MỞ BÀI Việc làm luôn là vấn đề được mọi người dân, xã hội quan tâm. Trong xã hội ngày nay, để tìm được công việc ổn định và phù hợp luôn khó khăn, đặc biệt đối với người khuyết tật bởi họ luôn bị chịu thiệt thòi về thế chất, tinh thần hơn những người khác như thường xuyên bị tách biệt khỏi xã hội bởi những phản ứng tiêu cực từ xã hội. Giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật không chỉ là một vấn đề kinh tế mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Khi người lao động khuyết tật được tạo điều kiện tiếp cận cơ hội việc làm, họ sẽ có thểm tự tin để cống hiến những năng lực của mình cho xã hội. Việc làm giúp người lao động khuyết tật tạo ra của cải vật chất cho xã hội, có thu nhập nuôi sống bản thân, phụ giúp gia đình. Qua đó, người khuyết tật không còn tâm lý phải sống dựa dẫm, phụ thuộc vào người khác, sống hòa nhập với cộng đồng, xã hội và được mọi người thừa nhận. Là một cuộc quốc gia đang phát triển cùng với những định hướng phát triển kinh tế bền bền vững, giải quyết việc làm cho người khuyết tật ngày càng được quan tâm ở Việt Nam. Để làm rõ hơn về vấn đề này em xin trình bày đề tài số 8: “Phân tích quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết việc làm đối với người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay” NỘI DUNG I.Khái quát chung về người khuyết tật và pháp luật giải quyết việc làm cho người khuyết tật 1.Khái niệm người khuyết tậtHiện nay có nhiều quan điểm về Người khuyết tật do xuất phát từ quan điểm khác nhau về khuyết tật nên cách nhìn nhận về người khuyết tật cũng khác nhau. Tại Điều 1 Công ước về quyền của người khuyết tật của Liên Hợp quốc 2006, “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loại những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ với hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”Ở Việt Nam, tại khoản 1 Điều 2 Luật NKT 2010 thì Người khuyết tật được hiểu là “người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Theo cách hiểu này thì người khuyết tật bao gồm cả những người bị khuyết tật bẩm sinh, do bệnh tật, tai nạn, thương binh, bệnh binh, …Như vậy có thể hiểu NKT là người bị khiểm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác. 2.Khái niệm việc làm và giải quyết việc làm cho người khuyết tậtTheo khoản 1 Điều 9 Luật Lao động 2012 thì “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Như vậy có thể hiểu, việc làm là những hoạt động lao động hợp pháp, tạo ra thu nhập ổn định, thường xuyên cho người thực hiện. Từ đó có thể hiểu, việc làm đối với người khuyết tật là những hoạt động của người khuyết tật tạo ra thu nhập, hợp pháp và phù hợp với người khuyết tật. Người lao động khuyết tật cần được nhìn nhận như là một chủ thể trong quan hệ lao động, được hưởng đầy đủ các quyền của mình, kể cả quyền có việc làm chứ không phải từ góc độ là đối tượng phúc lợi xã hội.Việc làm cho người khuyết tật có một số đặc trưng sau: thứ nhất là phải phù hợp với người khuyết tật tức là phù hợp với dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật; thứ hai, việc làm phải đảm bảo sự công bằng trong tương quan với các đồi tượng khác; thứ ba, Nhà nước và cộng đồng có trách nghiệp trong vấn đề việc làm và bảo đảm việc làm cho người khuyết tậtGiải quyết việc làm cho người khuyết tật có thể hiểu là quá trình tạo ra điều kiện và môi trường đảm bảo cho người lao động khuyết tật trong độ tuổi lao động, đang có nhu cầu làm việc có cơ hội việc làm. Nói cách khác, giải quyết việc làm cho người khuyết tật là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội cần thiết khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động của người khuyết tậtCác yếu tố ảnh hưởng tới quá trình tạo việc làm nói chung bao gồm: nhân tố tự nhiên, vốn, công nghệ (đây là các tiền đề vật chất để tiến hành bất cứ một hoạt động sản xuất nào); nhân tố bản thân người lao động khuyết tật (như thể lực, trí lực, kinh nghiệm quản lý, sản xuất); cơ chế, chính sách kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia; hệ thống thông tin thị tường lao động (được thực hiện bới chính phủ và các tổ chức kinh tế, cá nhân có nhu cầu tuyển dụng lao đông).Giải quyết việc làm cho người khuyết tật có ý nghĩa rất