Phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)Phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Điện Biên đông, tỉnh Điện Biên (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN VĂN LÂM
PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC
MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở CÁC TRƯỜNG
PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN VĂN LÂM
PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC
MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở CÁC TRƯỜNG
PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phí Thị Hiếu
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu công bố của các tổ chức và cá nhân được tham khảo và sử dụng đúng quy định Các kết quả trình bày trong đề tài là trung thực và chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 03 năm 2019
Tác giả luận văn Nguyễn Văn Lâm
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS
TS Phí Thị Hiếu - người hướng dẫn khoa học: cô giáo đã hết lòng giúp đỡ,
hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy giáo cô giáo Phòng Đào tạo, Trường CĐSP Điện Biên đã quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo Phòng Giáo dục huyện Điện Biên Đông đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi được tham gia học tập và trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn BGH, các đồng chí cán bộ giáo viên các trường: PTDTBT THCS: Sa Dung, Nong U, Pú Nhi, Chiềng Sơ, Pú Hồng; các bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ trong suốt quá trình học tập nâng cao trình độ, nghiên cứu khoa học và viết luận văn
Do điều kiện thời gian và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn chắc chắn sẽ còn nhiều khiếm khuyết Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và bạn bè, đồng nghiệp để luận văn tiếp tục được hoàn thiện
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 03 năm 2019
Tác giả luận văn Nguyễn Văn Lâm
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn nghiên cứu của đề tài 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ 6
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 9
1.2 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Chương trình, chương trình dạy học 11
1.2.2 Chương trình phổ thông tổng thể, chương trình dạy học địa phương, chương trình dạy học nhà trường, chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên 15
1.2.3 Phát triển, phát triển chương trình, phát triển chương trình dạy học 18
1.3 Một số vấn đề cơ bản về phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS 20
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.3.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh Phổ thông dân tộc bán trú Trung học
cơ sở 20
1.3.2 Mục tiêu của phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS 22
1.3.3 Nội dung phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS 23
1.3.4 Quy trình thực hiện phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS 28
1.4 Quản lí phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS 30
1.4.1 Kế hoạch hóa phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS 30
1.4.2 Tổ chức thực hiện phát triển chương trình đào tạo 32
1.4.3 Chỉ đạo thực hiện phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS 33
1.4.4 Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS 34
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS 35
1.5.1 Yếu tố chủ quan 35
1.5.2 Yếu tố khách quan 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG 40
2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 40
2.1.1 Vài nét về khách thể khảo sát 40
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
2.1.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 41 2.2 Thực trạng phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 43 2.2.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lí, giáo viên về vai trò của phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên 43 2.2.2 Thực trạng phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 45 2.3 Thực trạng quản lý phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên 50 2.3.1 Thực trạng lập kế hoạch phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên 50 2.3.2 Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên 53 2.3.3 Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên 54 2.3.4 Thực trạng kiểm tra đánh giá hoạt động phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 57 2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 59 2.5 Đánh giá chung về thực trạng phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 62
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
2.5.1 Những ưu điểm 62
2.5.2 Những hạn chế 63
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở CÁC TRƯỜNG PTDTBT THCS HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG 66
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 66
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 66
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 66
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi của các biện pháp 66
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ của các biện pháp 67
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 67
3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu dạy học các môn KHTN 68
3.2 Biện pháp phát triển chương trình dạy học môn KHTN ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 68
3.2.1 Nâng cao năng lực nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên dạy học môn KHTN ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông về sự cần thiết phải phát triển chương trình dạy học môn KHTN 68
3.2.2 Bồi dưỡng năng lực phát triển chương trình cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên của các trường PTDTBT THCS 70
3.2.3 Lập kế hoạch phát triển chương trình dạy học môn KHTN căn cứ trên kế hoạch phát triển chương trình tổng thể ở các trường PTDTBT THCS 73
3.2.4 Đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu phát triển chương trình dạy học môn KHTN 75
3.2.5 Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả phát triển chương trình dạy học môn KHTN ở các trường PTDTBT THCS 76
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 79
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 79
3.4.1 Mục đích, đối tượng khảo nghiệm 79
3.4.2 Nội dung và cách tiến hành khảo nghiệm 79
3.4.3 Kết quả khảo nghiệm 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Khuyến nghị 86
2.1 Đối với Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Điện Biên Đông 86
2.2 Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Điện Biên Đông 87
2.3 Đối với các trường PTDTBT THCS của huyện Điện Biên Đông 87
2.4 Đối với đội ngũ giáo viên 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHẦN PHỤ LỤC 90
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CT : CSVC :
Chương trình
Cơ sở vật chất Giáo viên Nhân viên
Số lượng Viên chức Khoa học tự nhiên Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên các trường
PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên về sự cần thiết của phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên 43 Bảng 2.2 Thực trạng phát triển mục tiêu dạy học môn khoa học tự nhiên ở các
trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 45 Bảng 2.3.Thực trạng phát triển nội dung chương trình dạy học môn khoa
học tự nhiên ở các trường THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 47 Bảng 2.4 Thực trạng phát triển việc tổ chức thực hiện chương trình dạy
học môn khoa học tự nhiên ở các trường THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 49 Bảng 2.5 Thực trạng lập kế hoạch phát triển chương trình dạy học môn
khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 51 Bảng 2.6 Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển chương trình
dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông 53 Bảng 2.7 Thực trạng chỉ đạo thực hiện phát triển chương trình dạy học
môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông 55 Bảng 2.8 Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả phát triển chương trình dạy
học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS 58 Bảng 2.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chương trình dạy học môn
khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên 60
Bảng 3.1 Đánh giá mức độ cần thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất 81
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
“Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29 khẳng định: "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng Xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, “Trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt”,
“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học” Giáo dục
và Đào tạo phải thực hiện sứ mệnh nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho các đối tượng người học [13]
Ngày 27 tháng 3 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông Mục tiêu đổi mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh.” [12]
Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh; tạo môi trường học tập và rèn luyện giúp học sinh phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, trở thành người học tích cực, tự tin, biết vận dụng các phương pháp học tập tích cực để hoàn chỉnh các tri thức và kĩ năng nền tảng, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thành người công dân
có trách nhiệm, người lao động có văn hoá, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới
Ngày 28 tháng 12 năm 2018, chương trình giáo dục phổ thông mới đã chính thức được ban hành Chương trình giáo dục phổ thông bao gồm chương trình tổng thể (khung chương trình), các chương trình môn học và hoạt động giáo dục Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Khoa học tự nhiên là môn học bắt buộc, được dạy ở trung học cơ sở, giúp học sinh phát triển các phẩm chất, năng lực đã được hình thành và phát triển ở cấp tiểu học; hoàn thiện tri thức, kĩ năng nền tảng và phương pháp học tập để tiếp tục học lên trung học phổ thông, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động Môn Khoa học tự nhiên được xây dựng và phát triển trên nền tảng các khoa học vật lí, hoá học, sinh học và khoa học Trái Đất Đối tượng nghiên cứu của Khoa học tự nhiên là các sự vật, hiện tượng, quá trình, các thuộc tính cơ bản về sự tồn tại, vận động của thế giới tự nhiên Trong Chương trình môn Khoa học tự nhiên, nội dung giáo dục về những nguyên lí và khái niệm chung nhất của thế giới tự nhiên được tích hợp theo nguyên lí của tự nhiên, đồng thời bảo đảm logic bên trong của từng mạch nội dung.[15]
Khoa học tự nhiên luôn đổi mới để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống hiện đại Do vậy, giáo dục phổ thông phải liên tục cập nhật những thành tựu khoa học mới, phản ánh được những tiến bộ của các ngành khoa học, công nghệ và
kĩ thuật, tức là việc phát triển chương trình môn khoa học tự nhiên là yêu cầu bắt buộc đối với các nhà trường THCS
Hiện nay, các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên đã quan tâm đến việc nâng cao chất lượng dạy và học các môn khoa học
tự nhiên, áp dụng nhiều biện pháp để phát triển toàn diện năng lực của học sinh, bước đầu đề cập đến việc xây dựng phát triển chương trình dạy học chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực Tuy nhiên việc thực hiện còn chưa đồng bộ về mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
học, hình thức dạy học, điều kiện dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả, dẫn đến kết quả thu được còn chưa cao nhất là đối với các môn khoa học tự nhiên môn học mà đòi hỏi ở người học một khả năng tư duy cao Vì thế, việc phát triển chương trình môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS cho phù hợp với đặc điểm của HS người DTTS, nâng cao khả năng vận dụng kiến thức của
HS vào thực tế của địa bàn sinh sống là việc làm cấp thiết
Từ lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học
cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên” làm đề tài nghiên cứu luận văn
tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn phát triển chương trình dạy học môn KHTN ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, chúng tôi đề xuất các biện pháp quản lí nhằm phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên một cách hiệu quả
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động phát triển chương trình dạy học ở các trường THCS
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên đã được thực hiện, song vẫn còn những hạn chế bất cập Một trong những nguyên nhân của hạn chế là do thiếu các biện pháp quản lý của hiệu trưởng một cách đồng bộ và chưa thật sự theo định hướng mục tiêu phát triển chương trình dạy học Nếu đề
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
xuất và thực hiện các biện pháp phát triển chương trình phù hợp với điều kiện
và tính đặc thù riêng của học sinh dân tộc thiểu số sẽ nâng cao chất lượng dạy học môn khoa học tự nhiện và đáp ứng được yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở
- Nghiên cứu thực trạng phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
- Đề xuất một số biện pháp quản lí phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
6 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
6.1 Khách thể nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành khảo sát trên các khách thể là CBQL và GV ở 5 trường PTDTBT THCS trên địa bàn huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên (Gồm trường PTDTBT THCS: Chiềng Sơ, Sa Dung, Nong U, Pú Nhi, Pú Hồng)
6.2 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các biện pháp phát triển chương trình dạy học môn KHTN của Hiệu trưởng các trường PTDTBT THCS theo cách tiếp cận chức năng quản lý: Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá hoạt động phát triển chương trình dạy học môn KHTN
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu, văn bản liên quan đến phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên nhằm xây dựng hệ thống cơ sở lý luận cho đề tài
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (phương pháp Ankét)
Sử dụng các bảng hỏi dành cho cán bộ quản lý, giáo viên các trường PTDTBT THCS để thu thập thông tin về phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn trực tiếp một số cán bộ quản lý các trường, một số giáo viên
về phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
7.2.3 Phương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến đánh giá của lãnh đạo phòng giáo dục, các cán bộ quản lý,
giáo viên để khảo nghiệm tính cần thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất
7.3 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí, phân tích số liệu điều tra, đánh giá và trình bày kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận - khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển chương trình dạy học môn khoa
học tự nhiên ở các trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở
Chương 2: Thực trạng thực hiện chương trình dạy học môn khoa học tự
nhiên ở các trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Chương 3: Biện pháp phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự
nhiên ở các trường PTDTBT THCS huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG
DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Khoa học tự nhiên là môn học có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của học sinh, có vai trò nền tảng trong việc hình thành và phát triển thế giới quan khoa học của học sinh cấp trung học cơ sở Khoa học tự nhiên là môn học cùng với các môn Toán học, Công nghệ và Tin học, góp phần thúc đẩy phát triển giáo dục Phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên là một trong những hướng giáo dục đang được quan tâm phát triển trên thế giới, góp phần đáp ứng yêu cầu cung cấp nguồn nhân lực trẻ cho giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá hiện nay
Từ thời cổ đại, một số nhà triết học, nhà giáo dục phương Tây và phương Đông đã có những tư tưởng về dạy học và quản lý dạy học Xôcơrat (469-399,
trước CN) đã đề xuất dạy học phải “Giúp thế hệ trẻ từng bước tự khẳng định,
tự phát hiện tri thức mới mẻ, phù hợp với chân lý” Khổng Tử (551- 479, trước CN) đã có quan điểm về phương pháp dạy học: “dùng cách gợi mở, đi từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ”, “đòi hỏi học trò phải tập luyện, phải hình thành nền nếp, thói quen
trong học tập” [2]
Về sự phát triển của khoa học tự nhiên Ănghen viết: “Vào thời đó, khoa học tự nhiên cũng phát triển ngay giữa cuộc cách mạng phổ biến và bản thân nó cũng triệt để cách mạng: vì nó còn cần phải giành quyền sống của nó”
Ăngghen nhận định rằng buổi bình minh của sự xuất hiện và phát triển của khoa học hiện đại về tự nhiên nổi bật lên nhà bác học Ba Lan vĩ đại là Côpécních Từ khi Côpécních dựng lên hệ thống lấy mặt trời làm trung tâm thì
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
hệ thống lấy trái đất làm trung tâm của Ptôlêmê sụp đổ Trước Côpécních người
ta quan niệm rằng trung tâm vũ trụ là trái đất Nhưng Côpécních cho rằng trái đất chỉ là một hành tinh, còn mặt trời là trung tâm của hệ thống này Chính thuyết đó của Côpécních đã giáng một đòn mạnh vào Kinh thánh của tôn giáo Mặt trời không phải là cái gì do con người sáng tạo ra để đối lập với trái đất Trái lại chính trái đất quay xung quanh mặt trời Ăngghen nói rằng đó là một hành vi cách mạng, tách khoa học ra khỏi giáo hội, “từ đó trở đi khoa học tự nhiên mới bắt đầu được giải phóng khỏi thần học”
Ralph W Tyler là một nhà giáo dục người Mỹ, đề xuất mô hình xây dựng chương trình được nhiều chuyên gia giáo dục cho là một trong những mô hình nổi tiếng và toàn diện nhất Theo Tyler, quy trình xây dựng chương trình học
nói chung gồm 6 bước: 1) Phân tích nhu cầu; 2) Xác định mục tiêu giảng dạy; 3) Lựa chọn nội dung giảng dạy; 4) Sắp xếp nội dung; 5) Thực hiện nội dung;
và 6) Đánh giá Mô hình xây dựng chương trình học của Ralph Ttyler được cho
là khá toàn diện cho việc xây dựng chương trình học Mô hình được bắt đầu từ khâu phân tích nhu cầu, Tyler cho rằng đây là khâu quan trọng giúp những người xây dựng chương trình xác định được mục đích chương trình, cũng như mục tiêu giảng dạy một cách sát thực, rõ ràng Trước hết, để xác định mục tiêu tổng quát của môn học, mục tiêu giảng dạy cần phân tích nhu cầu dựa trên
nguồn thông tin của 3 đối tượng: Ngươi học, xã hội và các vấn đề môn học.[2]
Theo quan điểm của Tyler, người học là một nguồn dữ kiệu quan trọng, công việc cần làm đầu tiên trước khi bắt đầu xây dựng chương trình là khảo sát tình hình và phân tích nhu cầu của người học Các mối quan tâm của người học như nhu cầu được đào tạo, giáo dục, nghề nghiệp, thể chất, tâm lý v.v… cần được nghiên cứu thông qua các hình thức điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi, phỏng vấn trực tiếp Chính bằng cách xem xét nhu cầu sở thích, cac mối quan tâm của người học, người xây dựng chương trình có thể tập hợp được các mục tiêu có tính tiềm năng của người học Bước tiếp theo trong quá trình hình thành
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
các mục tiêu chung là khảo sát phân tích các khía cạnh này của cuộc sống xã
hội hiện tại giúp người xây dựng chương trình xác định được các mục tiêu tiềm tàng Để có thêm nguồn dữ liệu xác định mục tiêu giáo dục, người làm chương
trình, với tư cách của chuyên gia môn học, cần tìm hiểu môn học, vị trí môn học trong chương trình ngành học, đặc thù của môn học.[2]
Theo Wentling (1993) thì phát triển chương trình đào tạo là quá trình
thiết kế chương trình đào tạo Sản phẩm của quá trình này là một bản kế hoạch
mô tả chương trình đào tạo với đầy đủ mục tiêu, nội dung, phương pháp, các phương tiện hỗ trợ đào tạo và cách đánh giá kết quả học tập của học viên Tuy nhiên, chương trình đào tạo sau khi được đưa vào thực thi, được đánh giá thì những thông tin phản hồi đó luôn được sử dụng ngay trong các giai đoạn của quá trình đào tạo để hoàn thiện chương trình.[2]
Hilda Taba (1962) định nghĩa chương trình học là một bản kế hoạch học tập Khi định nghĩa về chương trình, Hilda Taba chỉ ra các yếu tố của chương trình gồm 4 yếu tố sau: 1) Tuyên bố mục đích và mục tiêu cụ thể; 2) Lựa chọn
và cấu trúc nội dung chương trình; 3) Các chiến lược giảng dạy, cách học phù hợp; và 4) hệ thống đánh giá kết quả học tập
Trong quá trình phát triển giáo dục Liên Xô, nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục đã cho ra đời những bộ tài liệu có tính khoa học và có tính thực tiễn về quản lý quá trình sư phạm chủ yếu diễn ra trong nhà trường:
Phát triển chương trình nhà trường, quản lý quá trình dạy học và quản lý quá trình giáo dục Sự tập trung của những kiến giải đó được thể hiện cụ thể trong các tác phẩm xuất bản vào giữa những năm 70 Đặc biệt, M.I Kôndakốp, nhà lý luận và hoạt động thực tiễn xuất sắc của Liên Xô đã dày công nghiên cứu những vấn đề về phát triển chương trình giáo dục và quản lý trường học
Nhà giáo dục học Ronald C Doll (1996) chương trình học của nhà trường là nội dung giáo dục và các hoạt động chính thức và không chính thức; quá trình triển khai nội dung hoạt động, thông qua đó người học thu nhận được
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
kiến thức và sự hiểu biết, phát triển các kỹ năng, thái độ, tình cảm và các giá trị đạo đức dưới sự tổ chức của nhà trường
Như vậy, trong những công trình nghiên cứu của mình, các nhà nghiên
cứu quản lý giáo dục Liên Xô cho rằng:“Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động của đội ngũ giáo viên”
Tại các nước phương Tây, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng cũng rất sôi động Năm 1968, các tác giả Jacob W Getzels, Tames M Lipham.RoaldF Campbell đã cho ra đời công trình đầu tiên nghiên cứu khá hoàn chỉnh các vấn đề chương trình và phát triển chương trình
Tuy nhiên, những nghiên cứu về phát triển chương trình dạy học và giáo dục ở nước ngoài vẫn chưa có công trình nào bàn luận, nghiên cứu sâu đến quản lý hoạt động phát triển chương trình dạy học ở trường THCS nói chung và hoạt động phát triển chương trình dạy học các môn KHTN ở trường THCS nói riêng
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Chương trình giáo dục là luôn đổi mới, tiếp cận thực tiễn, có khả năng chuyển đổi linh hoạt Hoàn thiện và phát triển chương trình có vai trò tích cực đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục Đối với các cơ sở giáo dục, nghiên cứu chương trình còn được quan tâm đặc biệt không những bởi các thành phần bên trong nhà trường mà còn thu hút sự quan tâm của các thành phần có liên quan khác mà đặc biệt là đáp ứng nhu cầu của xã hội
Trong nghiên cứu lý thuyết vấn đề phát triển chương trình giáo dục và dạy học hiện nay có một số nhà nghiên cứu tiêu biểu như: Lâm Quang Thiệp,
Lê Viết Khuyến, Trần Khánh Đức, Nguyễn Đức Chính…) Nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ quan điểm tiếp cận phát triển Trong khi đó, cách tiếp cận nội dung
và tiếp cận mục tiêu có nhiều nhược điểm hơn, đã lạc hậu và không còn phù hợp trong tình hình mới hiện nay Cách tiếp cận phát triển chương trình dạy
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
