Để tìm ra phương thức chọn lọc chính xác, nhanh và có hiệu quả nhất, đáp ứng nhu cầu sản xuất con giống, đặc tính sinh sản mà tiêu biểu nhất là 2 tính trạng số con sơ sinh sống/ổ và cai
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
TÂM NGHIÊN CỨU LỢN THỤY PHƯƠNG
Người thực hiện : Nguyễn Tài Linh
Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y
Người hướng dẫn khoa học : 1 TS Đỗ Đức Lực
Hà Nội - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong khoá luận này là trung thực, chính xác và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 23 tháng 8 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Tài Linh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, các thầy cô giáo, đặc biệt các thầy cô trong Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi, những người đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản và những định hướng đúng đắn trong học tập và tu dưỡng đạo đức, tạo tiền đề tốt để cho tôi học tập và nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Đỗ Đức Lực
và TS Nguyễn Hồng Thịnh, Bộ môn Di truyền - Giống vật nuôi, người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết, tận tình giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lơn Thụy Phương – Viện Chăn nuôi và toàn thể cán bộ công nhân viên đang làm việc tại Trung tâm đã giúp đỡ và đóng góp rất nhiều ý kiến quý báu trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới người thân, gia đình và bạn bè, những người luôn quan tâm, giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, tiến hành nghiên cứu và hoàn thành khoá luận này
Hà Nội Ngày 23 tháng 8 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Tài Linh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
CHƯƠNG 1 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Hệ số di truyền 3
1.2 Giá trị giống ước tính 6
1.2.1 Khái niệm giá trị giống 6
1.2.2 Phương pháp ước lượng giá trị giống 7
1.2.3 Ứng dụng và hiệu quả của việc ứng dụng giá trị giống ước tính trong chọn lọc nhân giống 9
1.3 Phương pháp BLUP 10
1.3.1 Khái niệm 10
1.3.2 Hiệu quả của việc ứng dụng phương pháp BLUP trong chọn lọc nhân giống lợn 13
1.4 Các tính trạng sinh sản và yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái 14
1.4.1 Các tính trạng sinh sản của lợn nái 14
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái 17
1.5 Giống lợn Landrace 23
1.6 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 24
Chương 2 27
ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG 27
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Địa điểm nghiên cứu 27
Trang 52.3 Thời gian nghiên cứu 27
2.4 Nội dung nghiên cứu 27
2.5 Phương pháp nghiên cứu 27
2.5.1 Phương pháp nghiên cứu nội dung 1 và 2 27
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu nội dung 3 28
2.5.3 Phương pháp nghiên cứu nội dung 4 28
2.5.4 Xử lý số liệu 30
Chương 3 31
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Năng suất sinh sản của đàn lợn Landrace 31
3.1.1 Số con sơ sinh sống/ổ 31
3.1.2 Số con cai sữa/ổ 32
3.1.3 Khối lượng cai sữa/ổ 32
3.1.4 Tuổi cai sữa 33
3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn Landrace 34
3.3 Hệ số di truyền của hai tính trạng số con sơ sinh sống và số con cai sữa 38
3.4 Ước tính giá trị giống của tính trạng số con sơ sinh sống và cai sữa/ổ 40
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Hệ số di truyền ước tính của một số tính trạng quan trọng 6
Bảng 2.2 Năng suất sinh sản của một số giống lợn ngoại 24
Bảng 3.1 Năng suất sinh sản đàn nái Landrace từ năm 1997 đến nay 31
Bảng 3.2 Năng suất sinh sản đàn nái Landrace hiện tại 33
Bảng 3.3 Mức ảnh hưởng của một số yếu tố đến tính trạng năng suất sinh sản đàn lợn Landrace 34
Bảng 3.4: Số con sơ sinh sống và số con cai sữa/ổ qua các lứa (con) 35
Bảng 3.5 Số con sơ sinh sống và số con cai sữa/ổ qua các năm (con) 36
Bảng 3.6 Số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ qua các mùa (con) 37
Bảng 3.7 Phương sai thành phần của tính trạng số con sơ sinh sống và số con cai sữa/ổ 38
Bảng 3.8 Hệ số di truyền của số con sơ sinh sống và số con cai sữa/ổ 39
Bảng 3.9: Giá trị giống ước tính đối với tính trạng số con sơ sinh sống/ổ 40
Bảng 3.10: Giá trị giống ước tính đối với tính trạng số con cai sữa/ổ 41
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Các chỉ tiêu số con sơ sinh sống và số con cai sữa/ổ theo các lứa 35 Hình 3.2 Các chỉ tiêu số con sơ sinh sống và số con cai sữa/ổ qua các năm 36 Hình 3.3 Số con sơ sinh sống và số con cai sữa/ổ qua các mùa 37
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
- PiDu :Tổ hợp lai đực Pietrain x nái Duroc
- REML : Restrictedv MaximumLikelihood
