Các giải pháp đã sử dụng để nâng cao hiệu quả dạy học Vật lý lớp 8 ở Trường THCS Kỳ Tân, huyện Bá Thước thông qua việc hướng dẫn học sinh phân loại và giải bài tập chương I : Cơ học – Vậ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN VẬT LÝ 8 Ở TRƯỜNG THCS KỲ TÂN, HUYỆN BÁ THƯỚC THÔNG QUA HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHÂN LOẠI VÀ GIẢI BÀI TẬP
CHƯƠNG I : CƠ HỌC - VẬT LÝ 8
Người thực hiện: Lê Văn Trường Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Kỳ Tân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa
SKKN thuộc lĩnh vực( môn): Vật lý
THANH HÓA NĂM 2019
Trang 2MỤC LỤC
1.1 Lí do chọn đề tài Trang 1 1.2 Mục đích nghiên cứu Trang 1 1.3 Đối tượng nghiên cứu Trang 1 1.4 Phương pháp nghiên cứu Trang 1
2.1 Cơ sở lí luận Trang 2 2.2.Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN Trang 2 2.3 Các giải pháp đã sử dụng để nâng cao hiệu quả dạy học Vật
lý lớp 8 ở Trường THCS Kỳ Tân, huyện Bá Thước thông qua việc
hướng dẫn học sinh phân loại và giải bài tập chương I : Cơ học –
Vật lý 8
Trang 4
2.3.1 Dạng bài tập định tính hay bài tập câu hỏi Trang 4
2.4 Hiệu quả của SKNN Trang 14
3.1 Kết luận Trang 15 3.2 Kiến nghị Trang 16
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài :
Trong thực tế dạy học Vật lý thì bài tập Vật lý được hiểu là một vấn đề được đặt ra đòi hỏi phải giải quyết nhờ những suy luận logic những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật các phương pháp Vật lý Hiểu theo nghĩa rộng thì mỗi vấn đề xuất hiện do nghiên cứu tài liệu giáo khoa cũng chính là một bài tập đối với học sinh Sự tư duy một cách tích cực luôn luôn là việc vận dụng kiến thức đã học để giải bài tập
Trong quá trình dạy học môn Vật lý, các bài tập Vật lý có tầm quan trọng đặc biệt Hiện nay để việc thực hiện tốt chương trình sách giáo khoa mới và dạy học theo phương pháp đổi mới có hiệu quả thì việc hướng dẫn học sinh biết phân loại, nắm vững phương pháp và làm tốt các bài tập trong chương trình sách giáo khoa đã góp phần không nhỏ trong việc thực hiện thành công công tác dạy học theo phương pháp đổi mới
Ở chương I: “Cơ học” là một trong những chương quan trọng của chương trình Vật lý lớp 8 nhằm giúp học sinh nắm được kiến thức về: Chuyển động cơ học; Vận tốc; Chuyển động đều – chuyển động không đều; Biểu diễn lực; Sự cân bằng lực – Quán tính; Lực ma sát, Áp suất; Áp suất khí quyển; Lực đẩy Ác – si – mét; Cơ năng…kỹ năng thực hành để rút ra kiến thức mới, vận dụng các định luật để giải bài tập Vì vậy để giúp học sinh nắm vững các kiến thức trong chương này và vận dụng các kiến thức đã học để làm tốt các dạng bài tập Vật lý trong chương I, tôi đã chọn đề tài : “ Hướng dẫn học sinh phân loại và giải bài tập chương I : Cơ học - Vật lý 8 ”để làm đề tài nghiên cứu
1.2 Mục đích nghiên cứu :
Mục đích của tôi khi viết sáng kiến này là nhằm tìm ra những giải pháp chung nhất và hiệu quả nhất trong việc hướng dẫn học sinh phân loại và giải bài tập Đặc biệt chú trọng việc phân loại các dạng bài tập để nâng cao chất lượng học sinh mũi nhọn, học sinh đại trà ở môn phụ trách dạy học Đồng thời tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn trong quá trình công tác ở đơn vị