lớn trước hết là đối với người khuyết tật giúp họ tìm ra giá trị cuộc sống3.Sự điều chỉnh pháp luật đối với việc làm cho người khuyết tậtNếu như định nghĩa khái niệm người khuyết tật được dựa trên nền tảng là quyền con người thì định nghĩa về pháp luật về giải quyết việc làm cho người khuyết tật được dựa trên nền tảng là quyền lao động và việc làm.Pháp luật về giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật là những quy định pháp lý về giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật bao gồm các quy định về khuyến khích cơ hội công việc và việc làm; bình đẳng về việc làm cho người khuyết tật và những biện pháp được áp dụng để thực hiện các quy định pháp luật đó
Trang 1MỞ BÀI
Việc làm luôn là vấn đề được mọi người dân, xã hội quan tâm Trong xã hội ngày nay, để tìm được công việc ổn định và phù hợp luôn khó khăn, đặc biệt đối với người khuyết tật bởi họ luôn bị chịu thiệt thòi về thế chất, tinh thần hơn những người khác như thường xuyên bị tách biệt khỏi xã hội bởi những phản ứng tiêu cực
từ xã hội Giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật không chỉ là một vấn
đề kinh tế mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc Khi người lao động khuyết tật được tạo điều kiện tiếp cận cơ hội việc làm, họ sẽ có thểm tự tin để cống hiến những năng lực của mình cho xã hội Việc làm giúp người lao động khuyết tật tạo ra của cải vật chất cho xã hội, có thu nhập nuôi sống bản thân, phụ giúp gia đình Qua đó, người khuyết tật không còn tâm lý phải sống dựa dẫm, phụ thuộc vào người khác, sống hòa nhập với cộng đồng, xã hội và được mọi người thừa nhận Là một cuộc quốc gia đang phát triển cùng với những định hướng phát triển kinh tế bền bền vững, giải quyết việc làm cho người khuyết tật ngày càng được quan tâm ở Việt Nam Để làm
rõ hơn về vấn đề này em xin trình bày đề tài số 8: “Phân tích quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết việc làm đối với người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay”
NỘI DUNG
I Khái quát chung về người khuyết tật và pháp luật giải quyết việc làm cho người khuyết tật
1 Khái niệm người khuyết tật
Hiện nay có nhiều quan điểm về Người khuyết tật do xuất phát từ quan điểm khác nhau về khuyết tật nên cách nhìn nhận về người khuyết tật cũng khác nhau Tại
Điều 1 Công ước về quyền của người khuyết tật của Liên Hợp quốc 2006, “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác
Trang 2quan một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loại những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ với hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”
Ở Việt Nam, tại khoản 1 Điều 2 Luật NKT 2010 thì Người khuyết tật được
hiểu là “người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” Theo cách hiểu này thì người khuyết tật bao gồm cả những người bị
khuyết tật bẩm sinh, do bệnh tật, tai nạn, thương binh, bệnh binh, …
Như vậy có thể hiểu NKT là người bị khiểm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ
sở bình đẳng với những chủ thể khác.1
2 Khái niệm việc làm và giải quyết việc làm cho người khuyết tật
Theo khoản 1 Điều 9 Luật Lao động 2012 thì “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” Như vậy có thể hiểu, việc làm là
những hoạt động lao động hợp pháp, tạo ra thu nhập ổn định, thường xuyên cho người thực hiện
Từ đó có thể hiểu, việc làm đối với người khuyết tật là những hoạt động của người khuyết tật tạo ra thu nhập, hợp pháp và phù hợp với người khuyết tật Người lao động khuyết tật cần được nhìn nhận như là một chủ thể trong quan hệ lao động, được hưởng đầy đủ các quyền của mình, kể cả quyền có việc làm chứ không phải từ góc độ là đối tượng phúc lợi xã hội
Việc làm cho người khuyết tật có một số đặc trưng sau: thứ nhất là phải phù hợp với người khuyết tật tức là phù hợp với dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật; thứ hai, việc làm phải đảm bảo sự công bằng trong tương quan với các đồi tượng
Trang 3khác; thứ ba, Nhà nước và cộng đồng có trách nghiệp trong vấn đề việc làm và bảo đảm việc làm cho người khuyết tật
Giải quyết việc làm cho người khuyết tật có thể hiểu là quá trình tạo ra điều