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong chăn nuôi, để không ngừng nâng cao năng suất giống lợn, việc chọn lọc nhằm phát huy các đặc tính quý của từng dòng, từng giống là hết sức quan trọng Chọn lọc càng trở lên quan trọng hơn với những dòng lợn cao sản vì các giống lợn có nguồn gốc nước ngoài cần được chọn lọc nhằm tìm ra những cá thể thích nghi tốt với điều kiện thời tiết khí hậu, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
ở Việt Nam để chũng có khả năng phát huy được đầy đủ các tính năng ưu việt của nó Các giống lợn cao sản là kết quả của quá trình chọn lọc hết sức chặt chẽ, nếu không được tiếp tục chọn lọc thì rất dễ bị phân ly, thoái hóa biến chất, mất dần những đặc điểm quý do chọn lọc mà tích lũy được
Hiện nay, với trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại, đặc biệt ở các nước có nền chăn nuôi tiên tiến, nhiều phương pháp lai tạo, chọn lọc con giống hiệu quả
đã được áp dụng, rút ngắn thời gian chọn lọc, tạo ra sản phẩm đảm bảo chất lượng, đáp ứng kịp thời nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng Trong số đó, BLUP là phương pháp tính toán tiên tiến, có độ chính xác cao và đang được áp dụng rộng rãi trong việc ước tính giá trị giống, đánh giá tiềm năng di truyền, chất lượng con giống phục vụ công tác chọn lọc, nhân đàn, nâng cao chất lượng con giống
Để tìm ra phương thức chọn lọc chính xác, nhanh và có hiệu quả nhất, đáp ứng nhu cầu sản xuất con giống, đặc tính sinh sản mà tiêu biểu nhất là 2 tính trạng số con sơ sinh sống/ổ và cai sữa/ổ của lợn cần được nghiên cứu đánh giá
bản chất di truyền của chúng Vì vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Hệ số di truyền và giá trị giống ước tính đối với tính trạng số con sơ sinh sống/ô và cai sữa/ô của lợn Landrace nuôi tại Trung tâm nghiên cứu Lợn Thụy Phương”
làm khoá luận
Trang 102 Mục đích của đề tài
- Xác định được một số yếu tố chính ảnh hưởng đến hai tính trạng số con
sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ của giống lợn Landrace nuôi tại Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương,
- Xác định được giá trị trung bình về tính trạng số con sơ sinh sống/ổ và
số con cai sữa/ổ của giống lợn Landrace nuôi tại Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương,
- Xác định được hệ số di truyền của 2 tính trạng số con sơ sinh sống/ổ và
số con cai sữa/ổ của giống lợn Landrace nuôi tại Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương,
- Xác định được giá trị giống ước tính của 2 tính trạng số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ của giống lợn Landrace nuôi tại Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Hệ số di truyền
Hệ số di truyền là tỷ lệ phần do gen qui định trong việc hình thành giá trị kiểu hình hoặc hồi quy giữa giá trị di truyền lên giá trị kiểu hình của con vật
Giá trị kiểu hình của con vật được biểu thị bằng công thức : P = G + E
Trong đó: P là giá trị kiểu hình, G là giá trị kiểu di truyền và E là tác động của môi trường
b = COV(G,P)VarP = h2 → h2 = COV(G,G+E)σ2P = - σσ22GP
Trong đó:
b: Hệ số di truyền theo nghĩa rộng COV(G,P): Hiệp phương sai di truyền VarP: Phương sai kiểu hình của quần thể
σ2
A: Phương sai giá trị di truyền cộng gộp
σ2
P: Phương sai giá trị kiểu hình
Hệ số di truyền được tính theo công thức trên được gọi là hệ số di truyền theo nghĩa rộng
Trong thành phần phương sai di truyền bao gồm nhiều thành phần tạo nên
là phương sai của sai lệch át gen
Trong các thành phần của phương sai di truyền, thành phần 2
A có khả năng di truyền cho đời sau (đó là thành phần phương sai giá trị giống) Do đó,
Trang 12trong thực tiễn chọn giống động vật người ta thường quan tâm đến hệ số di truyền theo nghĩa hẹp và được tính theo công thức:
P: Phương sai giá trị kiểu hình
Từ định nghĩa trên, bản chất của hệ số di truyền chính là tỷ lệ giữa hai phương sai di truyền cộng gộp và phương sai kiểu hình có liên quan đến một tính trạng nhất định của một quần thể nhất định Sự thay đổi của bất kì phương sai thành phần nào đều ảnh hưởng tới giá trị của hệ số di truyền Phương sai di truyền sẽ giảm do tác động của chọn lọc Phương sai kiểu hình sẽ tăng do tác động của ngoại cảnh Ngoài ra, các phương pháp ước tính cũng gây nên sai số đối với hai phương sai này
Hệ số di truyền biểu thị khả năng di truyền của tính trạng Hệ số di truyền của tính trạng càng lớn khả năng di truyền của tính trạng đó càng cao và ngược lại, hệ số di truyền của mỗi tính trạng nhỏ thì khả năng di truyền của tính trạng
đó thấp Đồng thời, hệ số di truyền càng cao thì hiệu quả chọn lọc càng lớn, ngược lại hệ số di truyền thấp thì hiệu quả chọn lọc sẽ thấp
Độ lớn của hệ số di truyền được biểu thị bằng số thập phân từ 0 đến 1 hoặc tỉ lệ phần trăm từ 0 đến 100% Thường thường, người ta phân chia hệ số di truyền ra làm ba mức khác nhau: h2 < 0,2 là h2 thấp; 0,2 < h2 < 0,4 là h2 trung bình và h2 > 0,4 là h2 cao (Nguyễn Ân và cs., 1983 và Đặng Vũ Bình, 2001)