1.3 Đối tượng nghiên cứu :
Hướng dẫn học sinh phân loại và giải bài tập chương I : Cơ học - Vật lý 8 cho học sinh lớp 8 trường trung học cơ sở Kỳ Tân, huyện Bá Thước
1.4 Phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Tham khảo, nghiên cứu tài liệu hướng dẫn về phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực nói chung và phương pháp, kỹ thuật dạy học sử dụng bản đồ tư duy Tham khảo sách giáo khoa, sách giáo viên, sách chuẩn kiến thức kĩ năng bộ môn Vật lý
- Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát thái độ, mức độ hứng thú học tập của học sinh
- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm dạy và học: Tích lũy các giờ dạy trên lớp, dự giờ đồng nghiệp, đồng nghiệp dự giờ góp ý
- Phương pháp thực nghiệm, áp dụng dạy thử nghiệm trên lớp, so sánh đối chứng
- Phương pháp phân tích: So sánh chất lượng giờ dạy, lực học, mức độ tích
Trang 4cực của học sinh khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm với khi đã áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu :
Phương pháp dạy học là một bộ phận hợp thành của quá trình sư phạm nhằm đào tạo thế hệ trẻ có tri thức khoa học, về thế giới quan và nhân sinh quan, thói quen và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tế
Phương pháp dạy học có mối liên hệ biện chứng với các nhân tố khác của quá trình dạy học Những phương pháp dạy học phải thống nhất biện chứng giữa việc giảng dạy của giáo viên với việc học tập của học sinh Đồng thời góp phần
có hiệu quả vào việc thực hiện tốt các khâu của quá trình dạy học Xác định kế hoạch giáo dục, giáo dưỡng, phát triển bộ môn một cách nhịp nhàng, cụ thể hoá nhiệm vụ dạy học trên cơ sở đặc điểm của học sinh, điều chỉnh kế hoạch dạy học cho sát với diễn biến thực tế, tổ chức và hướng dẫn học sinh học tập ở trên lớp cũng như ở nhà phù hợp với dự định sư phạm
Đối với môn Vật lý ở trường phổ thông, bài tập Vật lý đóng một vai trò hết sức quan trọng, việc hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý là một hoạt động dạy học, là một công việc khó khăn, ở đó bộc lộ rõ nhất trình độ của người giáo viên Vật lý trong việc hướng dẫn hoạt động trí tuệ của học sinh, vì thế đòi hỏi người giáo viên và cả học sinh phải học tập và lao động không ngừng Bài tập Vật lý
sẽ giúp học sinh hiểu sâu hơn những qui luật Vật lý, những hiện tượng Vật lý Thông qua các bài tập ở các dạng khác nhau tạo điều kiện cho học sinh vận dụng linh hoạt những kiến thức để tự lực giải quyết thành công những tình huống cụ thể khác nhau thì những kiến thức đó mới trở nên sâu sắc hoàn thiện và trở thành vốn riêng của học sinh Trong quá trình giải quyết các vấn đề, tình huống
cụ thể do bài tập đề ra học sinh phải vận dụng các thao tác tư duy như so sánh phân tích, tổng hợp khái quát hoá để giải quyết vấn đề, từ đó sẽ giúp giải quyết giúp phát triển tư duy và sáng tạo, óc tưởng tượng, tính độc lập trong suy nghĩ, suy luận Nên bài tập Vật lý gây hứng thú học tập cho học sinh
2.2 Thực trạng của việc hướng dẫn học sinh phân loại và giải bài tập Vật lý
ở trường THCS Kỳ Tân, huyện Bá Thước.
