Việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực là phương pháp tích tụdần dần các yếu tố của phẩm chất và năng lực người học để chuyển hóa vàgóp phần cho việc hình thành, phát triển nhân các
Trang 1hợp lý hỗ trợ dạy học
17
2.3.3 Sử dụng các kỹ thật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo 172.3.4 Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn 172.3.5 Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh 18
1 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Trang 2Dạy học mỹ thuật (MT) trong trường chuyên nghiệp hay trường phổ thông
thì mục tiêu chung cũng đều hướng tới cái đẹp, cái giá trị thẩm mỹ Thôngqua môn MT người học có thể cảm nhận được cái đẹp và biết cách tạo ra cáiđẹp Thẩm mỹ hay cái đẹp nó ẩn chứa trong tất cả mọi lĩnh vực của cuộc
sống như: Ăn đẹp ! Mặc đẹp ! Ở đẹp và mọi thứ cần thiết cho con người từ nhỏ đến lớn cũng cần đẹp !
Con người của thời đại mới là con người phải có đủ : Tri thức, đạo đức, sức khỏe và thẩm mỹ, là một con người thì không thể khô khan, bàng
quan trước cái đẹp muôn màu của cuộc sống Dạy MT trong trường phổthông không phải là đào tạo học sinh (HS) trở thành họa sĩ mà là giúp các
em biết cách cảm nhận cái đẹp của cuộc sống, của những tác phẩm nghệthuật và biết cách tự tạo ra cái đẹp cho bản thân mình, cho cuộc sống
Hiện nay với thời đại bùng nổ về khoa học kĩ thuật, nhiều phươngtiện kĩ thuật hiện đại ra đời nhằm phục vụ cho cuộc sống và lợi ích của conngười Trong giáo dục ở nước ta việc đổi mới phương pháp dạy học phát huy
tính tích cực chủ động sáng tạo của HS, lấy HS làm trung tâm giáo viên
(GV) là người tổ chức các hoạt động cho HS chủ động lĩnh hội kiến thức củabài học
Để giải quyết những vấn đề trên tôi đã mạnh dạn áp dụng “MỘT VÀI KINH NGHIỆM DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ” vào các giờ học MT cho tất cả
các khối, lớp
1.2 mục đích nghiên cứu
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêucầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho
Trang 3sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực Một trong nhữngđịnh hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dụcmang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chútrọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạocủa người học Định hướng quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học(PPDH) là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lựchành động, năng lực cộng tác làm việc của người học Đó cũng là những xuhướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổ thông.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này tôi mới áp dụng trong môn Mỹ Thuật cho các khối lớp 6, 7, 8 ,9 tại Trường THCS Thành Long
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương phápdạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ ápđặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyếnkhích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹnăng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hìnhthức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứukhoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trongdạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diệnGD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chấtcủa đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực ngườihọc và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này
Để đề tài được áp dụng phổ biến trong dạy học ở trường THCS cần
có sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các cấp quản lý giáo dục và cần sự nỗ lực,
cố gắng hết mình của giáo viên giảng dạy với sự kết hợp của công nghệ
Trang 4thông tin và kiến thức liên môn Trong quá trình thực hiện đòi hỏi giáo viên cần phải nhiệt huyết với nghề, đầu tư nghiên cứu tìm tòi, vận dụng và rútkinh nghiệm để nâng cao hiệu quả giờ dạy của mình.