Những tính trạng có hệ số di truyền thấp là những tính trạng chịu tác động lớn của môi trường Các tính trạng sinh sản của lợn như số con sơ sinh sống/ổ,
số con cai sữa/ổ đều có hệ số di truyền thấp, chịu nhiều tác động của môi trường Vì vậy, việc chọn lọc tính trạng này theo cá thể khó đem lại hiệu quả cao
Trang 13Hệ số di truyền được xác định bằng nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp phân tích anh chị em, phương pháp quần thể, phương pháp tương quan, phương pháp hồi quy đời con theo bố mẹ….Nhưng thực tế phương pháp thường được sử dụng là phương pháp tương quan và phương pháp phân tích phương sai
Ở Việt Nam, việc xác định hệ số di truyền các tính trạng sản xuất phục vụ công tác giống lợn từ lâu được các nhà chọn giống đặc biệt quan tâm bằng các phương pháp ước tính khác nhau
Có nhiều tác giả đã sử dụng phần mềm VCE và MTDFREML để ước tính
hệ số di truyền tính trạng đối với các tính trạng sinh sản và sinh trưởng Nghiên cứu trên hai giống lợn Yorkshire và Landrace, sử dụng phương pháp REML (Restricted Maximum Likelihood) trên phần mềm VCE5 (Groeneveld, 2003) đã xác định được
hệ số di truyền của tính trạng số con sơ sinh sống/ổ (0,11) và khối lượng hai mốt ngày tuổi (0,17) (Nguyễn Hữu Tỉnh, 2009) Đào Thị Bình An và cs (2010) cho biết
hệ số di truyền của hai tính trạng số con sơ sinh sống và số con cai sữa của dòng lợn VCN02 là 0,27 và 0,06 và VCN05 là 0,03 và 0,04
Sử dụng phần mềm MTDFREML để ước tính hệ số di truyền của các tính trạng, Hà Xuân Bộ và cs (2013) cho biết hệ số di truyền về khối lượng sơ sinh
là 0,13, khối lượng cai sữa là 0,12, khối lượng 60 ngày tuổi là 0,25, khối lượng 7,5 tháng tuổi là 0,23 Bằng phương pháp REML, Trịnh Hồng Sơn (2014) đã ước tính được hệ số di truyền cộng gộp của tính trạng số con sơ sinh sống/ổ (0,19) và số con cai sữa/ổ (0,11) và hệ số di truyền theo mẹ của tính trạng số con
sơ sinh sống/ổ (0,12), số con cai sữa/ổ (0,01) của Dòng lợn VCN03
Bằng phần mềm VCE 6.0, Đoàn Phương Thúy và cs (2015) đã ước tính được hệ số di truyền của tính trạng số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ ở
ba giống lợn Duroc (0,07 và 0,05), Landrace (0,08 và 0,05) và Yorkshire (0,04
và 0,03) nuôi tại công ty TNHH lợn giống hạt nhân DABACO
Trang 14Tuyển tập công trình “Con lợn ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thiện và
cs (2005) đã tổng hợp giá trị về hệ số di truyền trên các tính trạng sinh sản của lợn
Bảng 1.1 Hệ số di truyền ước tính của một số tính trạng quan trọng
1.2 Giá trị giống ước tính
1.2.1 Khái niệm giá trị giống
Giá trị giống của một cá thể là một đại lượng biểu thị khả năng truyền đạt các gen từ bố mẹ sang đời con Chúng ta không thể đánh giá trực tiếp được giá trị giống cũng như khả năng sản xuất của con vật bởi vì có quá nhiều gen quy định tính trạng số lượng
Trong thực tiễn chúng ta chỉ có thể ước lượng giá trị giống (Estimated Breeding Value – EBV) Trong các nguồn thông tin để xác định giá trị giống thì nguồn thông tin về đời con của một cá thể là quan trọng nhất Do đó, giá trị trung bình của đời con của một cá thể chính là định nghĩa thực hành về giá trị giống của nó
Trang 15Giá trị giống được Falconer (1993) định nghĩa như sau “Giá trị giống của một con vật chính là năng suất trung bình của các con cái của nó Nếu như một con vật được phối ngẫu nhiên với nhiều con khác trong quần thể thì giá trị giống của nó được tính bằng hai lần mức chênh lệch của nhóm con của nó so với giá trị trung bình của quần thể Sở dĩ phải nhân lên gấp đôi vì nó chỉ đóng góp một nửa số gen cho thế hệ con cái Giá trị giống được thể hiện bằng giá trị tuyệt đối nhưng thông thường được thể hiện bằng mức độ chênh lệch so với trung bình quần thể Chính vì thế chúng ta không thể nói về giá trị giống của một con giống
mà không nói đến quần thể cụ thể của nó”
Khái niệm trên không chỉ định nghĩa giá trị giống là gì mà nó còn kết hợp phát triển cùng với lý thuyết chọn lọc Trong một cặp gen được truyền lại cho đời con có một gen được truyền từ bố và một gen được truyền từ mẹ Một trong hai gen này lại tiếp tục được truyền cho thế hệ tiếp theo, tổng ảnh hưởng của gen gây lên ở đời con bởi 1
4 số gen nhận được từ đời bố mẹ của nó Số gen nhận được từ đời bố mẹ được gọi là 1
4 giá trị giống của bố mẹ Có hai yếu tố cơ bản tác động tạo nên sự khác biệt về năng suất giữa các cá thể là vốn gen di truyền
và điều kiện nuôi dưỡng Một con vật có năng suất cao hơn có thể do vốn gen được di truyền lại từ đời cha mẹ tốt hơn, cũng có thể do tay nghề của người chăn nuôi mà con vật có điều kiện thuận lợi hơn cho sản xuất và phát triển Làm thế nào để tìm được cá thể có vốn gen trội hơn các cá thể khác là vấn đề quan cần tâm của các nhà nhân giống
1.2.2 Phương pháp ước lượng giá trị giống