Năm học 2018 – 2019 là năm học Bộ giáo dục và đào tạo tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong các nhà trường phổ thông
Việc đổi mới phương pháp dạy cùng với sự hỗ trợ đắc lực của các phương tiện kĩ thuật đã và đang phần nào đạt được những yêu cầu đặt ra Tuy nhiên, các phương pháp này đòi hỏi mất rất nhiều thời gian, trang thiết bị dạy học trong khi
do điều kiện học tập ở nhà trường còn chưa trang bị được máy chiếu cho tất cả các lớp học và một tiết học trên lớp chỉ có 45 phút thì không đủ thời gian cho các hoạt động
Về phía giáo viên :
Đối với người dạy, đa số giáo viên đều tận tụy với công tác giảng dạy,
chăm lo, quan tâm đến học sinh nhưng vẫn còn những mặt hạn chế sau :
Trang 5- Trong quá trình giảng dạy môn Vật lý giáo viên thường sử dụng phương pháp chia nhóm để học sinh thảo luận và tìm ra kết quả cho câu hỏi và giáo viên thường kết luận đúng, sai và không hướng dẫn gì thêm, việc giảng dạy Vật lý nhất là bài tập Vật lý như thế sẽ không đạt được kết quả cao, vì trong lớp có các đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu, kém nên khả năng tư duy của các
em rất khác nhau, đối với học sinh yếu, kém hay trung bình không thể tư duy kịp
và nhanh như học sinh khá, giỏi nên khi thảo luận các em chưa thể kịp hiểu ra vấn đề và nhất là khi thảo luận nhóm, giáo viên lại hạn chế thời gian hoặc thi xem nhóm nào đưa ra kết quả nhanh nhất thì thường các kết quả này là tư duy của các học sinh khá, giỏi trong nhóm
- Giáo viên chưa thật sự chú trọng đến việc hướng dẫn học sinh phương pháp phân loại và giải bài tập Vật lý
Về phía học sinh:
- Đời sống còn nhiều khó khăn, các em phải lao động hàng ngày ở ngoài ruộng nương và làm nhiều việc phụ giúp gia đình nên ít có thời gian để đọc các tài liệu tham khảo, mở rộng hiểu biết
- Nhà trường xa trung tâm huyện, lại chưa đủ cơ sở vật chất để phục vụ việc dạy học nên các em không có đủ tài liệu để tham khảo Vì vậy chỉ có thể nắm bắt được những gì sách giáo khoa cung cấp
- Học sinh thụ động trong học tập, biểu hiện ngại học, chán học, mất hứng thú với môn Vật lý
- Kỹ năng phân loại và giải bài tập còn yếu
- Học sinh không nhận thức được chiều sâu và sự thú vị của các bài tậpVật lý
- Học sinh không nhận biết được mỗi liên hệ chặt chẽ giữa các đơn vị kiến thức
Kết quả giảng dạy bộ môn Vật lý lớp 8 ở trường THCS Kỳ Tân, huyện Bá Thước học kì I năm học 2015 - 2016 và học kì I năm học 2016- 2017, trước khi
áp dụng đề tài nghiên cứu này là :
Bảng số 1 Kết quả xếp loại học kì 1: năm học 2015 - 2016
và năm học 2016 – 2017
Lớp Năm học Sĩ
số
Xếp loại
Kém
Từ kết quả học tập và qua quan sát trên lớp tôi thấy việc học sinh nhận đúng dạng bài tập để giải còn rất nhiều hạn chế chính vì vậy mà kết quả đạt được còn thấp Nhiều năm tôi trăn trở suy nghĩ phải chăng do cách tổ chức giờ học chưa thực phù hợp, áp dụng phương pháp dạy học chưa phù hợp Xuất phát từ thực tế
đó tôi xin đưa ra một số giải pháp giúp các em có kĩ năng phân loại và giải tập Vật lý tốt hơn Đầu năm học 2017-2018 và năm học 2018-2019 trước khi áp
Trang 6dụng sáng kiến kinh nghiệm tôi tiến hành cho học sinh làm bài khảo sát môn Vật
lý để nắm được trình độ và kiến thức ở hai lớp
Bảng số 2 Kết quả điểm khảo sát đầu năm môn Vật lý của học sinh lớp 8
năm học 2017 - 2018 và năm học 2018 - 2019 :
Năm học
Lớ
số
Xếp loại
2017-2018 8A 27 1 3.7 4 14.8 16 59.3 4 14.8 2 7.4
8B 28 1 3.6 4 14.3 17 60.7 4 14.3 2 7.1 2018-2019 8A 25 1 4.0 5 20.0 13 52.0 4 16.0 2 8.0
8B 25 1 4.0 4 16.0 13 52.0 4 16.0 3 12.0
Từ bảng trên, cùng với thực tế giảng dạy trên lớp, tôi nhận thấy trình độ và kiến thức Vật lý ở các lớp đối chứng (8A) và các lớp thực nghiệm (8B) trong cả hai năm học là gần như tương đương nhau