Đề tài được áp dụng trong quá trình giảng dạy bộ môn MT THCS,ngoài ra có thể sử dụng phương pháp này vào giảng dạy một số bộ môn kháctrong chương trình giáo dục THCS
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận của đề tài
2.1.1 Các khái niệm về nhân cách, phẩm chất và năng lực
2.1.1.1 Nhân cách
Khái niệm nhân cách trong tâm lý học
Theo các nhà tâm lý học, nhân cách được nhìn nhận với những góc độnhư sau:
Nhân cách là cá thể hóa ý thức xã hội (V.X.Mukhina)
Nhân cách là một cá nhân có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong
xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định (A.G Covaliop)
Theo quan điểm tâm lý học mác-xít thì: Con người sinh ra không phải
đã có sẵn nhân cách và cũng không phải nó bộc lộ dần từ các bản năngnguyên thủy Nhân cách là một cấu tạo tâm lý được hình thành và phát triểntrong quá trình sống, hoạt động giao tiếp của mỗi người Hay như nhà tâm lýhọc nổi tiếng người Nga A.N Leonchiep đã nói "Nhân cách là cái được hìnhthành, không phải cái được sinh ra"
Khái niệm nhân cách trong giáo dục học
Theo các nhà giáo dục học thì
Nhân cách là tổ hợp của những phẩm chất và năng lực, là đạo đức vàtài năng được kết tinh ở mỗi con người
Trang 5Con người khi mới sinh ra chưa có nhân cách, nhân cách phản ánhbản chất của xã hội của mỗi cá nhân và chỉ được hình thành, phát triển tronghoạt động giao lưu Chính trong quá trình sống, hoạt động, giao tiếp, họctập, lao động, vui chơi, giải trí con người đã tự hình thành và phát triểnnhân cách của mình.
Theo các nhà xã hội học thì nhân cách là một thứ giá trị được xâydựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội, nóđặc trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con ngườinhưng lại mang tính xã hội sâu sắc
2.1.1.2 Phẩm chất và năng lực
Theo từ điển Tiếng Việt :
Phẩm chất là cái làm nên giá trị của người hay vật Hoặc: Phẩm chất
là những yếu tố đạo đức, hành vi ứng xử, niềm tin, tình cảm, giá trị cuộcsống; ý thức pháp luật của con người được hình thành sau một quá trình giáodục
Cũng theo từ điển Tiếng Việt: Năng lực là khả năng, điều kiện chủquan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Hoặc: Nănglực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng để thực hiện thànhcông một loại công việc trong một bối cảnh nhất định Năng lực gồm cónăng lực chung và năng lực đặc thù Năng lực chung là năng lực cơ bản cầnthiết mà bất cứ người nào cũng cần phải có để sống và học tập, làm việc.Năng lực đặc thù thể hiện trên từng lĩnh vực khác nhau như năng lực đặc thùmôn học là năng lực được hình thành và phát triển do đặc điểm của môn học
đó tạo nên
Trang 62.1.2 Mối quan hệ giữa dạy học phát triển phẩm chất, năng lực với phát triển nhân cách con người.
2.1.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách.
Sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân chịu ảnhhưởng bởi các yếu tố: di truyền, môi trường, giáo dục và hoạt động cá nhân
Các yếu tố bẩm sinh - di truyền tốt là những mầm mống của phẩmchất và tài năng, nhất là tài năng con người các mầm mống cần được pháthiện kịp thời và giáo dục đúng cách thì tài năng mới phát huy, tỏa sáng Nếukhông làm như vậy, mầm mống cũng bị mai một Do vậy yếu tố di truyềnkhông có vai trò quyết định đến hình thành nhân cách
Môi trường tự nhiên, môi trường gia đình, xã hội, hoàn cảnh sống cótác động và ảnh hưởng to lớn đến cá nhân nhưng cũng không có vai tròquyết định đối với việc hình thành và phát triển nhân cách bởi vì hoàn cảnhsáng tạo ra con người nhưng trong một chừng mực, con người cũng sáng tạo
ra hoàn cảnh
Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhâncách như: giáo dục sẽ định hướng cho phát triển nhân cách, giáo dục làmphát huy các yếu tố bẩm sinh – di truyền, giáo dục khắc phục được một sốcác khuyết tật, lệch lạc của cá nhân Tuy vậy cá nhân phát triển đến mức độnào, theo xu hướng nào, giáo dục không quyết định được cho cá nhân Giáodục không là vạn năng
Trong các yếu tố kể trên chỉ có hoạt động của cá nhân mới là yếu tốquyết định trực tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