Giá trị giống biểu thị cho khả năng truyền đạt các gen cho đời con, chúng
ta không thể xác định chính xác được con vật đó mang gen gì mà chỉ có thể ước lượng giá trị giống của con vật thông qua một số nguồn thông tin xung quanh bản thân con vật như:
Năng suất của chính bản thân con vật về tính trạng ta đang quan tâm hay bất kì một tính trạng nào đó Trong số liệu thu thập được từ bản thân con vật
Trang 16có thể bao gồm cả kiểu hình của con vật về tính trạng đó Khi thu thập số liệu đôi khi ta sẽ gặp phải những tính trạng có nhiều số đo lặp lại của tính trạng đó như số con sơ sinh sống/ổ hay số con cai sữa/ổ,
Năng suất của anh chị em thân thuộc của con vật về tính trạng ta quan tâm,
Năng suất của cha mẹ, ông bà tổ tiên của con vật,
Năng suất của thế hệ đời sau của con vật
Giá trị của các nguồn thông tin trên phụ thuộc vào những yếu tố sau:
Hệ số di truyền của tính trạng cần quan tâm Hế số di truyền là một tỉ lệ
do gen quy định trong việc tạo nên giá trị kiểu hình Các tính trạng có hệ số di truyền cao thì sử dụng giá trị kiểu hình của bản thân tốt hơn giá trị kiểu hình của anh em họ hàng Còn đối với các tính trạng có hế số di truyền thấp nên kết hợp
sử dụng kiểu hình của anh em họ
Số lượng số liệu về tính trạng đó nhiều hay ít Số liệu càng lớn thì việc ước lượng giá trị giống càng chính xác nên con vật có hệ phả càng lớn, càng có nhiều thành viên trong gia đình thì việc ước lượng giá trị giống sẽ càng đạt được kết quả cao
Mối quan hệ của con vật đối với nguồn thông tin Anh chị em có quan
hệ di truyền càng gần với con vật càng tốt Một số mối quan hệ thường được sử dụng: bố mẹ - con cái (12), anh chị em ruột (1 2), anh chị em cùng cha khác mẹ (
1
4), cháu - ông bà (1
4)
Mức độ giống nhau về kiểu hình của các cá thể trong nguồn thông tin
Có thể sử dụng một số công thức sau để ước tính giá trị giống tùy theo nguồn số liệu mà chúng ta có
Công thức ứng dụng trong trường hợp chúng ta chỉ có một số liệu duy nhất về bản thân con vật
EBV = b(P - ᴨ)
Trang 17Trong đó:
b: Hệ số cân đối, trong thí dụ này b chính là hệ số di truyền
p: Năng suất bản thân
П: Năng suất trung bình của nhóm tương đồng
Nếu có thêm nguồn thông tin từ anh em hoặc thế hệ con cái, có thể sử dụng một chỉ số chọn lọc phức tạp hơn
EBV = b1(P1 - ᴨ1)+ b2(P2- ᴨ2)+ b3(P3- ᴨ3)
Trong đó:
b 1 , b 2 , b 3 : Các hệ sô cân đối tương ứng cho các nguồn số liệu
P 1 , P 2 , P 3 : Năng suất bản thân (P1) và năng suất trung bình của anh chị em ruột (P2) và nửa anh chị em (P3)
П 1 , П 2 , П 3 : Năng suất trung bình của nhóm tương đồng tương ứng cho cá thể, nhóm anh chị em ruột, nhóm “nửa” anh chị em
Độ lớn của các hệ số b này phụ thuộc vào một số yếu tố như số lượng số liệu, nguồn số liệu, hệ số di truyền, quan hệ thân thuộc giữa cá thể được xem xét với các thành viên được đem ra để so sánh, tương quan di truyền…
1.2.3 Ứng dụng và hiệu quả của việc ứng dụng giá trị giống ước tính trong chọn lọc nhân giống
có máy vi tính kèm theo phần mềm của các chương trình tính toán
Chỉ số chọn lọc theo giá trị giống:
Index = b1GTG1 + b2GTG2 + + bnGTGn
Trang 18Trong đó:
Index: Giá trị chỉ số chọn lọc theo giá trị giống của cá thể
b1GTG1: Giá trị kinh tế và giá trị giống của tính trạng thứ 1
b2GTG2: Giá trị kinh tế và giá trị giống của tính trạng thứ 2
b3GTG3: Giá trị kinh tế và giá trị giống của tính trạng thứ 3
bnGTGn: Giá trị kinh tế và giá trị giống của tính trạng thứ n
Các hệ số b ở trên thu được từ phân tích BLUP dựa vào các đầu vào về trung bình giá thị trường, chi phí, giá thành, năng suất của các tính trạng do từng
cơ sở giống tính toán cho đơn vị mình
b Hiệu quả chọn lọc
Trên thế giới hiện nay, chỉ số chọn lọc dựa trên giá trị giống ước tính của các tính trạng bắt đầu trở nên phổ biến trong các chương trình giống lợn từ khi phương pháp BLUP được phát triển Theo SIP (2002) cho rằng bằng phương pháp này, tiến bộ di truyền của các tính trạng sản xuất ở đàn lợn giống đã tăng 0,04 - 0,5 con/ổ/năm với tính trạng sinh sản và giảm 0,4 - 9,5 ngày/năm với tuổi đạt khối lượng 100kg (Trích dẫn Trịnh Hồng Sơn, 2014)
Ở Việt Nam, từ sau năm 2000, một số cơ sở giống lợn đã ứng dụng chỉ số chọn lọc dựa trên giá trị giống của các tính trạng và bước đầu đem lại hiệu quả khá cao: tăng số con sơ sinh sống 0,045 - 0,2 con/ổ/năm và giảm mỡ lưng 0,3 - 0,4 mm/năm (Nguyễn Quế Côi và Võ Hồng Hạnh, 2000; Đoàn Văn Giải và Vũ Đình Tường, 2004; Trịnh Công Thành, 2002 và Kieu Minh Luc, 2001)
1.3 Phương pháp BLUP
1.3.1 Khái niệm
BLUP là một phương pháp dự đoán tuyến tính không chệch tốt nhất vì BLUP cho phép sử dụng các thông tin có từ các cá thể thân thuộc (Tạ Thị Bích Duyên, 2003) Phương pháp BLUP cũng đã được ứng dụng tại Việt nam (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 2001; Tạ Thị Bích Duyên, 2003; Đoàn