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để nâng cao hiệu quả dạy học Vật lý lớp 8 ở trường THCS Kỳ Tân, huyện Bá Thước thông qua việc hướng dẫn học sinh phân loại và giải bài tập chương I : Cơ học
2.3.1 Dạng bài tập định tính hay bài tập câu hỏi:
Đó là những bài tập vật lý mà khi giải học sinh không cần tính toán hay chỉ làm những phép toán đơn giản có thể nhẩm được
Bài tập định tính có tầm quan trọng đặc biệt vì nhiều bài tập tính toán có thể giải được phải thông qua những bài tập định tính Vì vậy việc luyện tập, đào sâu kiến thức và mở rộng kiến thức của học sinh về một vấn đề nào đó cần được bắt đầu từ bài tập định tính Đây là loại bài tập có khả năng trau dồi kiến thức
và tạo hứng thú học tập của học sinh
Để giải quyết được bài tập định tính đòi hỏi học sinh phải phân tích được bản chất của các hiện tượng Vật lý Với các bài tập định tính ta có thể chia ra là hai loại: Loại bài tập định tính đơn giản và loại bài tập định tính phức tạp
2.3.1.1 Loại bài tập định tính đơn giản:
Giải bài tập định tính đơn giản học sinh chỉ cần vận dụng một hai khái niệm hay định luật đã học là có thể giải quyết được dạng bài tập này nên dùng
để củng cố, khắc sâu khái niện hay định luật như các ví dụ sau :
Ví dụ 1: Một vật được coi là đứng yên so với mốc khi
A vật đó không chuyển động
B vật đó không dịch chuyển theo thời gian
C vật đó không thay đổi vị trí theo thời gian so với vật mốc
D khoảng cách từ vật đó đến vật mốc không thay đổi
- Hình thức tổ chức hoạt động cho học sinh : Học sinh hoạt động cá nhân
- Với bài tập này giáo viên nên đưa ngay sau khi học sinh học xong bài chuyển động cơ học
+ (Đáp án đúng là C )
Trang 7Ví dụ 2: Trong hình bên, mực chất lỏng ở ba bình ngang nhau Bình 1 đựng
nước, bình 2 đựng rượu, bình 3 đựng thủy ngân Gọi p1, p2, p3 lần lượt là áp suất của các chất lỏng tác dụng lên đáy bình 1,2 và 3 Hãy chọn phương án đúng :
A p1> p2>p3 B p2> p3>p1
C p3> p1>p2 D p2> p1> p3
- Bài tập này sẽ giúp cho học sinh nắm được cách so sánh áp suất tác dụng lên đáy bình khi các bình có cùng điều kiện là chiều cao của cột chất lỏng đựng trong bình là như nhau
- Với bài tập này để đưa ra được phương án trả lời đúng thì học sinh chỉ cần so sánh trọng lượng riêng của : Nước, rượu, thủy ngân
+ Đáp án đúng là : C
2.3.1.2 Dạng bài tập định tính phức tạp :
Đối với các bài tập dạng định tính phức tạp thì việc giải các bài tập này là giải một chuỗi các câu hỏi định tính Những câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải dựa vào việc vận dụng một định luật Vật lý, một tính chất vật lý nào đó Khi giải các bài tập định tính phức tạp này ta thường phân tích ra ba giai đoạn :
+ Phân tích điều kiện câu hỏi
+ Phân tích các hiện tượng vật lý mô tả trong câu hỏi, trên cơ sở đó liên hệ với định luật Vật lý, định nghĩa, một đại lượng vật lý hay một tính chất Vật lý liên quan
+ Tổng hợp các điều kiện đã cho và kiến thức tương ứng để giải
Ví dụ 3: Tại sao khi lên cao nhanh quá, như ngồi trong máy bay, người ta thấy ù
tai ?
- Với nhiều HS để có được câu trả lời chính xác cho câu hỏi này là không đơn giản
- GV: Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu, phân tích đề bài để giúp HS có được câu trả lời đúng đắn
- Hình thức tổ chức hoạt động cho học sinh : Học sinh hoạt động theo nhóm
- GV: Có thể hướng dẫn các nhóm HS bằng cách đưa ra các câu hỏi sau đây :
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
( ?) Càng lên cao thì áp suất khí
quyển càng tăng hay càng giảm ?
- GV : Hướng dẫn học sinh tìm hiểu
về cấu tạo của tai
- GV thông báo : Bình thường áp
suất trong tai giữa sẽ cân bằng với
áp suất khí quyển
- Hình thức hoạt động : Học sinh hoạt động độc lập
- Càng lên cao thì áp suất khí quyển càng giảm
Trang 8(?) Khi lên cao đột ngột thì sẽ xảy ra
hiện tượng gì ?