2.1.2.2 Mối quan hệ giữa dạy học phát triển phẩm chất, năng lực với phát triển nhân cách.
Bàn về các thành tố cấu tạo nên nhân cách, các nhà khoa học tâm lý
và khoa học giáo dục đưa ra nhiều cấu trúc khác nhau về nhân cách: Loạicấu trúc 2 thành phần (đức, tài) của các nhà tâm lý học Việt Nam; loại cấu
Trang 7trúc 3 thành phần ( ý thức, tiềm thức, vô thức) của Freud; loại cấu trúc 4thành phần ( nguồn gốc sinh học - đặc điểm quá trình tâm lý – vốn kinhnghiệm – xu hướng nhân cách ) của K.K.Platonop Ngoài ra còn có các loạicấu trúc 2 tầng, loại cấu trúc 4 bộ phận, cấu trúc 5 đặc điểm
Ở Việt Nam, loại cấu trúc nhân cách hai thành phần được nghiên cứu
và vận dụng rộng rãi nhất là trong công tác giáo dục Đó là quan điểm coicấu trúc nhân cách gồm hai mặt cơ bản phẩm chất và năng lực (đức và tài).Trong đó phẩm chất bao gồm 4 nội dung gồm có: phẩm chất xã hội, phẩmchất cá nhân, phẩm chất ý chí và phẩm chất ứng xử Năng lực bao gồm 4 nộidung cơ bản: năng lực xã hội hóa, năng lực chủ thể hóa, năng lực hành động
và năng lực giao tiếp Đây có thể coi là phẩm chất và năng lực khung củanhân cách theo quan niệm cấu trúc nhân cách hai thành phần (đức, tài)
Theo quan niệm nói trên, nhân cách gồm 2 mặt thống nhất phẩm chất
và năng lực (đức, tài) Trường hợp một cá nhân có đức và tài không thốngnhất nhau như "tài cao đức kém" hay "đức trọng tài hèn" thì là những nhâncách chưa hoàn chỉnh Đối với nhân cách hoàn chỉnh thì khó phân biệt đượcgiữa đức và tài, đức và tài hòa quyện nhau thành một chỉnh thể
Do vậy mối quan hệ giữa dạy học phát triển phẩm chất, năng lực vớiphát triển nhân cách được diễn đạt như sau:
Phẩm chất và năng lực là hai thành phần cơ bản của nhân cách
Nhân cách là chỉnh thể thống nhất giữa hai mặt phẩm chất và nănglực
Việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực là phương pháp tích tụdần dần các yếu tố của phẩm chất và năng lực người học để chuyển hóa vàgóp phần cho việc hình thành, phát triển nhân cách
Tóm lại, dạy học phát triển phẩm chất, năng lực vừa là mục tiêu giáodục (xét về mục đích, ý nghĩa của dạy học), vừa là một nội dung giáo dục(xét về các tiêu chuẩn, tiêu chí cần đạt của người học) đồng thời cũng là mộtphương pháp giáo dục (xét về cách thức thực hiện)
Trang 8Do vậy, dạy học phát triển phẩm chất, năng lực có một ưu thế vượttrội trong hình thành và phát triển nhân cách bởi vì nó hướng người học đivào hoạt động cá nhân (hoạt động trong giờ, ngoài giờ, hoạt động giao tiếpvới tự nhiên, xã hội, môi trường, trải nghiệm ), mà các hoạt động sống, hoạtđộng cá nhân có vai trò quyết định đối với hình thành nhân cách Vì vậy vấn
đề còn lại là người học tham gia như thế nào các hoạt động để hình thành vàphát triển nhân cách của mình
xã hội cũng có những thay đổi phù hợp với đòi hỏi của thời đại
Theo xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, nền giáo dụcnước ta cũng đang trong tiến trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục vàđào tạo Nếu như trước đây giáo dục chú trọng mục tiêu giáo dục toàn diệncho học sinh và giúp người học hình thành hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái
độ thì ngày nay, điều đó vẫn còn đúng, còn cần nhưng chưa đủ
Thật vậy, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa với những tác động tích cực của nền kinh tế tri thức và tiến bộ củathông tin, truyền thông, giáo dục cần phải giúp người học hình thành một hệthống phẩm chất, năng lực đáp ứng được với yêu cầu mới Hệ thống phẩmchất, năng lực đó được cụ thể hóa phù hợp với sự phát triển tâm lý, sinh lýcủa người học, phù hợp với đặc điểm môn học và cấp học, lớp học Theo đó,
Trang 9những phát triển của phẩm chất, năng lực người học trong quá trình giáo dụccũng sẽ là quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách con người.