Trang 19Văn Giải và Vũ ĐÌnh Tường, 2004; Tạ Thị Bích Duyên và cs., 2009; Phạm Thị Kim Dung và Tạ Thị Bích Duyên, 2009)
Có ba mô hình được sử dụng với BLUP gọi là mô hình thú cha (the sire model), mô hình lặp lại (the repeatability model) và mô hình thú (the animal model) Trong đó mô hình thú là mô hình chung nhất Mô hình tuyến tính cơ bản trong tính giá trị giống có dạng như sau:
Y = Xb + Za + e
Trong đó:
Y= vectơ các số quan sát của các giá trị nghiên cứu b= vectơ các ảnh hưởng cố định như trại, tháng, năm, giới tính… a= vectơ giá trị di truyền cộng gộp trực tiếp
e= vectơ ảnh hưởng ngẫu nhiên của môi trường đến giá trị kiểu hình
X = ma trận yếu tố cố định Z= ma trận yếu tố ngẫu nhiên di truyền trực tiếp
Để giải phương trình trên cần thiết phải tìm các biến b và a, phương pháp BLUP của Henderson (1973) có dạng như sau:
Trong trường hợp phân tích đơn tính trạng ta có G-1= A-1 1/σ2a, A
-1là ma trận nghịch đảo của ma trận quan hệ huyết thống của các cá
Trang 20thể có trong hệ phả, σ2
a là phương sai di truyền của tính trạng cần xác định
Độ chính xác của sự ước lượng các giá trị gây giống
Độ chính xác của ước lượng giá trị giống là tương quan giữa giá trị giống của cá thể với nguồn thông tin dùng để ước lượng giá trị giống đó Điều này cho
ta biết khả năng ước lượng giá trị giống A từ giá trị kiểu hình P
Giải phương trình mô hình hỗn hợp sẽ cho ta giá trị giống được dự đoán
và phương sai sai số dự đoán (PEV)
PEV = (1 - RAA2 ')σa2
Trong đó:
rAA'2 là độ chính xác của giá trị giống dự đoán
σa2 là phương sai giá trị di truyền cộng hợp
Độ chính xác của sự ước lượng các giá trị gây giống (EBV) được tính theo công thức :
ru' ,u=√(1 - PEV
σA2 )
Ưu điểm của phương pháp BLUP:
Có khả năng hiệu chỉnh giá trị di truyền của con vật theo ảnh hưởng cố định của môi trường biết trước như mùa vụ, chăm sóc nuôi dưỡng,
Giá trị giống của một cá thể được tính dựa trên năng suất của bản thân
nó và năng suất của các cá thể khác có quan hệ huyết thống trong hệ phả, do vậy giá trị giống thu được có độ chính xác cao và cũng nhờ đó BLUP giúp tính giá trị giống của các cá thể không có số liệu trên bản thân nó Ví dụ: trường hợp phải mổ khảo sát chất lượng thịt hay làm mất số liệu của con vật (Kiều Minh Lực, 1999),
Trang 21 Ưu điểm của BLUP đa tính trạng là làm tăng độ chính xác bởi vì nó sử dụng cấu trúc phương sai - hiệp phương sai giữa các tính trạng và các số đo với thông tin bị thiếu BLUP đa tính trạng có thể loại bỏ sự thiên vị từ sự chọn lọc trên các tính trạng có tương quan Lin và Lee (1986) đề nghị rằng việc chọn các tính trạng cho phân tích đa tính trạng phải được quyết định bởi mục tiêu giống Theo Nguyễn Quang Linh (2011): nếu mục tiêu giống là cải thiện một tính trạng thì phải phân tích mô hình một tính trạng Nếu mục tiêu giống là cải thiện 3 tính trạng thì phải thực hiện mô hình 3 tính trạng
Tuy nhiên, phương pháp BLUP cũng có những nhược điểm riêng của
nó Giá trị giống của một cá thể được tính dựa trên năng suất của bản thân nó và năng suất của các cá thể khác có quan hệ huyết thống trong hệ phả Do đó, các
cá thể có giá trị giống ước tính cao được chọn lọc thường có quan hệ huyết thống gần nhau Điều này có khuynh hướng làm tăng nhanh mức độ cận huyết ở các thế hệ tiếp theo ( Nguyễn Hữu Tỉnh, 2007)
1.3.2 Hiệu quả của việc ứng dụng phương pháp BLUP trong chọn lọc nhân giống lợn
Trong công tác chọn lọc và nhân giống, người ta dùng phương pháp BLUP để xác định sai khác di truyền giữa các cá thể các dòng, giống và xác định khuynh hướng di truyền của các tính trạng sản xuất Nhiều nước đã thành công trong việc sử dụng các chương trình máy tính ứng dụng phương pháp BLUP để đánh giá di truyền trên đàn heo giống
Theo Mabry (1998, trích dẫn từ Nguyễn Hữu Tỉnh, 2007), công nghiệp chăn nuôi heo ở Mỹ đã sử dụng phương pháp BLUP trong chương trình đánh giá di truyền giống heo trên từng đàn giống riêng biệt từ những năm 1988 và hiện nay đã mở rộng thành chương trình đánh giá di truyền liên kết các đàn giống trong toàn quốc
Nhờ có phương pháp này mà các quần thể giống thuần ở Mỹ đã có tiến bộ
di truyền rõ rệt Cụ thể trong mười năm đầu, tiến bộ di truyền về số heo con sơ
Trang 22sinh sống/ổ đạt trên 0,5 cho toàn bộ quần thể, trong khi đó ở các đàn tốt hơn đã cải tiến được trên một con sơ sinh sống/ổ Giá trị di truyền về độ dày mỡ lưng đã
có sự cải tiến của toàn bộ quần thể là 3,6mm và tới đàn tốt hơn thì sự cải tiến di truyền đạt trên 7mm Ở Úc các nhà chọn giống vật nuôi cũng đã sử dụng BLUP
để chọn giống heo từ năm 1988 và xây dựng phần mềm PIGBLUP để ước tính giá trị giống và chọn lọc, kiểm tra tiến bộ di truyền trong từng đàn giống riêng biệt
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu và ứng dụng phương pháp BLUP còn khá hạn chế Có lẽ do yêu cầu về theo dõi, thu thập, quản lý dữ liệu, hệ phả của phương pháp và đặc biệt việc chia sẻ thông tin về dữ liệu giữa các trại còn khó khăn
