SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁPHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG YẾU TỐ VĂN HỌC VÀ HÌNH ẢNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BÀI HỌC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIA
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG YẾU TỐ VĂN HỌC VÀ HÌNH ẢNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BÀI HỌC TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1954
Người thực hiện : Trần Thị Lan
Chức vụ : Giáo viên Đơn vị công tác : Trường THCS Trần Mai Ninh
SKKN thuộc môn : Lịch sử
Trang 31 MỞ ĐẦU.
1.1 Lí do chọn đề tài :
Công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đòi hỏi giáo dục phải đào tạo nhữngcon người phát triển toàn diện, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước Mỗi môn học ở nhà trường với đặc trưng của mình đều phải góp phầnđào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, trong đó có Lịch sử
“ Lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ ; Lịch sử loài người mà chúng tahọc là toàn bộ những hoạt động của con người từ khi xuất hiện đến nay” (SGKLịch sử 6- trang 3- NXB Giáo dục năm 2002)
Như vậy, qua khái niệm trên chúng ta đều thấy rằng : Việc học lịch sử cónét đặc trưng riêng, có cái khó riêng Đó là người học không thể tri giác trựctiếp ; không thể “sờ” hay làm thí nghiệm trong phòng thí nghiệm mà buộc phải
tư duy, phải trừu tượng hóa, khái quát hóa để dựng lại những gì đã diễn ra trongquá khứ, thông qua các sự kiện, niên đại, nhân vật Để làm được điều đó ngoàiviệc sử dụng các nguồn tư liệu sử học (hiện vật, văn tự cổ ) thì việc sử dụngcác tác phẩm văn học cũng có tác dụng rất lớn trong việc “dựng lại lịch sử”
Mặt khác, trong quá trình giảng dạy môn lịch sử, ngoài truyền đạt cho họcsinh kênh chữ, hình ảnh trong sách giáo khoa, giáo viên cần cung cấp thêmnhững hình ảnh ngoài sách giáo khoa hoặc những mẫu chuyện kể về những conngười đã góp phần xây dựng đất nước để có được những thành tựu của hôm nay
mà trong sách giáo khoa không đề cập đến nhằm giúp học sinh hứng thú học tập,phát huy tính tích cực của học sinh, giúp học sinh tư duy và nắm được nội dungkiến thức trọng tâm đã học
Như vậy, giữa tri thức lịch sử và tri thức văn học có mối quan hệ với nhaurất chặt chẽ Để cho bài giảng lịch sử không phải rơi vào tình trạng “khô, khó,khổ”, người giáo viên lịch sử phải linh hoạt sử dụng nhiều phương pháp đổi mớitrong dạy học, trong đó thiết nghĩ sử dụng tài liệu văn học kết hợp với kênh hình
là một trong những phương pháp hữu hiệu, nâng cao chất lượng bài giảng được
tốt hơn Vì vậy, tôi xin trình bày một số vấn đề về việc: “ sử dụng yếu tố văn học và hình ảnh nhằm nâng cao hiệu quả bài học trong dạy học lịch sử Việt
Nam giai đoạn 1945-1954 ”
1.2 Mục đích nghiên cứu :
Những kiến thức lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc từ cổ chí kim đều có tácđộng không chỉ đến trí tuệ mà cả trái tim học sinh Những con người thực, việcthực trong quá khứ sẽ khơi dậy trong học sinh những tư tưởng, tình cảm đúngđắn, mà những tư tưởng, tình cảm này là hành trang tối cần thiết cho thế hệ trẻtrong điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới Song muốn phát huy tốt chứcnăng, nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử trong việc giáo dục học sinh cần phải nângcao hiệu quả bài học Muốn nâng cao hiệu quả bài học người thầy phải biết nêu
ra một số vấn đề có tính hấp dẫn trong nội dung học tập và khơi gợi hứng thúhọc tập của học sinh, khiến họ khát khao muốn biết, kích thích tính tích cực họctập của các em
Trang 4Với việc nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn sẽ góp phần giúp giáoviên có một giờ dạy học có hiệu quả tốt hơn, học sinh lĩnh hội kiến thức tự giác,chủ động, ngày càng yêu thích môn học.
