong việc xâydựng đoạn văn giới thiệu nhân vật
Ví dụ:
“Tôi thực sự lo lắng đến không ngủ được Ngày mai, tôi đã bước vào vòng thi đầu tiên Nếu qua khỏi vòng loại này, tôi mới có cơ hội để thi chọn lớp Thầy giáo vẫn dặn: Phải bình tĩnh, tự tin, thoải mái thì mới có cảm xúc để viết văn Nhưng sao mình không lấy được cảm giác ấy nhỉ? Nếu cứ thế này, ngày mai sẽ hỏng mất…Bỗng nhiên bài thơ “Quê hương” của tế Hanh chiều nay thầy vừa giảng loáng thoáng hiện về Một làng chài ven biển tươi sáng, trong trẻo với những con người lao động khỏe khoắn…làm tôi say sưa trong giấc ngủ”.
Đoạn văn tự sự có đối thoại, độc thoại nội tâm:
Đối thoại trong văn tự sự tạo nên không khí sôi động, hào hứng Còn độcthoại nội tâm cho người đọc thấy được chiều sâu tư tưởng của nhân vật (nhânvật nói gì, nghĩ gì?) Chính vì vậy, việc xây dựng các đoạn văn tự sự có đốithoại, độc thoại nội tâm là việc làm rất cần thiết trong khi tạo lập văn bản tự sự
Ví dụ:
“Đang học bài, tôi bỗng nghe tiếng gọi:
- Lan ơi, cậu có ở nhà không?
- Có, cậu vào nhà đi!
- Lan cho tớ mượn cuốn sách “Dế Mèn phiêu lưu kí” vài hôm nào.
- Sách của tớ đã cho cô em họ mượn về quê rồi.
- Ôi tiếc thật! Mai tỏ vẻ buồn rầu.
Chúng tôi trò truyện một lúc rồi Mai về Tự nhiên tôi cảm thấy mình không còn là mình nữa Quyển sách vẫn còn kia Tại sao mình lại ích kỷ với bạn như thế? Có phải mình sợ Mai học giỏi hơn mình chăng? Nếu được đọc cuốn
Trang 10sách này chắc chắn Mai viết bài sẽ đạt điểm 9 cho mà xem…Không, mình không phải là con người hay đố kị Ngày mai, mình sẽ tìm cách để xin lỗi Mai”.
Cách viết đoạn kết bài:
Cũng như phần mở bài, phần kết bài cũng có nhiều cách kết thúc: thôngthường kết thúc hay gắn với chủ đề câu chuyện Hay cụ thể hơn là truyện cổ tíchthường hay khép lại bằng hai chữ: từ đây, từ đó
Ví dụ: Từ đó, oán nặng thù sâu, hàng năm Thủy Tinh làm mưa gió, bão lụt dâng nước đánh Sơn Tinh…
Kết thúc khi các diễn biến chấm dứt:
Ví dụ: Thánh Gióng đánh đuổi xong giặc Ân, một mình, một ngựa, cởi bỏ giáp sắt và bay về trời.
Kết thúc mở: Là loại kết thúc mà khi các diễn biến còn chưa kết thúc để
người đọc tự suy luận về hướng phát triển của câu chuyện Cách kết thúc nhưvậy là chưa phải kết thúc
Ví dụ: Kết thúc của tác phẩm “ Tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố, tác phẩm “ Lặng lẽ Sa Pa” của nhà văn Nguyễn Thành Long.
Kết thúc na ná giống như khi vào câu chuyện: Tả cảnh, tả tình, một cảm
giác mới lạ, một câu hỏi…bằng cách kết thúc như vậy, người kể chuyện thườngmuốn gợi cho người đọc, người nghe một sự đột ngột thú vị hay một dư âmngân nga mãi trong lòng, hoặc đó lại là một sự nhấn mạnh về ý nghĩa của câuchuyện mình kể như: Nên sống như thế nào? Nên xử sự ra sao? Nên ghét cái gì,nên yêu cái gì?
Ví dụ:
Dũng ngước nhìn lên, đàn chim xanh đang bay về phía trước Một cái cổ xanh biếc quay lại phía Dũng, bất chợt, Dũng giơ tay vẫy vẫy Em nhìn theo đến khi đàn chim chỉ còn là cái chấm nhỏ.
Giải pháp thứ hai: Xây dựng hệ thống bài tập viết đoạn văn tự sự
Nguyên tắc để xây dựng hệ thống bài tập viết đoạn văn tự sự thực hiệngiải pháp này như sau:
Mục tiêu chương trình
Mục tiêu chung của chương trình ngữ văn THCS đề ra là: học sinh cótrình độ học vấn THCS; hiểu biết ban đầu về kĩ thuật – hướng nghiệp; dạy chữ,dạy người, dạy nghề; các kiến thức và kĩ năng thực hành được củng cố để tạo rađược bốn năng lực chủ yếu: năng lực hành động, năng lực thích ứng, năng lựccùng sống và làm việc, năng lực tự khẳng định mình; phù hợp với 4 trụ cột giáodục thế giới thế kỉ XXI: học để biết, học để làm việc, học để làm người, học để