(?) Khi đó giữa áp suất khí quyển
với áp suất trong tai giữa thì áp suất
nào lớn hơn ? và hiện tượng gì sẽ
xảy ra với màng tai lúc này ?
- Giáo viên : Từ những gợi ý ở trên
yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi đầy
đủ
- Xảy ra hiện tượng mất cân bằng giữa
áp suất tai giữa với áp suất khí quyển
- Khi đó áp suất trong tai giữa sẽ lớn hơn
áp suất khí quyển do đó màng tai bị đẩy
ra phía ngoài
- Học sinh : Khi cơ thể bị đưa nhanh lên cao, áp suất không khí trong tai giữa chưa kịp cân bằng với áp suất khí quyển Màng tai lúc đấy bị đẩy ra phía ngoài và người ta cảm thấy ù tai, đau tai
2.3.2 Dạng bài tập tính toán :
Đó là dạng bài tập muốn giải đựơc phải thực hiện một loạt các phép tính :
- Để làm tốt loại bài tập này giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc kỹ đề, tìm hiểu ý nghĩa thuật ngữ mới (nếu có), nắm vững các dữ kiện đâu là ẩn số phải tìm
- Phân tích nội dung bài tập, làm sáng tỏ bản chất vật lý của các hiện tượng mô
tả trong bài tập
- Xác định phương pháp giải và vạch ra kế hoạch giải bài tập
Đối với bài tập tính toán ta có thể phân làm hai loại: Bài tập tập dượt và bài tập tổng hợp
2.3.2.1 Bài tập tập dượt :
Là loại bài tập đơn giản sử dụng khi nghiên cứu khái niệm, định luật hay một qui tắc vật lý nào đó Đây là loại bài tập tính toán cơ bản giúp học sinh nắm vững hiểu đầy đủ hơn, sâu sắc hơn một định lượng của các bài tập vật lý Dạng bài tập này giáo viên nên để hướng dẫn học sinh củng cố, vận dụng sau bài học
Ví dụ 4 : Một người đi xe đạp xuống một cái dốc dài 120m hết 30s Khi hết dốc,
xe lăn tiếp một quãng đường nằm ngang dài 60m trong 24s rồi dừng lại Tính vận tốc trung bình của xe trên quãng đường dốc, trên quãng đường nằm ngang
và trên cả hai quãng đường
- GV : Hướng dẫn HS đọc, hiểu, phân tích, tóm tắt bài toán và gợi ý HS giải bằng cách đưa ra các câu hỏi sau đây :
- Hình thức tổ chức hoạt động cho học sinh : Học sinh hoạt động cá nhân
Cho biết Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
s1= 120m
t1=30s
s2= 60m
t2=24s
+ Vtb1 = ?
+ Vtb2 = ?
+ Vtb = ?
(?) Tính vận tốc trung bình bằng công thức nào ?
(?) Tính vận tốc trung bình của xe đạp trên quãng đường dốc như thế nào ?
?
- Công thức tính vận tốc trung bình :
Vtb = s t
- Vận tốc trung bình của xe đạp trên quãng đường dốc
là :
Vtb1 = s t11 = 120/30 = 4(m/s)
Trang 9(?) Tính vận tốc trung bình của xe đạp trên quãng đường nằm ngang như thế nào ?
(?) Tính vận tốc trung bình của xe đạp trên cả quãng đường như thế nào ?
- Vận tốc trung bình của xe đạp trên quãng đường nằm ngang là :
Vtb2 = 2
2
s
t = 60
24 =2,5(m/s)
- Vận tốc trung bình của xe đạp trên cả quãng đường là :
Vtb = 1 2
s s
t t = 120 6030 24 = 3,33(m/s)
Ví dụ 5 : Một người thợ lặn ở độ sâu 32m so với mặt nước biển Biết trọng
lượng riêng của nước là 10300N/m3
a Tính áp suất nước biển tác dụng lên thợ lặn
b Khi áp suất nước biển tác dụng lên thợ lặn là 206000N/m2 thì người thợ
lặn đã bơi lên hay lặn xuống ? Tính độ sâu của thợ lặn lúc này ?
- GV : Hướng dẫn HS đọc, hiểu, phân tích, tóm tắt bài toán và gợi ý HS giải bằng cách đưa ra các câu hỏi sau đây :
- Hình thức tổ chức hoạt động cho học sinh : Học sinh hoạt động cá nhân
Cho biết Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
h = 32m
dn = 10300N/m3
a p = ?
b p1=206000N/m2
h1 = ?