học định hướng phát triển năng lực có thể coi là một tên gọi khác hay một mô hình cụ thể hoá của chương trình định hướng kết quả đầu ra, một công cụ để thực hiện giáo dục định hướng điều khiển đầu ra
Trong những năm gần đây đứng trước nhiệm vụ đổi mới Giáo dục - Đào tạo nói chung và đổi mới hoạt động dạy học nói riêng, nhiều nhà nghiên cứu trong đó có những nhà giáo dục, tâm lý học đã đi sâu nghiên cứu vấn đề phát triển chương trình: Xây dựng chương trình - Hướng dẫn thực hành (Curriculum Development A Guide to Practice (Nguyễn Kim Dung dịch); Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học (Nguyễn Hữu Châu);Phát triển chương trình đào tạo giáo viên - những vấn đề lý luận và thực tiễn(Phạm Hồng Quang) Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn đề cơ bản như: khái niệm chương trình giáo dục, khái niệm phát triển chương trình đào tạo, các mô hình và quy trình phát triển chương trình, chất lượng chương trình giáo dục đào tạo nói chung
Như vậy, vấn đề phát triển chương trình giáo dục nói chung và phát triển chương trình dạy học từ lâu đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Ngày nay, vấn đề này càng được quan tâm nhiều hơn và trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt của các nhà nghiên cứu giáo dục, ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể khác nhau nhưng điểm chung mà ta thấy trong các công trình nghiên cứu của họ là: Khẳng định phát triển CTNT là quá trình liên tục (bao gồm
cả đánh giá, điều chỉnh); do tập thể cán bộ quản lí (CBQL), giáo viên (GV) nhà trường thực hiện với sự tham gia tư vấn, góp ý, của các đối tượng liên quan (phụ huynh (PH), HS, cộng đồng địa phương, chuyên gia giáo dục, ), với sự hướng dẫn của cơ quan quản lí giáo dục địa phương (Sở, Phòng GD)
Hiện nay, hoạt động phát triển chương trình dạy học là một vấn đề mang tính thời sự đã được quan tâm nghiên cứu và tiếp tục được nghiên cứu để đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Phát triển chương trình dạy học môn KHTN ở các trường THCS là một vấn đề nghiên cứu khá mới mẻ, hiện nay trên cả nước có ít công trình nghiên cứu về vấn đề này
Tuy nhiên, trong thực tiễn quản lý, ở từng bậc học, ở từng địa phương luôn nảy sinh những vấn đề riêng và mới Hơn thế nữa, Nghị quyết số 29 NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo sau khi được ban hành chúng tôi chưa tiếp cận được đề tài nào nghiên cứu về phát triển chương trình dạy học các môn KHTN ở trường PTDTBT THCS trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Vì vậy, vấn đề tác giả đặt ra ở đề tài này là tìm hiểu thực trạng phát triển chương trình dạy học môn KHTN theo chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường phổ thông dân tộc bán trú THCS huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, từ đó đề xuất các biện pháp phát triển chương trình dạy học các môn KHTN ở các trường phổ thông dân tộc bán trú
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Chương trình, chương trình dạy học
Thuật ngữ Curriculum trong các tiếng Anh đã được nhiều tác giả, nhà
khoa học giáo dục chuyển dịch sang tiếng Việt là chương trình đào tạo, chương trình giáo dục, chương trình dạy học v.v… hoặc đôi khi còn gọi là chương trình
Thuật ngữ này trong các tài liệu tiếng Anh về giáo dục, chương trình giáo dục trong nhà trường cũng được định nghĩa và giải thích theo nhiều cách khác nhau
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Đưa ra định nghĩa về chương trình hoàn toàn không phải là việc dễ dàng
Có lẽ định nghĩa thông dụng nhất cho thuật ngữ này xuất phát từ một từ gốc Latinh có nghĩa là “trường đua” (race course) Thực ra, đối với người học thì chương trình học trong nhà trường cũng là một cuộc đua mà người học phải tham gia “chạy” và phải vượt qua hàng loạt các vật cản và rào chắn - đó là các môn học Từ thế kỷ thứ IV Trước Công nguyên, trường học trong nền văn minh
Tây Âu với sự ảnh hưởng tư tưởng triết học của Plato và Aristotle, từ chương trình (curriculum) được sử dụng để miêu tả các môn học được giảng dạy trong
thời kỳ cổ điển của nền văn minh Hy Lạp Theo thời gian, tùy thuộc vào quan điểm triết học, quan điểm về giáo dục trong nhà trường của mỗi người mà cách
hiểu và giải thích về chương trình của học sẽ khác nhau, chẳng hạn họ hiểu và giải thích chương trình (curriculum) là: 1) Những gì được giảng dạy trong nhà trường; 2) Tập hợp các môn học; 3) Tất cả những gì diễn ra trong nhà trường, bao gồm việc dạy, những hoạt động trong giờ, ngoài giờ học,và các mối quan
hệ giữa các cá nhân với nhau; 4) Những gì được dạy trong và ngoài trường do nhà trường định hướng; 5) Những hoạt động, kinh nghiệm mà người học trải qua trong trường, và những gì người học thu nhận được qua quá trình học của chính mình trong trường; 6) Là những môn học hữu ích nhất cho cuộc sống xã hội hiện tại; 7) Là toàn bộ các hoạt động, kinh nghiệm học tập mà nhà trường
tổ chức cho người học để học có thể đạt được những kỹ năng, kiến thức chung
ở các môi trường học khác nhau; v.v…và 8) Là tất cả những kiến thức mà người học thu nhận được trong trường đời (the course of living) Theo những cách giải thích và quan niệm trên đây, chương trình được hiểu theo nghĩa hẹp là
những môn học, hoặc theo nghĩa rộng hơn là tất cả những hoạt động, kinh nghiệm của người học ở trong và ngoài nhà trường
Đến thế kỷ XX, ý nghĩa của thuật ngữ chương trình được mở rộng hơn
Tùy theo quan điểm về cách tiếp cận xây dựng chương trình, quan điểm về phương thức tổ chức triển khai các hoạt động trong chương trình, căn cứ vào nhu
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
cầu thực tế của sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn, các chuyên gia giáo dục, các nhà xây dựng chương trình (curriculum developer) đã đưa ra các định nghĩa về chương trình một cách khái quát, đầy đủ và khác biệt hơn
Theo Phenix (1962), chương trình bao gồm toàn bộ những kiến thức do các môn học cung cấp
Hilda Taba (1962) định nghĩa chương trình học là một bản kế hoạch học tập Khi định nghĩa về chương trình, Hilda Taba chỉ ra các yếu tố của chương trình gồm 4 yếu tố sau: 1) Tuyên bố mục đích và mục tiêu cụ thể; 2) Lựa chọn
và cấu trúc nội dung chương trình; 3) Các chiến lược giảng dạy, cách học phù hợp; và 4) hệ thống đánh giá kết quả học tập
Trong Từ điển giáo dục của Carter V Good (1973) chương trình được
miêu tả là “một nhóm có hệ thống và trình tự các môn học cần phải có để được tốt nghiệp hoặc được chứng nhận hoàn thành một ngành học, lĩnh vực học”
Theo Tanner (1975) chương trình là các kinh nghiệm (experiences) học tập được hướng dẫn, và kế hoạch hóa, với các kết quả học tập được xác định trước và hình thành thông qua việc thiết lập kiến thức và kinh nghiệm một cách
có hệ thống dưới sự hướng dẫn của nhà trường nhằm tạo ra cho người học sự phát triển liên tục về năng lực xã hội - cá nhân
Albert, I Oliver cho rằng chương trình bao gồm 4 yếu tố cơ bản: Các môn học; các hoạt động, kinh nghiệm học tập; các dịch vụ; và các hoạt động
“ẩn” Các môn học, hoạt động, kinh nghiệm học và các dịch vụ là những phần
hiển nhiên của chương trình, còn khái niệm các hoạt động “ ẩn” có thể là những giá trị văn hóa tổ chức của nhà trường, xã hội v.v…
Chương trình được nhìn nhận với góc độ quy mô rộng hơn, nhấn mạnh đến sự phát triển kỹ năng và các giá trị khác mà người học đạt được trong trường học Điều này được thể hiện qua quan điểm của tác giả Ronald C Doll
(1996) về chương trình: “Chương trình học của nhà trường là nội dung giáo dục và các hoạt động chính thức và không chính thức; quá trình triển khai nội
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
dung hoạt động, thông qua đó người học thu nhận được kiến thức và sự hiểu biết, phát triển các kỹ năng, thái độ, tình cảm và các giá trị đạo đức dưới sự tổ chức của nhà trường”