Một số nhà nghiên cứu áp dụng phương pháp BLUP vào công tác chọn lọc nhân giống (Nguyễn Quế Côi và Võ Hồng Hạnh, 2000; Kiều Minh Lực, 2001; Nguyễn Thị Viễn và Lê Thanh Hải, 2005; Nguyễn Hữu Tỉnh, 2007; Giang Hồng Tuyến, 2007; Phạm Thị Kim dung và cs., 2007; Trần Thị Minh Hoàng và cs., 2010; Tạ Thị Bích Duyên và cs., 2008; Lê Thanh Hải và cs., 2010; Trịnh Hồng Sơn, 2014)
1.4 Các tính trạng sinh sản và yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái
1.4.1 Các tính trạng sinh sản của lợn nái
Hầu hết các tính trạng sinh sản ở lợn là những tính trạng số lượng Tính trạng số lượng là những tính trạng được quy định bởi nhiều cặp gen và mỗi cặp gen chỉ có hiệu ứng nhỏ Tính trạng số lượng bị tác dộng rất lớn bởi môi trường
và sự sai khác nhau giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại, đó là các tính trạng đa gen
Một vài tính trạng sinh sản quan trọng của lợn nái là: tuổi đẻ lứa đầu, khoảng cách lứa đẻ, số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng sơ sinh/con và khối lượng cai sữa/con
Trang 23a Tuổi đẻ lứa đầu
Tuổi đẻ lần đầu cho biết độ tuổi bắt đầu khai thác khả năng sinh sản của lợn nái Tuổi đẻ lần đầu càng sớm thì thời gian sử dụng lợn nái càng dài và hiệu quả chăn nuôi lợn nái càng cao
Tuổi đẻ lứa đầu của giống lợn Landrace là 388,68 ngày, Yorkshire là 407,83 ngày (Nguyễn Thị Viễn, 2005) Tuổi đẻ lứa đầu F1(L x MCTH) (362,95),
F1(Y x MCTH) (362,70) và F1(Pi x MCTH) (359,45) nuôi trong trang trại tại Bảo Thắng, Lào Cai (Giang Hồng Tuyến và Hà Thu Trang, 2011) Tuổi đẻ lứa đầu của nhóm lợn Móng Cái tổng hợp nuôi tại Hải Phòng (350,57) và Lào Cai (354,30) được công bố bởi Giang Hồng Tuyến và cs (2010)
b Khoảng cách lứa đẻ
Khoảng cách lứa đẻ quyết định đến số lứa đẻ/nái/năm của lợn nái Khoảng cách lứa đẻ càng ngắn thì năng suất sinh sản lợn nái càng cao vì số lứa đẻ/nái/năm càng cao nên số con sơ sinh và số con cai sữa nhiều dẫn đến hiệu quả kinh tế càng lớn
Trong chăn nuôi lợn nái, hai tính trạng số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ là hai tính trạng được các nhà di truyền chọn giống lợn quan tâm nhất, đó
là hai tính trạng có tầm quan trọng quyết định năng suất của lợn nái
c Số con sơ sinh sống/ổ
Chỉ tiêu quan trọng nhất quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn nái Số con sơ sinh sống luôn là tính trạng quan trọng nhất
để đánh giá chất lượng giống và hiệu quả của lợn nái thể hiện về khả năng sinh sản Nhìn chung, tính trạng số con sơ sinh sống của lợn nái có xu hướng tăng dần từ lứa đẻ thứ nhất, đạt đỉnh ở lứa thứ 4 hoặc 5, sau đó giảm dần từ lứa thứ 5 hoặc 6 và phụ thuộc vào bản chất di truyền và môi trường
Số con sơ sinh sống qua 8 lứa đẻ của dòng lợn Móng cái tổng hợp nuôi tại Hải Phòng và Lào Cai đều tăng từ lứa thứ 1 đến lứa thứ 5, sau đó giảm dần từ lứa thứ 6 đến lứa thứ 8 (Giang Hồng Tuyến và cs., 2010) Tác giả cũng cho biết
Trang 24hầu hết, những giống lợn có khả năng đẻ nhiều như Móng Cái, Meishan thường đạt giá trị cao nhất chậm hơn vì các giống có số con sơ sinh sống thấp hơn khoảng 1 - 2 lứa đẻ và kéo dài số lứa đẻ hơn
Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về tính trạng này Giang Hồng Tuyến và cs (2010) cho biết nhóm lợn Móng Cái tổng hợp nuôi tại Hải Phòng và Lào cai có số con sơ sinh sống lần lượt là 12,28 và 12,51 con Số con
sơ sinh sống của tổ hợp lai F1(L x MCTH) là 11,32, F1(Y x MCTH) là 11,3,
F1(Pi x MCTH) là 11,94 con/ổ (Giang Hồng Tuyến và Hà Thu Trang, 2011) Số con sơ sinh sống/ổ của ba giống Landrace (9,6), Yorkshire (9,7), Meishan (11,11) lứa 1 được nuôi tại Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương (Nguyễn Thiện, 2005) Số con sơ sinh sống/ổ của nhóm nái lai L71 xuất phát từ dòng Landrace tổng hợp là 10,56 con (Nguyễn Văn Trung, 2010) Số con sơ sinh sống/ổ của lợn nái lai F1(L x Y) phối giống với lợn đực Pieatrain (10,60) và Duroc (10,34) (Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình, 2005) Ở mỗi giống lợn đều có số lượng số con sơ sinh sống tùy vào giống lợn và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
d Số con cai sữa/ổ
Một trong những tính trạng sinh sản quan trọng, chịu ảnh hưởng lớn bởi môi trường, do vậy việc chọn lọc với tính trạng này khó mang lại hiệu quả cao Tuy nhiên, tính trạng này vẫn được dùng vì mục đích của các chương trình nhân giống là làm tăng số con cai sữa/ổ góp phần làm tăng số con cai sữa/nái/năm
Có nhiều tác giả đã công bố kết quả nghiên cứu hệ số di truyền và giá trị giống đối với tính trạng số con cai sữa/ổ của các giống lợn khác nhau Một số kết quả đã được công bố:
Hệ số di truyền đối với số con cai sữa/ổ ở ba giống lợn Duroc (0,07) Landrace (0,05), Yorkshire (0,08) nuôi tại công ty TNHH lợn giống hạt nhân DABACO (Đoàn Phương Thúy và cs., 2015) Hệ số di truyền số con cai sữa của hai dòng lợn VCN02 (0,0664) và VCN05 (0,048) (Đào Thị Bình An và cs.,
Trang 252010), tính trạng số con cai sữa của giống lợn Landrace có hệ số di truyền là 0,08 ( Tạ Thị Bích Duyên, 2003) Hệ số di truyền cộng gộp đối với tính trạng số con cai sữa/ổ của một số công bố trên đều ở mức thấp, dao động từ 0,03 đến 0,12
Việc đánh giá giá trị giống tính trạng này cũng hết sức cần thiết, là cơ sở
để hình thành đàn hạt nhân góp phần chọn lọc đàn giống theo phương pháp mới, hiện đại và chính xác Giá trị giống ước tính về số con cai sữa của 5 cá thể tốt nhất trong đàn lợn nái dòng VCN03 có số hiệu là 3597 (1,115), 3492 (0,666),
3834 (0,645), 3583 (0,601) và 3829 (0,590)với độ chính xác tương ứng 0,68; 0,71; 0,63; 0,68 và 0,64 (Trịnh Hồng Sơn, 2014)
Trong các tính trạng sinh sản của lợn nái thì tính trạng số lợn con cai sữa
do một lợn nái sản xuất thường được dùng làm chỉ tiêu đánh giá tổng hợp và chính xác nhất năng suất của lợn nái trong một năm Số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm là chỉ tiêu cấu thành tổng hợp từ các chỉ tiêu sau: số con sơ sinh sống, số con để nuôi, tỉ lệ hao hụt của lợn con trong thời gian theo
mẹ, tuổi cai sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian phối giống có chửa sau cai sữa
Theo Trịnh Hồng Sơn (2014), số lợn con cai sữa do một lợn nái sản xuất trong một năm phụ thuộc vào số trứng rụng, tỉ lệ lợn con sống lúc sơ sinh và tỉ lệ lợn con sống tới lúc cai sữa, đây là các thành phần quan trọng nhất đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái
Do vậy, việc nghiên cứu tính trạng số con sơ sinh sống và số con cai sữa/ổ
là một vấn đề được quan tâm hàng đầu trong chăn nuôi lợn nái sinh sản
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái
a Các yếu tố di truyền
Các giống lợn khác nhau có khả năng sinh sản khác nhau, đã được nhiều tác giả nghiên cứu và công bố Dựa vào năng suất sinh sản và sức sản xuất thịt, các giống lợn được chia làm 4 nhóm chính
Trang 26 Nhóm đa dụng : Với mục đích đa dụng, các giống như Large White, Landrace, một vài dòng nguyên chủng được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá,
Các giống chuyên dụng “dòng bố” như Duroc, Pietrain, Landrace Bỉ, Hampshire và Poland - China có năng suất sinh sản trung bình nhưng năng suất thịt cao Các giống “dòng bố” thường có năng suất sinh sản thấp hơn so với các giống đa dụng Ngoài ra chúng có chiều hướng kém về khả năng nuôi con, điều này được minh chứng là chúng có tỉ lệ lợn con chết trước lúc cai sữa cao hơn so với các giống đa dụng như Landrace và Large White (Blasco et al., 1995),
Các giống chuyên dụng “dòng mẹ”, đặc biệt một số giống nguyên sản của Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có năng suất sinh sản đặc biệt cao nhưng năng suất thịt kém,
Cuối cùng là nhóm các giống “nguyên sản” có năng suất sinh sản cũng như năng suất thịt thấp nhưng chúng có khả năng thích nghi tốt với môi trường riêng của chúng
Các giống lợn khác nhau thì sự thành thục về tính cũng khác nhau Trịnh Hồng Sơn (2009) cho biết, được nuôi trong cùng một cơ sở trại giống, số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ của nái VCN01 (9,9 và 8,56 con) và nái VCN02 (9,69 và 8,78 con) Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê
Sự thành thục về tính ở các giống lợn có khối lượng, tầm vóc nhỏ thường sớm hơn các giống lợn có khối lương, tầm vóc lớn Sự thành thục về tính ở lợn cái được định nghĩa là thời điểm rụng trứng lần đầu tiên và xảy ra lúc 3 - 4 tháng tuổi đối với các giống lợn thành thục sớm (các giống lợn nội và một số giống lợn Trung Quốc) và 6 - 7 tháng tuổi đối với hầu hết các giống lợn phổ biến ở các nước phát triển (Rothschild and Bidanel, 1998) Giống lợn Meishan có tuổi thành thục về tính sớm, năng suất sinh sản cao và chức năng làm mẹ tốt So với
Trang 27giống lợn Large White, lợn Meishan đạt tuổi thành thục về tính sớm hơn khoảng
100 ngày và có số con đẻ ra nhiều hơn 2,4 - 5,2 con/ổ (Despres et al., 1992)
Nhiều tác giả nghiên cứu trên đàn lợn Landrace và Yorkshire đều nhận thấy yếu tố giống ảnh hưởng đến tất cả các tính trạng số con/lứa (số con đẻ ra,
số con sơ sinh sống, số con để nuôi và số con cai sữa), khoảng cách lứa đẻ và khối lượng toàn ổ giai đoạn sơ sinh, cai sữa (Hoque et al., 2002 và Tạ Thị Bích Duyên, 2003; Trần Thị Minh Hoàng và cs., 2006 và 2008) Theo Đặng Vũ Bình (1999), khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại (Landrace và Yorkshrie) nuôi tại Xí nghiệp lợn giống Mỹ Văn cho thấy giống chỉ ảnh hưởng tới số con để nuôi (P < 0,05)