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
“ Sử dụng yếu tố văn học và kênh hình nhằm nâng cao hiệu quả bài học
trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954 ” cho học sinh lớp 9
Trường THCS Trần Mai Ninh- Thành phố Thanh Hóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu: sử dụng phương pháp thu thập thông tin,
phương pháp điều tra khảo sát thực tế
Trang 52 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1 Cơ sở lí luận:
Trong thực tiễn dạy học, các tác phẩm văn học dân tộc cũng như thế giới
có vai trò to lớn đối với việc dạy học lịch sử ở trường THCS Trước hết các tácphẩm văn học bằng những hình tượng cụ thể có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng,tình cảm người đọc, trình bày những nét đặc trưng điển hình của các hiện tượngkinh tế, chính trị những qui luật của của đời sống xã hội Trong khi sáng tác mộttác phẩm nhà văn phải nghiên cứu các tài liệu lịch sử, không ít tác phẩm văn học
tự nó là tư liệu lịch sử
Do đặc điểm lịch sử của dân tộc, tài liệu văn học ở nước ta có khả năngbiểu hiện nội dung lịch sử rất sâu sắc Nó không chỉ có giá trị như những tài liệulịch sử, mà còn phản ánh được bản chất của từng sự kiện lịch sử cụ thể Trong
đó nếu giáo viên biết vận dụng một số câu trích dẫn, câu văn, câu thơ, đoạn trích
để miêu tả tường thuật một sự kiện, một cuộc đời hoạt động của nhân vật, mộtcuộc cách mạng…sẽ làm phong phú tri thức học sinh, giúp học sinh yêu thích,hứng thú say mê học tập môn lịch sử và sẽ làm bớt đi sự khô khan của giờ họcmôn lịch sử
Các tác phẩm văn học khi kết hợp với hình ảnh cụ thể sẽ có tác độngmạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của học sinh, nó giúp học sinh tiếp nhận kiếnthức, khắc sâu kiến thức một cách dễ dàng hơn
Các tác phẩm văn học ra đời vào thời kì diến ra các sự kiện lịch sử sẽ có
ý nghĩa rất lớn đối với việc khôi phục lại hình ảnh quá khứ- Nó làm quá khứ của
sự kiện lịch sử trở nên sống động hơn, chân thật hơn Sự kiện trở nên có sứcsống hơn và thu hút học sinh hơn khi theo dõi bài giảng
Nói tóm lại, khi sự giảng dạy, phân tích có tính chất lý luận không đủ đểhọc sinh hiểu đầy đủ một vấn đề và sự kiện lịch sử thì tài liệu văn học kết hợpvới hình ảnh cụ thể, sinh động sẽ phát huy được tác dụng tích cực của nó Bởi
vì, nhận thức lịch sử không chỉ có một hướng, một nội dung mà là sự kết hợp,
bổ sung sâu sắc giữa cảm thụ và tư duy lý trí, giữa nhận thức cảm tính và nhậnthức lý tính Hiểu được như vậy, người giáo viên lịch sử mới thấy rõ sự cần thiếtcủa tài liệu văn học và kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường THCS hiện nay
2.2.Thực trạng của vấn đề.
Thực trạng của việc dạy và học lịch sử ở nhiều trường học hiện nay, đặcbiệt là bậc học THCS đang gặp rất nhiều khó khăn Đó là tình trạng đại bộ phậnhọc sinh đang “xa lánh” môn Lịch sử, không còn hứng thú với việc học tập mônLịch sử Đây là thực trạng đáng buồn Bởi vì, môn Lịch sử ở trường THCS cóvai trò rất quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và hình thành nhân cách của học sinh
Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng trên, theo tôi có nhiều nguyên nhân như:
Nội dung SGK nặng về lịch sử chiến tranh chống xâm lược, nội dung vềtình hình kinh tế, xã hội, văn hóa được lặp lại ở các cấp học Nhiều thành tựunghiên cứu mới về lịch sử chưa được cập nhật Một số bài trong SGK, đặc biệt
Trang 6là phần lịch sử Việt Nam còn “nặng", mang tính hàn lâm, dung lượng bài chưaphù hợp với thời lượng dạy học Cách trình bày của SGK còn ít kênh hình, tưliệu lịch sử
Bên cạnh đó, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tậpmôn lịch sử chậm đổi mới, chưa thực sự chuyển biến trong ý thức của từng giáoviên và cán bộ quản lý Đổi mới phương pháp dạy học chủ yếu diễn ra trong các