Một số chuyên gia giáo dục khác nhìn nhận chương trình với một cách tổng thể từ góc độ người quản lý, người thiết kế, thực hiện chương trình, và chính vì vậy họ quan tâm nhiều hơn đến mục đích, mục tiêu, các phương pháp thực hiện để đạt được mục đích, mục tiêu đó
White (1995) cho rằng: Chương trình là một kế hoạch đào tạo phản ánh các mục tiêu giáo dục, đào tạo mà nhà trường theo đuổi Bản kế hoạch đó cho biết nội dung và phương pháp dạy và học cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra Tim Wentling (1993) định nghĩa: “Chương trình là bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo Hoạt động đó có thể chỉ là một khóa học trong thời gian vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm Bản thiết kế tổng thể đó cho ta biết nội dung cần đào tạo, chỉ rõ những gì có thể kỳ vọng ở người học sau khi kết thúc kháo học, nó phác họa quy trình thực hiện nội dung đào tạo và cách thức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập và toàn bộ các vấn đề của bản thiết kế này được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ
Có cùng quan điểm về chương trình, Raph Tyler cho rằng chương trình
phải bao gồm 4 yếu tố cơ bản sau: 1) Mục tiêu đào tạo; 2) Nội dung đào tạo; 3) Phương pháp hay quy trình đào tạo; và 4) Đánh giá kết quả đào tạo Và tương
tự, bất luận định nghĩa thế nào về chương trình, tác giả Kell cho rằng chương
trình giáo dục cũng cần có 4 yếu tố cấu thành: 1) Ý định của người xây dựng chương trình; 2) quy trình thực hiện ý định đó; 3) Kinh nghiệm, kiến thức mà người dạy cung cấp cho người học trong khi thực hiện ý định thiết kế của người thiết kế chương trình; và 4) Một sản phẩm phụ của chương trình giáo dục được thể hiện qua khả năng học tập “ẩn” (hidden) của người học
Nhiều tác giả đưa ra định nghĩa về chương trình (curriculum) của riêng
người học với sự nhấn mạnh các ý nghĩa của từ này ở mức khác nhau Theo
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Portelli (1987), hơn 120 định nghĩa về thuật ngữ này đã xuất hiện trong các tài liệu chuyên ngành về chương trình giáo dục Việc quan niệm thế nào về chương trình giáo dục không phải đơn thuần là vấn đề định nghĩa về chương trình mà
nó thể hiện rõ quan điểm của mỗi người về giáo dục.[2]
đã đặt ra đối mục tiêu giáo dục Chương trình dạy học thể hiện mục tiêu mà người học đạt được trong một khoảng thời gian xác định, đồng thời xác định rõ nội dung học tập, các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập cũng như những điều kiện khác nhằm đạt được các mục tiêu đào tạo đã đề ra
1.2.2 Chương trình phổ thông tổng thể, chương trình dạy học địa phương, chương trình dạy học nhà trường, chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên
1.2.2.1 Chương trình phổ thông tổng thể
Để triển khai việc xây dựng chương trình theo tinh thần Nghị quyết 29 của Trung ương Đảng và quy định của các Luật, các Nghị quyết, Quyết định của Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ, ngày 06/6/2017, Bộ trưởng Bộ GDĐT đã ban hành Thông tư số 14/2017/TT- BGDĐT Quy định tiêu chuẩn, quy trình xây dựng, chỉnh sửa chương trình giáo dục phổ thông; tổ chức và hoạt động của Hội đồng Quốc gia Thẩm định chương trình giáo dục phổ thông Nội dung Thông tư quy định về nội dung chương trình giáo dục phổ thông, nguyên tắc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông, tiêu chuẩn chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, tiêu chuẩn chương trình môn học, quy trình xây dựng chương trình giáo dục phổ thông, quy trình chỉnh sửa chương trình giáo dục
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
phổ thông, tổ chức và hoạt động của Hội đồng Quốc gia Thẩm định chương trình giáo dục phổ thông
Chương trình phổ thông tổng thể là văn bản quy định những vấn đề chung nhất, có tính chất định hướng của chương trình giáo dục phổ thông, bao gồm: quan điểm xây dựng chương trình, mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông và mục tiêu chương trình từng giáo dục của cấp học, yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi của học sinh cuối mỗi cấp học, hệ thống môn học và hoạt động giáo dục, thời lượng của từng môn học, định hướng nội dung giáo dục bắt buộc ở từng cấp học đối với tất cả học sinh trên phạm vi toàn quốc, định hướng về phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục, điều kiện tối thiểu để thực hiện chương trình giáo dục phổ thông
1.2.2.2 Chương trình dạy học địa phương
Chương trình địa phương là chương trình được thiết kế nhằm bổ sung tăng cường cho chương trình chính thức, chú ý đến tính thực tiễn trải nghiệm của người học, gắn bó với cộng đồng Theo đó, người học được đề cao, tích cực tham gia các hoạt động học tập, áp dụng kiến thức với các tình huống thực tiễn, tạo ra mối liên hệ giữa các cá nhân với cộng đồng, nhà trường và cộng đồng
Để thực hiện mô hình mới, cách tổ chức lớp học không chỉ thay đổi về cách sắp xếp vị trí, phân công nhiệm vụ, hợp tác giữa các thành viên mà điều quan trọng nhất là trên cơ sở lí thuyết kiến tạo, mô hình dạy học sẽ được phân ra thành các chủ đề Trong mỗi chủ đề, các đơn vị kiến thức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất, mỗi đơn vị kiến thức đều được hướng dẫn học theo một cấu trúc nhất định gồm các hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm, mối liên hệ tương tác giữa giáo viên và học sinh, gia đình và nhà trường, nhà trường
và cộng đồng
1.2.2.3 Chương trình dạy học nhà trường
Chương trình dạy học nhà trường là chương trình quốc gia được giữ nguyên hoặc điều chỉnh một phần, được lựa chọn và sắp xếp lại, hoặc thiết kế
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
mới với sự tham gia của GV hoặc các bên liên quan cho phù hợp với đối tượng
HS, điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, trong một bối cảnh dạy học cụ thể Chương trình giáo dục của một trường bao gồm những cách thức
mà một trường đưa chương trình giáo dục quốc gia vào ứng dụng thực tế Chương trình giáo dục của một trường cần phải gắn liền với nhu cầu của địa phương cùng với những nguồn lực, ngành nghề ưu tiên do lợi thế so sánh vùng miền đặc thù Chương trình nhà trường cần được thiết kế theo sự tư vấn của hội đồng trường
1.2.2.4 Chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên
Chương trình môn học là một bản kế hoạch cho Nhà trường trong đó thể hiện rõ mục tiêu, thời gian, nội dung, cách thức thực hiện, cách kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong một môn học cụ thể, được dựa trên chương trình quốc gia, chương trình nhà trường và kế hoạch hoạt động của nhà trường Chương trình môn học là loại chương trình dạy học mà cấu trúc, nội dung cơ bản được xây dựng hay thiết kế chủ yếu từ các môn học theo các lĩnh vực khoa học tự nhiên, xã hội và kỹ thuật-nghề nghiệp Ví dụ hiện nay phần lớn các chương trình giáo dục ở phổ thông, chuyên nghiệp và đại học là các chương trình được thiết kế theo môn học thích hợp với từng bậc học, cấp học và ngành đào tạo Các môn học có thể là môn học theo một ngành, lĩnh vực khoa học như Ngữ văn, Toán,Vật lý, Hoá, Sinh học, hoặc lĩnh vực kỹ thuật như Vẽ kỹ thuật, điện
kỹ thuật, cơ kỹ thuật Cũng có các mô học tổ hợp như môn tự nhiên và xã hội ở Bậc Tiểu học; Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở v.v Thông thường các chương trình môn học sử dụng theo học chế năm học (niên chế ) ở giáo dục phổ thông là theo các lớp trong từng bậc, cấp học
Môn khoa học tự nhiên là môn học được xây dựng và phát triển trên nền tảng của các môn Vật lý, Hoá học, Sinh học và Khoa học trái đất
Chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên là chương trình dạy học tích hợp kiến thức của các môn Vật lý, Hoá học, Sinh học và Khoa học trái đất,