kiện và môi trường đảm bảo cho người lao động khuyết tật trong độ tuổi lao động, đang có nhu cầu làm việc có cơ hội việc làm Nói cách khác, giải quyết việc làm cho người khuyết tật là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng
và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội cần thiết khác để kết hợp
tư liệu sản xuất và sức lao động của người khuyết tật
Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình tạo việc làm nói chung bao gồm: nhân tố tự nhiên, vốn, công nghệ (đây là các tiền đề vật chất để tiến hành bất cứ một hoạt động sản xuất nào); nhân tố bản thân người lao động khuyết tật (như thể lực, trí lực, kinh nghiệm quản lý, sản xuất); cơ chế, chính sách kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia; hệ thống thông tin thị tường lao động (được thực hiện bới chính phủ và các tổ chức kinh tế, cá nhân có nhu cầu tuyển dụng lao đông)
Giải quyết việc làm cho người khuyết tật có ý nghĩa rất lớn trước hết là đối với người khuyết tật giúp họ tìm ra giá trị cuộc sống
3 Sự điều chỉnh pháp luật đối với việc làm cho người khuyết tật
Nếu như định nghĩa khái niệm người khuyết tật được dựa trên nền tảng là quyền con người thì định nghĩa về pháp luật về giải quyết việc làm cho người khuyết tật được dựa trên nền tảng là quyền lao động và việc làm
Pháp luật về giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật là những quy định pháp lý về giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật bao gồm các quy định về khuyến khích cơ hội công việc và việc làm; bình đẳng về việc làm cho người khuyết tật và những biện pháp được áp dụng để thực hiện các quy định pháp luật đó
Trang 4Trên cơ sở các quy định Hiến pháp, nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành, tạo cơ sở pháp lý cho việc tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền lao động và việc làm của người lao động, Có thể kể đến ba văn bản luật đang điều chỉnh trực tiếp vấn
đề giải quyết việc làm cho NKT hiện nay gồm: Luật NKT năm 2010; Bộ luật Lao động 2012; luật Việc làm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Trên cơ sở các quy định của công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật, pháp luật giải quyết việc làm cho người khuyết tật Việt Nam quy định hai hình thức giải quyết việc làm cho người khuyết tật là: tự tạo việc làm và tham gia vào quan hệ lao động để có việc làm
II Quy định của pháp luật về giải quyết việc làm đối với người khuyết tật.
1 Nguyên tắc cơ bản của giải quyết việc làm đối với người khuyết tật
Thứ nhất, bình đẳng, không phân biệt đối xử đối với người khuyết tật trong
lĩnh vực việc làm
Cơ sở của nguyên tắc này là xuất phát từ vấn đề quyền con người Nguyên tắc này đã được tổ chức lao động quốc tế ILO quy định trong công ước số 111- Công ước về phân biệt đối xử trong việc làm nghề nghiệp Thực tế, người sử dụng lao động thường không muốn nhận người khuyết tật vào làm việc bởi theo họ năng suất lao động của người khuyết tật thấp, hơn nữa trong một số trường hợp sử dụng lao động khuyết tật thì người sử dụng lao động còn phải đầu tư cơ sở vật chất để tạo môi trường làm việc thuận lợi cho người khuyết tật Chính điều này tạo nên sự phân biệt đối xử việc làm giữa người khuyết tâthj và người không khuyết tật
Phân biệt đối xử bao gồm phân biệt đối xử trực tiếp (là sự đối xử không công bằng giữa người lao động khuyết tật và người lao động không khuyết tật được quy định trong luật pháp hoặc các thông lệ thực tiễn gây nên sự khác biệt rõ ràng giữa những người lao động này) và phân biệt đối xử gián tiếp (Là những quy định pháp
Trang 5luật hoặc các thông lệ thực tiễn gián tiếp làm triệt bỏ hoặc làm phương hại sự bình đẳng cơ may hoặc đối xử giữa nhưng NKT và người không khuyết tật trên thực tế) Nguyên tắc không phân biệt đối xử với người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm thể hiện ở việc người khuyết tật và người không khuyết tật đều được đối xử bình đẳng về việc làm, cơ hộ tìm kiếm việc làm cũng như quá trình duy trì và đảm bảo việc đó Điều đó có nghĩa, không có sự phân biệt đối xử đối với người khuyết tật từ việc tiếp nhận việc làm, đến quá trình sử dụng lao động và đảm bảo việc làm
Thứ hai, điều chỉnh hợp lý đối với người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm.