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chươngtrình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa
là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vậndụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiệnchuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạycách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực
và phẩm chất Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáoviên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triểnnăng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻcủa các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liênmôn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hìnhthành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép,tìm kiếm thông tin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độclập, sáng tạo của tư duy Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phươngpháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù
sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Họcsinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn củagiáo viên”
Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chứcdạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà cónhững hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học tronglớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thựchành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thứcvào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học
Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đãqui định Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết
Trang 10với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vận dụngcông nghệ thông tin trong dạy học.
Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển nănglực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:
Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp
học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thunhững tri thức được sắp đặt sẵn Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo họcsinh tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sángtạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn
Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và
các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận đểtìm tòi và phát hiện kiến thức mới Định hướng cho học sinh cách tư duynhư phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ vềquen… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo
Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học
trở thành môi trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểubiết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm
vụ học tập chung
Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong
suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớphọc) Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của họcsinh với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc
tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cáchsửa chữa các sai sót
2.2.1 Một số mô hình thực tiễn dạy học phát triển phẩm chất, năng lực 2.2.1.1 Mô hình 4 trụ cột giáo dục của UNESCO
Mô hình 4 trụ cột của UNESCO có thể xem như một triết lý giáo dụccủa thế kỷ XXI Đây là mô hình có sự đan xen hòa quyện giữa phẩm chất vànăng lực trong nội dung của từng trụ cột Ví dụ các trụ cột "học để làm
Trang 11người", "học để sống chung" là phẩm chất hay năng lực? – (có cả phẩm chất
và năng lực)
Bảng 1: Bảng đối chiếu 4 trụ cột giáo dục với các phẩm chất, năng lực tương ứng
TTBốn trụ cột giáo dục của UNESCO
(The four pillars of education)
Các nhóm phẩm chất và năng lực tương ứng
1 Học để biết (Learning to know) Phẩm chất trí tuệ
Năng lực nhận thức
2 Học để làm việc (Learing to do) Phẩm chất nghề nghiệp
Năng lực chuyên môn
3 Học để sống chung (Learning to live
together)
Phẩm chất xã hộiNăng lực xã hội hóa
4 Học để làm người (Learning to be) Phẩm chất ứng xử
Năng lực chủ thể hóa
2.2.1.2 Mô hình ba phẩm chất tám năng lực của Việt Nam.
Trong một dự thảo cho đổi mới về chương trình sách giáo khoa saunăm 2015 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra một chương trình tổng thể gồm
ba phẩm chất và tám năng lực như sau (Bộ Giáo dục và Đào tạo công bốngày 05/8/2015)
2.2.1.3 Ba phẩm chất là: Sống yêu thương, sống tự chủ, sống trách nhiệm.
Sống yêu thương gồm: Yêu tổ quốc, giữ gìn phát huy truyền thống, disản quê hương đất nước, tôn trọng các nền văn hóa trên thế giới, nhân ái,khoan dung, yêu thiên nhiên
Sống tự chủ gồm: Sống trung thực; tự trọng; tự lực; chăm chỉ; vượtkhó; tự hoàn thiện
Sống trách nhiệm gồm: Tự nguyện; chấp hành kỷ luật; tuân thủ phápluật; bảo vệ nội quy, pháp luật
Trang 12Mỗi phẩm chất sẽ được Bộ nêu rõ những tiêu chí cụ thể hơn, cụ thể hóatrong chương trình theo từng cấp học.