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
bao gồm tất cả các hoạt động được tổ chức theo một bản thiết kế tổng thể có hệ thống mà người học cần thực hiện cho một khóa học hay một trình độ đào tạo nhằm hình thành và phát triển ở người học những năng lực cần thiết đáp ứng nhu cầu của bản thân trong cuộc sống và yêu cầu về nhân lực của xã hội đã đặt
ra đối mục tiêu giáo dục
1.2.3 Phát triển, phát triển chương trình, phát triển chương trình dạy học
1.2.3.1 Phát triển
Trong thế giới khách quan, mọi sự vật không ngừng vận động nằm trong khuynh hướng chung là sự phát triển Các sự vật hiện tượng đó đều có mối liên
hệ phổ biến và vận động, phát triển không ngừng Sự tồn tại, liên hệ, vận động
và phát triển của sự vật hiện tượng bao giờ cũng xảy ra trong những hoàn cảnh
cụ thể, trong không gian và thời gian xác định Song cùng một sự vật nhưng nếu tồn tại trong điều kiện không gian, thời gian khác nhau thì tính chất của mối liên hệ và sự phát triển của nó cũng khác nhau
Có nhiều quan điểm khác nhau về sự phát triển:
- Phát triển được định nghĩa khái quát trong từ điển Oxford là: “Sự gia tăng dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn ” Trong Từ điển bách khoa của Việt Nam, phát triển được định nghĩa là: “Phạm trù triết học chỉ
ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới ” [17]
Phát triển bao hàm sự tăng trưởng về kinh tế gắn liền với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa - giáo dục, phát triển toàn diện con người, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm ổn định chính trị và giữ vững
an ninh - quốc phòng của Tổ quốc
Như vậy, khái niệm phát triển phải bao gồm các nhân tố kinh tế và xã hội, cũng như các giá trị đạo đức và văn hóa, quy định sự nảy nở và phẩm giá con người trong xã hội Nếu như con người là nguồn lực của phát triển, nếu như con người vừa là tác nhân vừa là người được hưởng, thì con người phải được coi chủ yếu như là mục đích của sự phát triển
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tóm lại, Phát triển chỉ sự trưởng thành, là tất cả các hoạt động tìm kiếm nhằm tạo ra cái mới, có thể làm tăng về số lượng, làm cho tốt hơn về chất lượng hoặc cả hai
1.2.3.2 Phát triển chương trình
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi quan niệm: Phát triển chương trình
là quá trình liên tục làm hoàn thiện chương trình đáp ứng mục tiêu giáo dục ở từng cấp học nói riêng và giáo dục phổ thông nói chung
Như vậy, theo quan niệm này, phát triển chương trình bao hàm cả việc biên soạn hay xây dựng một chương trình mới hoặc cải tiến một chương trình
hiện có Bên cạnh đó, chúng ta sử dụng thuật ngữ “phát triển” chương trình thay cho từ “xây dựng”, “thiết kế” hay “biên soạn” chương trình, vì “phát
triển” bao hàm cả sự thay đổi, bổ sung liên tục Phát triển là một chu trình mà điểm kết thúc sẽ lại là điểm khởi đầu, kết quả là một chương trình mới và ngày càng tốt hơn nữa Các khái niệm khác chỉ có ý nghĩa là một quá trình và kết quả dừng lại khi chúng ta có một chương trình mới
1.2.3.3 Phát triển chương trình dạy học
Từ các khái niệm phát triển, chương trình, chương trình dạy học, phát
triển chương trình, theo chúng tôi : Phát triển chương trình dạy học là một quá trình nhà quản lý không ngừng phản hồi thông tin về chương trình dạy học các môn học để điều chỉnh chương trình cho phù hợp với yêu cầu và thực tế dạy học nhằm hình thành, phát triển ở người học những năng lực cần thiết đáp ứng nhu cầu của xã hội
1.2.3.4 Phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS
Phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS là quá trình cụ thể hóa làm chương trình chung quốc gia phù hợp với thực tiễn của địa phương, năng lực nhận thức của học sinh miền núi trên cơ sở đảm bảo yêu cầu chung của Chương trình quốc gia, đồng thời không
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ngừng cập nhật điều chỉnh chương trình cho phù hợp với yêu cầu và thực tế dạy học; lựa chọn xây dựng nội dung và xác định cách thức thực hiện phản ánh đặc trưng và phù hợp với thực tiễn nhà trường PTDTBT THCS nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của người học, thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
1.3 Một số vấn đề cơ bản về phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS
1.3.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở
Lứa tuổi HS THCS nói chung bao gồm những em có độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi, đang theo học lớp 6 đến lớp 9 ở các trường THCS Lứa tuổi này còn gọi là
„tuổi thiếu niên“, „tuổi khủng hoảng“, là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng đánh dấu bước ngoặt lớn cho các giai đoạn phát triển tiếp theo của trẻ bởi đây là thời
kỳ quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành Điều đó được biểu hiện ở sự phát triển mạnh mẽ, thiếu cân đối về cơ thể, ở sự phát dục và xây dựng lại một cách bài bản các quá trình, các hoạt động tâm lí ở trẻ em, ở sự hình thành kiểu quan
hệ mới của các em với người lớn và bạn bè cùng lứa tuổi Tầm quan trọng của giai đoạn thiếu niên là ở chỗ: Sự phát triển về mọi mặt (thể chất, đạo đức, trí tuệ, xã hội) đều diễn ra sự hình thành những cấu tạo mới về chất, xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành và chúng sẽ tiếp tục được phát triển ở tuổi thanh niên
Bên cạnh những đặc điểm chung của học sinh THCS về sự phát triển tâm
lí trên tất cả các mặt: sự phát triển nhận thức, sự phát triển tự ý thức, giao tiếp, xuất hiện những rung cảm mới mẻ về giới tính HS THCS ở trường PTDTBT còn có một số đặc điểm riêng Các em HS ở trường PTDTBT THCS là người dân tộc thiểu số sống ở khu vực miền núi có điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh
tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn, do điều kiện học tập, giáo dục ở nhà trường bán trú mang tính khép kín nên hình thành ở các em những nét tâm lí riêng nổi bật như:
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Tính thẳng thắn, thật thà và tự trọng cao, hay tự ti, tự ái Các em thường tỏ thái độ chân thật trước những tác động của người khác đối với bản thân mình, ít che giấu cảm xúc Lòng tự trọng cao nên dễ bị tổn thương, nếu bị phê bình nặng nề hay bị dư luận bạn bè chê cười có thể bỏ học
- Các em thường ít nói, kỹ năng giao tiếp còn chậm, hay e dè và dễ xấu
hổ, thiếu tự tin nhất là đối với người lạ
- Tính kỷ luật thấp, lập trường tư tưởng chưa rõ ràng, các em bị ảnh hưởng mạnh mẽ từ bạn bè, dễ bị bạn bè lôi kéo, một học sinh bỏ học có thể rủ thêm vài bạn khác bỏ học theo hoặc nghỉ học đi nương, đi làm
- Tác phong còn chậm chạp, còn bị ảnh hưởng nhiều bởi các phong tục tập quán lạc hậu hay những suy nghĩ, tư tưởng của bố mẹ, thiếu ước mơ và hoài bão
- Tin tưởng và yêu mến tuyệt đối đối với những người mà các em yêu quý như các thầy cô giáo ân cần được các em quý trọng, các bạn bè thân thiết
- Các kỹ năng học tập còn nhiều hạn chế, khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát phát triển chậm, khả năng tư duy nói chung chỉ ở mức trung bình làm cho các em trở nên thụ động trong việc tiếp nhận các tác động giáo dục, thiếu chủ động, sáng tạo
- Các em có những ưu điểm về thể chất, yêu lao động, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, có những kỹ năng lao động cơ bản, có thiên hướng hình thành tri thức thói quen bằng con đường kinh nghiệm và thao tác tư duy cụ thể, trực quan
Trong công tác giáo dục nói chung và công tác HN nói riêng, các nhà quản lí, các cán bộ giáo viên ở trường PTDTBT THCS cần tìm hiểu và nắm vững các đặc điểm tâm lí chung cũng như các đặc điểm tâm lí riêng của HS, quan tâm đến các yếu tố địa phương, vùng miền, hoàn cảnh gia đình để có những tác động HN phù hợp HĐHN ở trường PTDTBT THCS không thể thành công nếu không quan tâm đúng mức đến các yếu tố về đặc điểm tâm sinh