Người khuyết tật là một trong những đối tượng lao động đặc thù Do những đặc điểm về thể chất nên họ gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm cũng như duy trì việc làm, hơn thế họ cần được làm việc trong một môi trường đặc thù, riêng biệt phù hợp với sức khỏe Chính vì vậy cần phải có sự hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý cho người khuyết tật có việc làm và có việc làm bền vững, tức là thực hiện quyền việc làm của mình Để NKT bình đẳng như người khác về cơ hội việc làm cũng như duy trì nó thì cần phải có sự hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý cho NKT để họ có thể tìm kiếm được việc làm và có được việc làm bền vững, được thực hiện quyền việc làm của mình
Đặc biệt là đối với nữ lao động khuyết tật, những người thường phải đối mặt với những bất lợi, khó khăn hơn lao động nam khuyết tật bởi họ còn bị phân biệt đối
xử về giới Những hỗ trợ đặc biệt nhằm tạo cơ hội bình đẳng và đối xử bình đẳng giữa lao động khuyết tật với lao động không khuyết tật không bị coi là phân biệt đối
xử mà chỉ là việc làm nhằm tạo điều kiện để NKT được bình đẳng ngang bằng với những người lao động khác, giúp họ tái hòa nhập với cộng đồng
2 Nội dung pháp luật giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật 2.1 Quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật
Trang 6Bộ luật Lao động 2012 khẳng định: “Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của lao động là người khuyết tật, có chính sách khuyến khích và ưu đãi người sử dụng lao động tạo việc làm và nhận lao động là người khuyết tật vào làm việc, theo quy định của Luật Người khuyết tật” (Khoản 1 Điều 176) Quyền làm việc
của lao động khuyết tật là tiền đề tạo ra cơ hội và động lực cho người khuyết tật tìm kiếm việc làm, có cơ hội khẳng định bản thân, tự lập trong cuộc sống, tạo ra thu nhập để không phải dựa dẫm vào gia đình, người thân
Khi tham gia vào quan hệ lao động, người lao động khuyết tật chính là một bên chủ thể trong quan hệ lao động Điều này có nghĩa, người lao động khuyết tật cũng
có quyền và nghĩa vụ cơ bản như những người lao động khác như: tuyển dụng, giao kết hợp đồng lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn, vệ sinh lao động,…
Tuy nhiên, do có những đặc thù riêng nên pháp luật cũng có một số quy định mang tính đặc thù đối với người lao động khuyết tật Pháp luật quy định các hành vi
bị cấm khi sử dụng lao động là người khuyết tật (Điều 178 BLLĐ 2012)
Tương ứng với quyền là nghĩa vụ của người lao động khuyết tật Những người lao động khuyết tật cũng phải thực hiện những nghĩa vụ lao động như những người lao động khác theo quy định của pháp luật
2.2 Chế độ hỗ trợ đối với người khuyết tật
Thứ nhất, quy định về chính sách học nghề và việc làm cho người khuyết tật.