2.2.1.4 Tám năng lực:
Gồm có năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo,năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác,năng lực tính toán, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông
Trên đây là hệ thống phẩm chất, năng lực chung, khái quát, sẽ được cụ thểhóa trong chương trình sách giáo khoa của từng cấp học, môn học
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc đánh giá mức độ đạt được các yêucầu về phẩm chất năng lực của học sinh từng cấp học được thực hiện thôngqua nhận xét các biểu hiện của học sinh đối với các thành tố tương ứng trongtừng phẩm chất và năng lực
2.3 Các biện pháp đã tiến hành giải quyết vấn đề :
“MỘT VÀI KINH NGHIỆM DẠY, HỌC Ở TRƯỜNG THCS THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC, TRONG PHÂN
MÔN THƯỜNG THỨC MỸ THUẬT’’
2.3.1 Những vận dụng trong dạy học phát triển phẩm chất, năng lực 2.3.1.1 Vận dụng qua sử dụng sách giáo khoa
Mối quan hệ giữa dạy học phát triển phẩm chất, năng lực và dạy họctrước đây (chú trọng hình thành kiến thức, kỹ năng, thái độ) được biểu diễntheo sơ đồ sau:
Trang 13Sơ đồ phẩm chất và năng lực trong mối quan hệ với các yếu tố tưtưởng, đạo đức, lối sống và kiến thức, kỹ năng, thái độ
Theo sơ đồ trên, việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực ngườihọc tuy có khác với dạy học trước đây nhưng có sự kế thừa, nâng lên từphương pháp, nội dung dạy học trước đây
Do vậy, mặc dù đến năm 2018 mới có sách giáo khoa cho chươngtrình mới theo khung chương trình tổng thể, nhưng hiện nay các trường cóthể vận dụng được việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực trên chươngtrình và sách giáo khoa hiện hành (sách của chương trình sau năm 2000).Điều đó thực hiện được bởi vì trong sách giáo khoa tri thức vẫn là tri thứckhoa học, chỉ có sự chiếm lĩnh tri thức và ứng dụng sáng tạo tri thức mới làđiều cần thay đổi và luôn thay đổi
2.3.1.2 Vận dụng trong góp ý cho dự thảo chương trình tổng thể và chương trình cụ thể.
Chương trình tổng thể hiện nay còn mang tính dự thảo, chương trình
cụ thể đang soạn thảo Vì vậy khi tiếp cận, làm quen với việc dạy học pháttriển phẩm chất, năng lực người học, người cán bộ quản lý giáo dục, ngườidạy sẽ phát hiện ra nhiều vấn đề có thể đóng góp hữu ích cho dự thảochương trình tổng thể hiện nay và chương trình cụ thể trong thời gian tới
Trang 142.3.1.3 Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống
Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phươngpháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắtđầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm củachúng Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáoviên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹthuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ thuậtđặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làmmẫu trong luyện tập Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống cónhững hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyềnthống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cườngtính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quanđiểm dạy học giải quyết vấn đề
2.3.1.4 Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học
Việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trongtoàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tíchcực và nâng cao chất lượng dạy học Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhómđôi và dạy học cá thể là những hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp vớinhau, mỗi một hình thức có những chức năng riêng Tình trạng độc tôn củadạy học toàn lớp và sự lạm dụng phương pháp thuyết trình cần được khắcphục, đặc biệt thông qua làm việc nhóm Trong thực tiễn dạy học ở trườngtrung học hiện nay, nhiều giáo viên đã cải tiến bài lên lớp theo hướng kếthợp thuyết trình của giáo viên với hình thức làm việc nhóm, góp phần tíchcực hoá hoạt động nhận thức của học sinh Tuy nhiên hình thức làm việcnhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việc giải quyết các nhiệm vụ học tậpnhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có những hình thức làm việc nhómgiải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thể chiếm một hoặc nhiều tiết học,