- GV : Với các dữ kiện của bài toán để tính được áp suất nước biển tác dụng lên thợ lặn, ta áp dụng công thức nào ?
(?) Hãy so sánh p và p1 và cho biết thợ lặn đang bơi lên hay lặn xuống ?
- GV : Từ đó hãy tính độ sâu hiện tại của thợ lặn
a
- Áp suất nước biển tác dụng lên thợ lặn lên thợ lặn :
p = dn.h = 10300.32 = 329600 (N/m2) b
- p1 < p : Điều đó chứng tỏ thợ lặn đang bơi lên
- Độ sâu của thợ lặn lúc này
là :
p1=206000N/m2
h1 = 1
n
p
d = 20600010300 = 20(m)
Ví dụ 6 : Một quả nặng làm bằng sắt có thể tích 25 cm3 được nhúng chìm trong nước Trọng lượng riêng của nước là 10000 N/m3 Hãy tính lực đẩy Ác - si- mét tác dụng lên vật
- GV : Hướng dẫn HS đọc, hiểu, phân tích, tóm tắt bài toán và gợi ý HS giải bằng cách đưa ra các câu hỏi sau đây :
- Hình thức tổ chức hoạt động cho học sinh : Học sinh hoạt động cá nhân
Cho biết Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
V = 25cm3 - GV : Với các dữ kiện - Áp dụng công thức tính
Trang 10= 0,000025 m3
dn = 10000N/m3
FA = ?
của bài toán để tính được lực đẩy ác – si – mét,
ta áp dụngcông thức nào ?
đẩy Ác – si – mét :
FA= dn.V = 10000.0,000025
= 0,25(N)
2.3.2.2: Bài tập tổng hợp :
Là những bài tập phức tạp mà muốn giải được chúng ta phải vận dụng nhiều khái niệm, nhiều định luật hoặc qui tắc, công thức nằm ở nhiều bài, nhiều mục Loại bài tập này có mục đích chủ yếu là ôn tập tài liệu giáo khoa, đào sâu mở rộng kiến thức giúp các em học sinh thấy được mối quan hệ giữa những phần khác nhau Bài tập dạng này giáo viên cần hướng dẫn cặn kẽ để giúp các đối tượng học sinh trong lớp có thể nắm bắt kịp thời
Ví dụ 7: Một cục đá có thể tích v = 360cm3 nổi trên mặt nước
a Tính thể tích của phần ló ra khỏi mặt nước của cục đá biết khối lượng riêng của cục đá là D = 0,92g/cm3, trọng lượng riêng của nước dn = 10000N/m3
b So sánh thể tích của cục nước đá và phần thể tích nước do cục nước đá tan
ra hoàn toàn
- GV : Hướng dẫn HS đọc, hiểu, phân tích, tóm tắt bài toán và gợi ý HS giải bằng cách đưa ra các câu hỏi sau đây :
- Hình thức tổ chức hoạt động cho học sinh : Học sinh hoạt động theo nhóm
Cho biết Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
V = 360cm3
D = 0,92g/cm3
dn = 10000N/m3
a.Vn = ?
b So sánh V với phần
thể tích nước do cục
nước đá tan ra hoàn
toàn (Vt)
- GV : Yêu cầu học sinh chỉ
ra các lực tác dụng lên cục đá
(?) Khi cục đá nổi và đứng yên thì độ lớn của hai lực này phải như thế nào ? (?) Với các dữ kiện của bài toán đã cho để tính được thể tích phần cục đá nhô ra khỏi cục nước là thì trước hết chúng ta phải tính được những đại lượng nào ? (?) Xác định khối lượng của cục nước đá như thế nào ?
(?) Khi đã biết khối lượng cục nước đá, áp dụng công thức nào để xác định trọng
a
- Các lực tác dụng lên cục
đá gồm : Trọng lực P và lực đẩy ác – si –mét F A
- Khi đó độ lớn của hai lực phải bằng nhau
- Trước hết chúng ta phải tính được khối lượng cục
đá và trọng lượng của cục đá
- Khối lượng của cục nước
đá :
m = V.D = 360.0,92 = 331,2g
= 0,3312kg
- Trọng lượng cục nước đá :
P = 10.m = 10 0,3312 = 3,312 N