lí của HS người dân tộc thiểu số ở trường THCS
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.3.2 Mục tiêu của phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên
ở các trường PTDTBT THCS
Phát triển Chương trình môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, bởi trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã xác định: Cùng với các môn học khác, môn Khoa học tự nhiên góp phần thực hiện mục tiêu của giáo dục phổ thông, giúp học sinh phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần; trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động
có văn hoá, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới.[15]
Phát triển Chương trình môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS góp phần chủ yếu trong việc hình thành và phát triển thế giới quan khoa học của học sinh; đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục học sinh phẩm chất tự tin, trung thực, khách quan, tình yêu thiên nhiên, nắm được, tôn trọng
và biết vận dụng các quy luật của tự nhiên, để từ đó biết ứng xử với thế giới tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững giáo dục vùng học sinh dân tộc thiểu số
Phát triển Chương trình môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS hình thành và phát triển cho học sinh dân tộc những năng lực chung: năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo; góp phần hình thành và phát triển một số năng lực khác như: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực công nghệ, năng lực tin học; góp phần phát triển năng lực học tập suốt đời và phát triển cho học sinh năng lực tìm hiểu tự nhiên
Chương trình khoa học tự nhiên phải luôn đổi mới để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống hiện đại Do vậy mỗi nhà trường THCS cần phải liên tục cập nhật những thành tựu khoa học mới, phản ánh được những tiến bộ của các
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ngành khoa học, công nghệ và kỹ thuật đặc biệt là phát triển chương trình dạy học ở các trường PTDTBT THCS phù hợp với đặc thù năng lực nhận thức của học sinh dân tộc ở các trường PTDTBT THCS Từ đó đòi hỏi chương trình môn Khoa học tự nhiên phải tinh giản các nội dung có tính mô tả để tổ chức cho học sinh tìm tòi, nhận thức các kiến thức khoa học có tính nguyên lý, cơ sở cho quy trình ứng dụng khoa học vào thực tiễn cuộc sống
1.3.3 Nội dung phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS
1.3.3.1 Chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS
A Chủ đề khoa học chủ yếu của chương trình
a) Chất và sự biến đổi của chất: chất có ở xung quanh ta, cấu trúc của chất, chuyển hoá hoá học các chất
b) Vật sống: Sự đa dạng trong tổ chức và cấu trúc của vật sống, các hoạt động sống, con người và sức khoẻ, sinh vật và môi trường, di truyền, biến dị và tiến hoá
c) Năng lượng và sự biến đổi: năng lượng, các quá trình vật lí, lực và sự chuyển động
d) Trái Đất và bầu trời: chuyển động trên bầu trời, Mặt Trăng, hệ Mặt Trời, Ngân Hà, hoá học vỏ Trái Đất, một số chu trình sinh – địa – hoá, Sinh quyển
Các chủ đề được sắp xếp chủ yếu theo logic tuyến tính, có kết hợp ở mức độ nhất định với cấu trúc đồng tâm, đồng thời có thêm một số chủ đề liên môn, tích hợp nhằm hình thành các nguyên lí, quy luật chung của thế giới tự nhiên[2]
B Các nguyên lý chung của môn khoa học tự nhiên
a) Các nguyên lý chung: Tính cấu trúc; Sự đa dạng; Sự tương tác; Tính
hệ thống, Sự vận động và biến đổi
b) Các nguyên lý chung, khái quát của khoa học tự nhiên là nội dung cốt lõi của môn KHTN Các nội dung vật lý, hoá học, sinh học, Trái Đất và bầu trời
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
được tích hợp, xuyên suốt trong các nguyên lí đó Các kiến thức vật lý, hoá học, sinh học, Trái Đất và bầu trời là những dữ liệu vừa làm sáng tỏ các nguyên lí tự nhiên, vừa được tích hợp theo các logic khác nhau trong hoạt động khám phá tự nhiên, trong giải quyết vấn đề công nghệ, các vấn đề tác động đến đời sống của cá nhân và xã hội Hiểu biết về các nguyên lý của tự nhiên, cùng với hoạt động khám phá tự nhiên, vận dụng kiến thức khoa học tự nhiên vào giải quyết các vấn đề của thực tiễn là yêu cầu cần thiết để hình thành và phát triển năng lực khoa học tự nhiên ở HS Sự phù hợp của mỗi chủ đề vật lý, hoá học, sinh học, Trái Đất và bầu trời với các nguyên lý chung của khoa học được lựa chọn ở các mức độ khác nhau Có nguyên lý cần được thể hiện ở mức độ phù hợp cao, nhưng cũng có nguyên lý chỉ thể hiện ở mức độ thấp [2]
C Quan điểm xây dựng chương trình môn khoa học tự nhiên
Chương trình môn Khoa học tự nhiên cụ thể hoá những mục tiêu và yêu cầu của Chương trình tổng thể, đồng thời nhấn mạnh các quan điểm sau:
* Dạy học tích hợp
Chương trình môn Khoa học tự nhiên được xây dựng dựa trên quan điểm dạy học tích hợp Khoa học tự nhiên là một lĩnh vực thống nhất về đối tượng, phương pháp nhận thức, những khái niệm và nguyên lí chung nên việc dạy học môn Khoa học tự nhiên cần tạo cho học sinh nhận thức được sự thống nhất đó Mặt khác, định hướng phát triển năng lực, gắn với các tình huống thực tiễn cũng đòi hỏi thực hiện dạy học tích hợp Chương trình môn Khoa học tự nhiên còn tích hợp, lồng ghép một số nội dung giáo dục như: giáo dục kĩ thuật, giáo dục sức khoẻ, giáo dục bảo vệ môi trường, phát triển bền vững,…
* Kế thừa và phát triển
Chương trình môn Khoa học tự nhiên bảo đảm kế thừa và phát triển những ưu điểm của các chương trình môn học đã có của Việt Nam, đồng thời tiếp thu kinh nghiệm xây dựng chương trình môn Khoa học tự nhiên của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới; bảo đảm kết nối chặt chẽ giữa các lớp học với nhau và liên thông với chương trình các môn Tự nhiên và Xã hội, Khoa học
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ở cấp tiểu học, Vật lí, Hoá học, Sinh học ở cấp trung học phổ thông và chương trình giáo dục nghề nghiệp
* Giáo dục toàn diện
Chương trình môn Khoa học tự nhiên góp phần hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực học sinh thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, thể hiện tính toàn diện, hiện đại và cập nhật; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống; thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh; các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục Chương trình bảo đảm sự phát triển năng lực của học sinh qua các cấp học, lớp học; tạo thuận lợi cho việc chuyển đổi giữa các giai đoạn trong giáo dục; tạo cơ sở cho học tập suốt đời
* Kết hợp lí thuyết với thực hành và phù hợp với thực tiễn Việt Nam Thông qua hoạt động thực hành trong phòng thực hành và trong thực tế, chương trình môn Khoa học tự nhiên giúp học sinh nắm vững lí thuyết, đồng thời có khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng khoa học tự nhiên vào thực tiễn đời sống
Môn Khoa học tự nhiên quan tâm tới những nội dung kiến thức gần gũi với cuộc sống hằng ngày của học sinh, tăng cường vận dụng kiến thức, kĩ năng khoa học vào các tình huống thực tế; góp phần phát triển ở học sinh khả năng thích ứng trong một thế giới biến đổi không ngừng
Chương trình môn Khoa học tự nhiên bảo đảm tính khả thi, phù hợp với các nguồn lực để thực hiện chương trình như giáo viên, thời lượng, cơ
sở vật chất,… [2]
D Mục tiêu chương trình
Môn Khoa học tự nhiên hình thành, phát triển ở học sinh năng lực khoa học tự nhiên, bao gồm các thành phần: nhận thức khoa học tự nhiên, tìm hiểu tự nhiên, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học; đồng thời cùng với các môn học và
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
hoạt động giáo dục khác góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu
và năng lực chung, đặc biệt là tình yêu thiên nhiên, thế giới quan khoa học, sự
tự tin, trung thực, khách quan, thái độ ứng xử với thế giới tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động có văn hoá, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân
và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hoá
và cách mạng công nghiệp mới
1.3.3.2 Phát triển mục tiêu dạy học môn khoa học tự nhiên
- Phát triển chương trình dạy học cần xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của người học và các yếu tố liên quan đến hoạt động dạy học ở nhà trường Cần nghiên cứu phân tích đặc điểm học sinh người DTTS ở các trường PTDTBT THCS, từ điều kiện thực tế của địa phương nơi trường để thiết kế, xây dựng chương trình dạy học
- Xây dựng chương trình dạy học theo định hướng mục tiêu học tập (Bloom) Các chương trình không chỉ bao hàm mục tiêu học tập mà còn phản ánh cả các khía cạnh nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức học tập, kiểm tra đánh giá v.v
- Phát triển các chương trình dạy học mở, tạo điều kiện thường xuyên cập nhật tri thức, kỹ năng mới và khuyến khích sự sáng tạo của giáo viên Thực hiện đánh giá thường xuyên và kiểm định chương trình dạy học sao cho phù hợp với nhu cầu của người học
- Chú trọng yêu cầu phát triển năng lực thực hành, giảm bớt các tri thức hàn lâm, tăng cường năng lực hành động và thích ứng nhanh với sự phát triển của khoa học kỹ thuật [2]
1.3.3.3 Phát triển nội dung chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên
Nội dung dạy học là một thành phần cơ bản của chương trình dạy học, bao gồm hệ thống các kiến thức, kỹ năng về chuẩn mực thái độ, đạo đức được phản ánh trong các môn học, phần học và các hoạt động giáo dục tương ứng với các cấp, bậc học và loại hình đào tạo
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Xác định rõ nội dung chính (lõi), các hoạt động và trình tự sắp xếp chúng trong kế hoạch thực hiện bài giảng;Dự tính thời gian thực hiện các nội dung hoặc các hoạt động phù hợp và lựa chọn các hình thức tổ chức, phương pháp dạy học cùng các phương tiện dạy học tương ứng, phù hợp với đặc thù môn khoa học tự nhiên, các nội dung dạy học và các hoạt động khác; Bảo đảm tính đồng bộ, phù hợp giữa nội dung - thời gian - phương pháp dạy - học, hình thức
tổ chức và phương tiện sử dụng trong toàn bộ quá trình thực hiện bài giảng nói chung và từng phần bài giảng nói riêng
Nội dung giảng dạy trong chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên bao gồm hệ thống tri thức về thuộc lĩnh vực Vật lý, Hoá học, Sinh học và Khoa học trái đất và kỹ năng cũng như các chuẩn mực giá trị xã hội và được chọn lọc, tổ chức, sắp xếp thành các chương, mục hoặc các bài học trong chương trình
Nội dung chương trình dạy học, bài giảng cần ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu (cả về hệ thống tri thức lý thuyết cũng như kỹ năng thực hành) bảo đảm mối liên hệ và tính lôgíc của các nội dung dạy học, sát với thực tiễn đời sống Đa dạng hóa các nguồn thông tin về nội dung dạy học
Phát triển nội dung chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên là việc nghiên cứu, xem xét chương trình dạy học có phản ánh được mục tiêu dạy học
cụ thể của nhà trường trên cơ sở nội dung dạy học, đồng thời CTDH có phù hợp với đối tượng người học ở địa phương, chẳng hạn như HS người DTTS, có đáp ứng được các nhu cầu về chất lượng nguồn nhân lực của xã hội hay không
để từ đó điều chỉnh chương trình dạy học đảm bảo tính mềm dẻo, được cập nhật thường xuyên
1.3.3.4 Phát triển việc tổ chức thực hiện chương trình dạy học môn khoa học
tự nhiên
Chương trình dạy học được thực hiện theo các môn học, phần học hoặc các mô đun với quỹ thời gian và quy trình xác định toàn khoá nên cần lập kế hoạch dạy học trong đó xác định rõ chương, bài học hoặc các phần mục, các
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
hoạt động trong khuôn khổ của chương trình, trình tự môn học và phân phối thời gian chi tiết cho từng giai đoạn (lớp, học kỳ, năm học v.v); nêu các yêu cầu về đối tượng, phạm vi thực hiện, các điều kiện tổ chức triển khai thực hiện, phương pháp dạy học, các nguồn lực bảo đảm về cơ sở vật chất, tài liệu dạy - học, phương tiện, đội ngũ Đặc biệt, hướng dẫn thực hiện chương trình cần nêu
rõ các yêu cầu về tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học trong toàn bộ quá trình dạy - học và kết thúc quá trình dạy học
Phát triển việc tổ chức thực hiện chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên là việc rà soát và điều chỉnh những yêu cầu, hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình dạy học cho phù hợp với chương trình mới, gắn với tính chất, đặc thù của cấp học, đối tượng người học để nâng cao chất lượng của việc sử dụng chương trình mới, từ đó nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường
1.3.4 Quy trình thực hiện phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS
Quy trình xây thực hiện phát triển chương trình dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS cần thực hiện theo 8 bước sau:
Bước 1: Thành lập nhóm biên soạn chương trình
+ Thành lập nhóm biên soạn chương trình: Việc thành lập nhóm biên
soạn chương trình cho các môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS do cấp trường ra quyết định trực tiếp hoặc trên cơ sở đề xuất của bộ phận chuyên môn
+ Thành phần nhóm biên soạn chương trình môn học gồm: Giáo viên cốt
cán về lĩnh vực của môn khoa học tự nhiên ở các trường PTDTBT THCS, tổ trưởng, Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, ngoài ra có thể mời thêm các chuyên gia sư phạm, lý luận dạy học và cán bộ chuyên môn phòng giáo dục
Bước 2: Tổ chức hội thảo lần 1
Trưởng nhóm biên soạn chương trình tổ chức hội thảo lấy ý kiến đóng góp của chuyên gia môn học, của cán bộ quản lý giáo viên thống nhất về mục
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đích, mục tiêu, nội dung môn học, cấu trúc chương trình môn học, kế hoạch thời gian, cách thức triển khai, các điều kiện cần thiết để triển khai thực hiện và giao nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên nhóm biên soạn
Bước 3: Đề xuất dự thảo chương trình môn học
Trên cơ sở ý kiến đóng góp của hội thảo lần 1, các thành viên nhóm soạn thảo triển khai công việc đã được phân công, trưởng nhóm tổng hợp các kết quả công việc của các thành viên, dự thảo bản CTMH
Bước 4: Tổ chức khảo sát ý kiến về bản dự thảo
Trưởng nhóm biên soạn chương trình chỉ đạo việc triển khai khảo sát ý kiến cho bản dự thảo chương Phiếu khảo sát cần được thiết kế kỹ lưỡng, bám sát các mục cấu trúc chương trình, nội dung chương trình, học liệu, kiểm tra – đánh giá Nhóm biên soạn tổng hợp ý kiến khảo sát, chỉnh sửa bổ sung cho bản
dự thảo chương trình, đưa ra bản dự thảo lần 2
Bước 5: Tổ chức hội thảo lần 2
Trưởng nhóm biên soạn chương trình tổ chức hội thảo lần 2 với qui mô rộng hơn lấy ý kiến đóng góp của các của chuyên gia môn học, của cán bộ quản lý giáo viên có chuyên ngành đào tạo về bản dự thảo chương trình lần 2 Thảo luận thống nhất ý kiến về mục tiêu, chuẩn đầu ra của môn học, nội dung, thời lượng cho từng hình thức tổ chức dạy học, hình thức kiểm tra – đánh giá v.v… học liệu cần thiết cho môn học
Bước 6: Hoàn thiện chương trình môn học
Tiếp thu ý kiến đóng góp của hội thảo, nhóm biên soạn chương trình đối chiếu mục tiêu của môn học, rà soát lại toàn bộ chương trình, chỉnh sửa bổ sung, hoàn thiện Nhóm biên soạn chương trình hoàn tất bản chính thức chương trình môn học, cùng các hồ sơ liên quan cần thiết trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
Bước 7: Thẩm định và ban hành chương trình
Phó hiệu trưởng đề nghị chương trình môn khoa học tự nhiên đã được hoàn chỉnh lên cấp trường để thẩm định và Hiệu trưởng ra quyết định ban hành