Các chỉ tiêu sinh sản thường có hệ số di truyền thấp, hệ số di truyền cộng gộp đối với tính trạng số con sơ sinh sống và số con cai sữa của một số công bố đều dao động từ 0,03 đến 0,12 Hệ số di truyền đối với các tính trạng sinh sản của một số nhà nghiên cứu đã công bố: số con sơ sinh sống với h2 = 0,13 (Nguyễn Văn Thiện, 1995), h2 = 0,12 (Damgaard et al., 2003), số con cai sữa/ổ với h2 = 0,12 (Nguyễn Văn Thiện, 1995) và h2 = 0,11 (Schneider và cs., 2011) Khối lượng sơ sinh/ổ với h2 = 0,07 (Grandinson et al., 2005) và h2 = 0,18 (Schneider et al., 2011); khối lượng sơ sinh/con với h2 = 0,44 (Schneider et al., 2011); khối lượng cai sữa/ổ với h2 = 0,20 (Grandinson et al., 2005), h2 = 0,21 (Lundgren et al., 2010) và h2 = 0,22 (Schneider et al., 2011) Khoảng cách giữ hai lứa đẻ với h2 = 0,08 (Rydhmer et al., 1995)
Các chỉ tiêu sinh sản có hệ số di truyền thấp nên năng suất sinh sản chịu ảnh hưởng lớn bởi tác động của các yếu tố môi trường Trong chọn lọc nhân thuần, các tính trạng năng suất sinh sản thường đạt tiến bộ di truyền chậm so với nhóm các tính trạng sinh trưởng và chất lượng thịt Khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai ở lợn, cho đến nay các kết quả nghiên cứu đã khẳng
Trang 28định ở lợn các tính trạng sinh sản có hệ số di truyền thấp thì khi lai tạo sẽ đạt ưu thế lai cao
b Các yếu tố ngoại cảnh
Không chỉ yếu tố di truyền, các yếu tố ngoại cảnh cũng ảnh hưởng lớn và
có ý nghĩa đến năng suất sinh sản của lợn nái Phương thức phối, lứa đẻ, mùa
vụ, con đực, nhiệt độ, thời gian chiếu sáng, chế độ nuôi dưỡng, bệnh tật, đều
có ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái
* Mùa vụ, nhiệt độ và chế độ chiếu sáng
Theo Cẩm nang chăn nuôi (1996) thấy rằng: những lợn cái hậu bị sinh ra trong mùa đông thì động dục lần đầu chậm hơn những con cái hậu bị được sinh
ra trong các mùa khác trong năm
Ngoài ra sự thành thục về tính dục bị chậm là do nhiệt độ Nếu nhiệt độ quá thấp cũng sẽ ảnh hưởng tới phát dục Vì vậy cần có những biện pháp chống nóng, chống lạnh cho lợn Còn đối với thời gian chiếu sáng nó được xem như là một phần của ảnh hưởng mùa vụ Mùa đông thì thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm Thời gian chiếu sáng trong ngày là mười hai giờ bằng ánh sáng tự nhiên hay nhân tạo sẽ làm cho lợn cái hậu bị động dục sớm hơn so với những lợn có thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn
Các biểu hiện sinh sản bị ảnh hưởng theo mùa vụ có thể dễ nhận biết như lợn nái chậm thành thục về tính, thời gian chờ phối sau cai sữa kéo dài, tỷ lệ chết thai cao hơn và tỷ lệ xảy thai tăng lên cũng như số con đẻ ra/ổ giảm Yếu tố mùa
vụ cũng làm giảm tỷ lệ đậu thai và tỷ lệ đẻ trong đàn nái đây là ảnh hưởng quan trọng nhất của yếu tố này
Nghiên cứu của Paterson et al (1978) đã cho biết nhiệt độ cao trên 320C vào những tháng mùa hè ở Úc đã làm tăng tỷ lệ không đậu thai của lợn nái lên 19,7% trong khi các mùa khác là 12,7% Tác giả đã giải thích lý do có sự khác
Trang 29biệt như trên rằng chính các stress nhiệt vào thời điểm phối giống có thể ảnh hưởng đến quá trình rụng trứng và làm mất cân bằng nội tiết của các lợn nái
Ngoài ra, stress nhiệt còn ảnh hưởng đến quá trình tiết sữa của lợn nái trong giai đoạn nuôi con (Black et al., 1993) Theo Quinion et al (2000) nhiệt
độ cao làm lợn nái thu nhận thức ăn thấp, tỷ lệ hao hụt lợn nái tăng, tỷ lệ động dục trở lại sau cai sữa giảm Điều này ảnh hưởng khá lớn đến hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn nái sinh sản Lợn nái không động dục hay động dục trở lại sau cai sữa giảm sẽ làm kéo dài khoảng cách lứa đẻ từ đó làm giảm số lứa đẻ/nái/năm
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Kim Dung và Trần Thị Minh Hoàng (2009) cho thấy mùa vụ đẻ đều có ảnh hưởng đến tính trạng số con sơ sinh sống,
số con cai sữa và tuổi đẻ lứa đầu Số con sơ sinh sống và số con cai sữa ở mùa xuân đều cao hơn so với các mùa khác Tuổi đẻ lứa đầu ở mùa xuân sớm hơn mùa hạ và mùa thu từ 10,51 đến 10,91 ngày nhưng lại cao hơn so với mùa đông 9,62 ngày
* Yếu tố đực phối
Việc lựa chọn lợn đực giống phù hợp để giao phối với lợn nái là rất quan trọng, ảnh hưởng của cá thể đực giống đối với tỉ lệ thụ thai là rất rõ rệt Sử dụng đực giống quá già cũng sẽ làm giảm số con trong một lứa đẻ Có thể tăng thêm tỉ
lệ thụ thai và số con sinh ra trong ổ bằng cách sử dụng hơn một đực cho một lợn nái Điều này tạo cơ hội để sử dụng tối đa lợn đực có khả năng thụ tinh và khả năng phù hợp trên lợn cái (Diehl et al., 1996)
Ngoài ra sự kích thích của con đực cũng tác động về tuổi thành thục về tính dục của lợn nái hậu bị, đây gọi là “hiệu ứng đực giống” Khi con đực tiếp xúc với con cái, con đực sẽ phát ra tín hiệu đặc biệt nào đó để kích thích sự thành thục của con cái "Hiệu ứng đực giống" được thực hiện thông qua feromon trong nước bọt của con đực (3 andiosterol) được truyền trực tiếp cho con cái qua đường miệng