Luật Người khuyết tật năm 2010 và Nghị định số 28/2012/NĐ-CP đã có những quy định chi tiết về dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật Theo đó, Nhà nước đảm bảo, tạo điều kiện tối đa cho người khuyết tật được lựa chọn, tư vấn
và học nghề, làm việc theo khả năng, sức khỏe của mình; cơ sở dạy nghề, tổ chức dạy nghề phải đảm bảo điều kiện dạy nghề; cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá
Trang 7nhân, không được từ chối tuyển dụng những người lao động khuyết tật có đủ tiêu chuẩn…
Thứ hai, quy định về cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh Khoản 2 Điều 176 BLLĐ 2012 quy định: “Chính phủ quy định chính sách cho vay vốn ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm đối với người sử dụng lao động sử dụng lao động
là người khuyết tật” Đối với cơ sở dạy nghề, tổ chức dạy nghề cho người khuyết tật
thì phải bảo đảm điều kiện dạy nghề cho người khuyết tật và được hưởng chính sách
ưu đãi theo quy định của pháp luật ; cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng
số lao động trở lên là người khuyết tật được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh; được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước và miễn, giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục vụ sản xuất, kinh doanh theo tỷ lệ lao động là người khuyết tật, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô doanh Đây là những quy định ưu đãi góp phần hỗ trợ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh có điều kiện mở rộng hoạt động sản xuất, cải thiện môi trường làm việc để người khuyết tật tiếp cận với công việc
Thứ ba, quy định về quỹ việc làm cho người khuyết tật Với mục đích giúp đỡ
người khuyết tật học nghề, tạo việc làm, hỗ trợ cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người khuyết tật; hỗ trợ các doanh nghiệp khác thuộc mọi thành phần kinh tế nhân người khuyết tật vào học nghề và làm việc đạt tỷ lệ cao thì quy định về thành lập và sử dụng quỹ việc làm cho NKT là một vấn đề quan trọng
và cần thiết Điều 10 Luật Người khuyết tật năm 2010 quy định về quỹ trợ giúp người khuyết tật Theo đó, quỹ này là quỹ xã hội từ thiện nhằm huy động nguồn lực trợ giúp NKT và quỹ này được hình thành từ các nguồn như: đóng góp tự nguyện, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; các khoản thu hợp pháp khác
Trang 8Thứ tư, quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Trước đây, Bộ luật
Lao động quy định về thời gian làm việc của người khuyết tật không quá 7 giờ một ngày hoặc 42 giờ một tuần nhằm tạo điều kiện cho người khuyết tật làm việc trong giới hạn phù hợp với khả năng và sức khoẻ của mình Tuy nhiên, quy định vô hình chung đã tạo ra sự phân biệt giữa lao động khuyết tật và lao động không khuyết tật Người sử dụng lao động dựa vào quy định này để từ chối nhận NKT vào làm việc vì
họ không đáp ứng được thời gian làm việc như các lao động khác Tuy nhiên Bộ luật Lao động 2012 không còn quy định về thời giờ làm việc của người khuyết tật như trước để góp phần tạo ra môi trường làm việc công bằng giữa NKT và người không khuyết tật
Thứ năm, quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với người
khuyết tật Điều 177 Bộ luật lao động 2012 quy định, người sử dụng lao động phải
có trách nhiệm trong việc bảo đảm về điều kiện lao động, vệ sinh lao động phù hợp với người khuyết tật và thường xuyên chăm sóc sức khỏe cho họ Pháp luật nhấn mạnh đến việc đảm bảo các điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động cho người tàn tật; cấm làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm đối với lao động khuyết tật bị suy giảm khả năng lao động từ 51%; cấm sử dụng người lao động khuyết tật làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành Như vậy, người sử dụng lao động không được vì lợi ích trước mắt của mình để thỏa thuận làm thêm giờ, làm việc ban đêm, hoặc trường hợp chủ sử dụng lao động lợi dụng người lao động khuyết tật vào làm những công việc nặng nhọc độc hại cho sức khỏe của họ
2.3 Trách nhiệm của một số chủ thể trong lĩnh vực việc làm đối với người khuyết tật