sử dụng những phương pháp chuyên biệt như phương pháp đóng vai, nghiêncứu trường hợp, dự án Mặt khác, việc bổ sung dạy học toàn lớp bằng làm
Trang 15việc nhóm xen kẽ trong một tiết học mới chỉ cho thấy rõ việc tích cực hoá
“bên ngoài” của học sinh Muốn đảm bảo việc tích cực hoá “bên trong” cầnchú ý đến mặt bên trong của phương pháp dạy học, vận dụng dạy học giảiquyết vấn đề và các phương pháp dạy học tích cực khác
2.3.1.5 Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết vàgiải quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy,khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề Học sinh được đặt trong một tìnhhuống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thôngqua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng vàphương pháp nhận thức Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản đểphát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiềuhình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh Các tìnhhuống có vấn đề là những tình huống khoa học chuyên môn, cũng có thể lànhững tình huống gắn với thực tiễn Trong thực tiễn dạy học hiện nay, dạyhọc giải quyết vấn đề thường chú ý đến những vấn đề khoa học chuyên môn
mà ít chú ý hơn đến các vấn đề gắn với thực tiễn Tuy nhiên nếu chỉ chútrọng việc giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa học chuyên môn thìhọc sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thựctiễn Vì vậy bên cạnh dạy học giải quyết vấn đề, lý luận dạy học còn xâydựng quan điểm dạy học theo tình huống
2.3.1.6 Vận dụng dạy học theo tình huống
Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạyhọc được tổ chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễncuộc sống và nghề nghiệp Quá trình học tập được tổ chức trong một môitrường học tập tạo điều kiện cho học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân vàtrong mối tương tác xã hội của việc học tập Các chủ đề dạy học phức hợp lànhững chủ đề có nội dung liên quan đến nhiều môn học hoặc lĩnh vực trithức khác nhau, gắn với thực tiễn Trong nhà trường, các môn học được
Trang 16phân theo các môn khoa học chuyên môn, còn cuộc sống thì luôn diễn ratrong những mối quan hệ phức hợp Vì vậy sử dụng các chủ đề dạy học phứchợp góp phần khắc phục tình trạng xa rời thực tiễn của các môn khoa họcchuyên môn, rèn luyện cho học sinh năng lực giải quyết các vấn đề phứchợp, liên môn Phương pháp nghiên cứu trường hợp là một phương pháp dạyhọc điển hình của dạy học theo tình huống, trong đó học sinh tự lực giảiquyết một tình huống điển hình, gắn với thực tiễn thông qua làm việc nhóm.Vận dụng dạy học theo các tình huống gắn với thực tiễn là con đường quantrọng để gắn việc đào tạo trong nhà trường với thực tiễn đời sống, góp phầnkhắc phục tình trạng giáo dục hàn lâm, xa rời thực tiễn hiện nay của nhàtrường phổ thông Tuy nhiên, nếu các tình huống được đưa vào dạy học lànhững tình huống mô phỏng lại, thì chưa phải tình huống thực Nếu chỉ giảiquyết các vấn đề trong phòng học lý thuyết thì học sinh cũng chưa có hoạtđộng thực tiễn thực sự, chưa có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành.
2.3.1.7 Vận dụng dạy học định hướng hành động
Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm chohoạt động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau Trong quátrình học tập, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sảnphẩm hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt độngtay chân Đây là một quan điểm dạy học tích cực hoá và tiếp cận toàn thể.Vận dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa quan trong cho việcthực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hànhđộng, nhà trường và xã hội Dạy học theo dự án là một hình thức điển hìnhcủa dạy học định hướng hành động, trong đó học sinh tự lực thực hiện trongnhóm một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp
lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể công bố Trong dạyhọc theo dự án có thể vận dụng nhiều lý thuyết và quan điểm dạy học hiệnđại như lý thuyết kiến tạo, dạy học định hướng học sinh, dạy học hợp tác,