kỳ thi, hội giảng, dự giờ hoặc những đợt kiểm tra, thanh tra của các cấp quản lí.Chưa có nhiều biện pháp để phát huy tính tích cực học tập của học sinh Một bộphận giáo viên chưa chú trọng rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy độc lập
Đặc biệt trong xu thế hiện nay, học sinh chỉ chú trọng học các môn tựnhiên còn các môn xã hội đặc biệt là môn lịch sử gần như không chú ý, chỉ xemđây là môn phụ thì cũng gây tâm lí không nhiệt tình giảng dạy của giáo viên dạylịch sử, tư tưởng “học sinh không học” đã làm cho phần đa các giáo viên chỉcung cấp nội dung bài học theo sách giáo khoa, hoặc đưa ra câu hỏi để các emsuy nghĩ rồi tự soạn bài ra vở xem như hết bài học Việc “học lệch” nặng về các
“môn chính”, xem các “môn phụ” ( mà trong thực tiễn giáo dục không có “mônchính”, “môn phụ” vì các môn đều góp phần như nhau vào giáo dục thế hệ trẻ)
đã gây những hậu quả nghiêm trọng trong việc giáo dục truyền thống dân tộc,lòng tự hào dân tộc, đạo đức, phẩm chất cách mạng nổi bật là lòng yêu nước
Trong các nguyên nhân đó, theo tôi nguyên nhân quan trọng dẫn tới thựctrên là giáo viên dạy sử còn để giờ dạy sử quá khô khan, nặng nề nên thiếu sựthu hút đối với học sinh Do đó, để khắc phục hiện tượng này, theo tôi ngoài việcđổi mới phương pháp, tăng cường sử dụng đồ dùng trực quan thì chúng ta nên
sử dụng nhiều hơn nữa nguồn tài liệu văn học trong giờ học lịch sử để làm bàigiảng thêm sinh động hấp dẫn
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Trong việc dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở, đặc biệt là phần lịch
sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954, tùy thuộc vào nội dung từng phần, từng bài
mà tôi đưa vào bài giảng các loại tài liệu văn học khác nhau như: Văn học dângian, tác phẩm văn học ra đời vào thời kì xảy ra sự kiện lịch sử, Hồi kí cáchmạng Mỗi loại lại có ý nghĩa khoa học riêng do đó, khi sử dụng phải phù hợpvới yêu cầu bài giảng, với từng sự kiện lịch sử mà giáo viên lựa chọn đưa vào
Văn học dân gian là một phần của sáng tác dân gian, phát triển trong đờisống của nhân dân theo phương thức truyền miệng và tập thể Là sáng tác nghệthuật của nhân dân, tác phẩm dân gian phản ánh và biểu hiện đời sống nhân dân,thế giới tinh thần và tình cảm của nhân dân Đó là cuộc sống lao động, những sựkiện, vấn đề của đời sống xã hội, cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dânchống áp bức và cuộc chiến đấu của toàn dân chống ngoại xâm Hiện thực lịch
sử đã được phản ánh trong tác phẩm văn học dân gian như là bộ bách khoa toànthư về đời sống nhân dân Vì lẽ đó, nó là “những hòn ngọc quý”, là vũ khí tinhthần mạnh mẽ của nhân dân Việc sử dụng những câu ca dao, truyền thuyết,truyện cổ tích,… trong một bài giảng sẽ làm tăng sự “cảm thụ lịch sử” cho họcsinh thêm phần tinh tế và sâu sắc hơn
Từ đặc điểm này, tài liệu văn học dân gian đã cơ bản phản ánh được “cáithần” của sự kiện, của mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể
Trang 7Các tác phẩm văn học ra đời vào thời kì diễn ra các sự kiện lịch sử có ýnghĩa rất lớn trong việc khôi phục lại hình ảnh quá khứ- Nó làm cho quá khứcủa sự kiện lịch sử trở nên sinh động hơn, chân thật hơn Sự kiện trở nên vừa cósức sống hơn và thu hút học sinh hơn khi theo dõi bài giảng.
Với ý nghĩa đó, sử dụng văn học kết hợp với kênh hình trong giảng dạyLịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954 được tôi thể hiện qua các bài và ở từngmục cụ thể như sau:
1 Khi dạy bài 24: Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân(1945-1946).
Tiết 1 Mục II Bước đầu xây dựng chế độ mới.
Trước tiên tôi nêu vấn đề: Sau cách mạng Tháng tám thành công, chínhquyền cách mạng còn non trẻ và mới là chính phủ lâm thời Vì vậy, vấn đề xâydựng chính quyền cách mạng được đặt hàng đầu đòi hỏi Đảng ta và Chủ tịch HồChí Minh cần phải giải quyết
Sau đó tôi đặt câu hỏi: Để xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng,Đảng ta đã làm gì? Kết quả và ý nghĩa của việc làm ấy?