Nhà nươc có trách nhiệm bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của lao động
là người khuyết tật, có chính sách ưu đãi người sử dụng lao động tạo việc làm và
Trang 9nhận người khuyết tật vào làm việc (điều 175 Bộ luật lao dộng 2012); Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những người khác (khoản 1 điều 32 luật người khuyết tật 2010); Nhà nước thành lập và quản lý quỹ việc làm
Giải quyết việc làm cho người khuyết tật không chỉ trông chờ vào tinh thần nhân đạo của các tổ chức, doanh nghiệp hoặc theo chương trình hợp tác dự án với các tổ chức nhân đạo ngước ngoài Về phía người khuyết tật cũng phải tự trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng chuyên môn, sẵn sàng đảm đương được công việc của nhà tuyển dụng để khẳng định được mình là những người “tàn mà không phế” Đã đến lúc, cần phải có hành lang pháp lý chặt chẽ hơn về trách nhiệm của người quản lý Có như vậy, người khuyết tật mới được hưởng đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lý như những người lao động bình thường khác, góp phần đưa ước nguyện “hãy đưa chúng tôi hòa nhập với cộng đồng” của người khuyết tật trở thành hiện thực
2.4 Vai trò của pháp luật trong việc giải quyết việc làm cho người lao độnng
Pháp luật lao động ghi nhận quyền làm việc của người khuyết tật Đây là cơ sở vững chắc, tạo hành lang pháp lý cho vấn đề giải quyết việc làm đối với người lao động khuyết tật
Quy định của pháp luật góp phần tạo ra sự bình đẳng giữa người lao động khuyết tật và những người lao động khác trong quan hệ lao động, từng bước tạo nên môi trường lao động hài hòa, không khoảng cách Khi đã có hành lang pháp lý, người khuyết tật sẽ được đảm bảo quyền lợi của chính họ trong lao động và việc làm Pháp luật từng bước góp phần thay đổi nhận thức xã hội, đặc biệt là nhận thức của chủ sử dụng lao động trong việc nhận người lao động khuyết tật vào làm việc Quy định hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức sử dụng nhiều lao động khuyết tật vào làm việc góp phần động viên, khuyến kích, chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp trong quá trình tiếp nhận người lao động khuyết tật vào làm việc Nhờ vậy, chủ sử dụng lao
Trang 10động có điều kiện tốt hơn để thay đổi môi trường làm việc tiếp cận cho người lao động khuyết tật Điều này tạo nên sự chuyển biến tích cực về nhận thức, vai trò, khả năng hòa nhập cộng đồng của người khuyết tật, đặc biệt trong lĩnh vực việc làm, Pháp luật về giải quyết việc làm cho người khuyết tật tạo ra một hàng lang pháp lý cho hệ thốn các trường dạy nghề, trung tân giời thiện việc làm, các bộ, ngành, địa phương dành sự ưu tiên quan tâm đối với đối tượng là người lao động khuyết tật
III Thực tiễn giải quyết việc làm đối với người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay và những kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện
1 Tình hình thực tiễn về việc làm đối với người khuyết tật ở nước ta hiện nay
Ở Việt Nam hiện nay, lực lượng lao động khuyết tật chiếm tỷ lệ không nhỏ Theo số liệu thống kê của Ủy ban quốc gia về Người khuyết tật (NKT), đến đầu năm 2018, cả nước hiện có khoảng tám triệu NKT từ 5 tuổi trở lên, bằng 7,8% dân
số Nguyên nhân khuyết tật là do bẩm sinh, di truyền, tai nạn giao thông, tai nạn lao động, thương tật do chiến tranh, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, thiên tai địch họa dự báo trong những năm tới, số lượng người khuyết tật sẽ tiếp tục gia tăng Trong số NKT, có 58% là phụ nữ, 42% là nam giới Đa số người khuyết tật trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn, công việc của họ chủ yếu là phụ giúp gia đình làm nông, lâm, ngư nghiệp, công việc không ổn định, thu nhập thấp Có 40% NKT ở độ tuổi lao động và còn khả năng lao động, trong đó chỉ có 30% số người này là có việc làm, tạo thu nhập cho bản thân, gia đình và xã hội Như vậy, nước ta còn khoảng 2 triệu người khuyết tật có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động, chưa có việc làm
Đời sống của NKT vô cùng khó khăn cả về sinh hoạt, tâm lý lẫn tài chính Hỗ