Để gợi ý tôi cho các em quan sát các hình ảnh sau:
Trang 8Chủ tịch Hồ Chí Minh- công dân số 1 bỏ phiếu bầu cử QH khóa I
Cử tri ngoại thành Hà Nội bỏ phiếu bầu đại biểu QH khóa I ngày 6/1/1946
Đồng thời đọc cho các em nghe 2 câu thơ của Tố Hữu kêu gọi bầu cử:
Tất cả chúng ta cùng nhau đi bỏ phiếuHãy cử đúng những người đại biểu (Thưa các ông nghị)
Trang 9Dựa vào các hình ảnh và ý thơ, học sinh đễ dàng trả lời câu hỏi tôi nêu:
Để xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch
Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân đi bầu cử Quốc hội Hưởng ứng lời kêu gọi đó,toàn dân ta từ khắp mọi miền đất nước đã tham gia bầu Quốc hội của nước ViệtNam Dân chủ Cộng hòa Dựa vào SGK các em có thể nêu tiếp được kết quả củabầu cử Quốc hội
Sau khi học sinh trả lời tôi kết luận để khắc sâu kiến thức cho các em:Nhiệm vụ xây dựng và củng cố chính quyền là nhiệm vụ quan trọng, bức thiếtcủa cách mạng nước ta sau cách mạng tháng Tám năm 1945 Để giải quyếtnhiệm vụ này, ngày 6-1-1946, toàn dân đã tiến hành Tổng tuyển cử bầu Quốchội trong cả nước Kết quả, hơn 90% cử tri trong cả nước đi bỏ phiếu, bầu được
333 đại biểu khắp Bắc- Trung- Nam vào Quốc hội, tượng trưng cho khối đoànkết dân tộc Đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta được thực hiệnquyền công dân, bầu những đại biểu chân chính của mình vào cơ quan quyền lựccao nhất của Nhà nước Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đã phá tan âm mưuchia rẽ và lật đổ chính quyền cách mạng của kẻ thù, tạo điều kiện tiên quyết banđầu để Đảng ta đấu tranh đưa đất nước nước vượt qua được tình thế “ngàn cântreo sợi tóc” lúc bấy giờ
Đến phần III Diệt giặc đói, giặc dốt và giải quyết khó khăn về tài chính.
Để học sinh trả lời biện pháp diệt giặc dốt, tôi đọc cho học sinh nghe haicâu thơ trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu:
Nhớ sao lớp học i tờĐồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan ”
Và bài ca dao:
Này bà, này mẹ, này chaNày là em ruột, này là em dâu
I tờ chắp tiếng, chắp câuQuanh bàn xúm xít bảo nhau học bài
Kết hợp cho các em quan sát các hình ảnh sau:
Trang 10Sau đó tôi đặt câu hỏi nhận thức cho các em : Lớp học i tờ là gì? Tham gialớp học ấy là ai? Lớp học ấy diễn ra trong điều kiện như thế nào?
HS dễ dàng nêu được: Lớp học i tờ là phong trào bình dân học vụ và tất
Trang 11cả mọi người dân từ già đến trẻ đều tham gia Lớp học diễn ra vào ban đêm dướiánh đèn dầu, ngoài trời
Để nêu lên được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc biết chữ, tôi đọc chohọc sinh nghe tiếp mấy câu ca dao:
Cô kia vừa đẹp vừa giòn
Cô không biết chữ cô còn lấy ai
là một trong những nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết Ngày 8-9-1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ, kêu gọi mọi ngườitham gia phong trào xóa nạn mù chữ với tinh thần “người biết nhiều dạy chongười biết ít, người biết ít dạy cho người chưa biết” Với tinh thần hiếu học củangười dân Việt Nam, dù trong hoàn cảnh khó khăn (
Thể hiện qua các hình ảnh trên: Ban ngày tăng gia sản xuất, buổi tối thamgia lớp học bình dân dưới ánh đèn dầu; lớp học ngoài trời đơn sơ, tự nhiênnhưng vẫn rất đông các em tham gia ) nhưng mọi người dân từ già đến trẻ đềunghiêm túc và hăng hái tham gia phong trào bình dân học vụ để xóa nạn mù chữ
Qua cách thể hiện như thế này, học sinh nắm được biện pháp chính để xóanạn mù chữ của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như tinh thần học tập củangười dân Việt Nam lúc bấy giờ
Tiếp theo, tôi yêu cầu các em dựa vào Sách giáo khoa nêu kết quả cụ thểcủa biện pháp giải quyết nạn dốt
Sau khi học sinh nêu được kết quả: Cuối năm 1946, cả nước có 76.000lớp học, xóa mù chữ cho hơn 2,5 triệu người để tạo không khí sôi nổi cho lớphọc, tôi cho các em nghe tiếp bài ca dao sau thể hiện sinh động quá trình học “itờ” đến kết quả cụ thể:
Lần trước tôi đi sang sông Gặp người con gái ngồi trông con đò Miệng cô nhẩm đọc i tờ Ven sông tiếng sóng vỗ bờ hòa theo
Lần này tôi lại sang sông Cũng cô gái ấy ngồi trông con đò Nhưng cô không đọc i tờ
Mà cô đọc báo khi chờ khách sang!
Với cách làm này, vừa gây được sự chú ý, hứng thú cho học sinh, giúphọc sinh chủ động nắm bắt kiến thức, dễ nhớ bài vừa giáo dục cho học sinhtruyền thống hiếu học của người dân Việt Nam cũng như vai trò tri thức hiện nay
từ đó, các em sẽ nâng cao nhận thức về tầm quan trọng việc học của mình
2 Khi dạy bài 25: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946-1954).