Tuy nhiên, nhìn chung phương pháp dạyhọc Lịch sử vẫn chưa theo kịp với việc cải cách về nội dung, chưa đáp ứng yêu cầuđào tạo, chưa nhận thức đúng đắn, sâu sắc vai trò, vị trí của phương
Trang 1MỤC LỤC
Trang
I MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài……… 1
2 Mục đích nghiên cứu……….……… …2
3 Đối tượng nghiên cứu……… ….……… 2
II NỘI DUNG……… ……… … 2
1 Cơ sở lý luận……… ……….2
2 Thực trạng……….……… … 3
3 Một số biện pháp sư phạm nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 (Lớp 9 - THCS) ….……6
4 Những kết quả đạt được… ……….……….18
III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.…… ……… ……….19
1 Kết luận……… ……….……… 19
2 Kiến nghị……… ……….20
Trang 2
I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Lịch sử là một môn khoa học, việc nghiên cứu giảng dạy lịch sử ở trường Trunghọc cơ sở gắn liền với nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ, phục vụ các chế độ chính trịkhác nhau
Thời Hy Lạp cổ đại, các nhà sử học đã khẳng định “lịch sử là thầy dạy của cuộc sống”, “lịch sử là bó đuốc soi đường đi tới tương lai” Các nhà tư tưởng thời trung đại coi lịch sử là “triết lý của việc noi gương” Trong lịch sử thế giới hiện đại,
nhiều nhà chính trị đồng thời cũng là nhà sử học và họ đã sử dụng tri thức lịch sử
để trị nước, giúp đời
Vì vậy trong các bộ môn ở trường Trung học cơ sở thì môn Lịch sử có một vị trí
vô cùng quan trọng Bởi lịch sử giúp học sinh có được những kiến thức cơ bản, cầnthiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở học sinh thế giớiquan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc, tìnhđoàn kết quốc tế Đồng thời học Lịch sử còn bồi dưỡng năng lực tư duy, hànhđộng và thái độ ứng xử đúng đắn trong cuộc sống cho các em …
Tuy nhiên trong những năm gần đây, vị trí cũng như vai trò của môn Lịch sử lạiđang bị một bộ phận không nhỏ phụ huynh và học sinh thờ ơ xem nhẹ Các emquan niệm Lịch sử là môn phụ, khó thuộc, khó nhớ các sự kiện nên chỉ học phó đểlấy điêm mà thôi
Trước đây, thầy cô chúng ta được trang bị phương pháp truyền thống, đó làtruyền thụ tri thức cho học sinh theo một chiều: Thầy truyền đạt, trò tiếp nhận haynói cách khác chủ yếu thầy đọc, trò chép Với phương pháp giảng dạy này, họcsinh học tập một cách thụ động, thiếu tính độc lập sáng tạo trong quá trình học tập.Ngày nay, mặc dù phương pháp dạy học nói chung, dạy học Lịch sử nói riêng
đã được chú trọng đổi mới, cải tiến nhiều Tuy nhiên, nhìn chung phương pháp dạyhọc Lịch sử vẫn chưa theo kịp với việc cải cách về nội dung, chưa đáp ứng yêu cầuđào tạo, chưa nhận thức đúng đắn, sâu sắc vai trò, vị trí của phương pháp dạy học,chưa tiếp nhận những cơ sở khoa học, lí luận về phương pháp dạy học mà vẫn chủyếu dạy học theo kinh nghiệm truyền thống, cá nhân, chưa chú trọng phát huy tínhtích cực của học sinh
Yêu cầu thực tiễn đặt ra là cần phải đổi mới phương pháp dạy học lịch sửtheo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng,hiệu quả dạy học bộ môn
Vì vậy Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 khoá VIII đãnhấn mạnh:
“ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp Giáo dục và Đào tạo, khắc phục lối truyềnthụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học.Từng bước ápdụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy – họcđảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh …”
Trong đổi mới, việc cải tiến phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực của học sinh có ý nghĩa rất quan trọng
Là một giáo viên dạy học môn Lịch sử ở trường Trung học cơ sở, và cũng làngười được lãnh đạo nhà trường tin tưởng giao nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi,
Trang 3bản thân tôi luôn trăn trở làm thế nào để phát huy tính tích cực của học sinh và bồi
dưỡng tinh thần yêu thích môn học ở từng khóa học, chương, bài học cụ thể….đó
chính là lí do tôi lựa chọn đề tài “Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954” ( Lịch sử 9 Trung học cơ sở), với mong muốn góp phần nhỏ vào việc thay đổi
phương pháp và nâng cao chất lượng bộ môn
2 Mục đích nghiên của đề tài.
Qua nhiều năm giảng dạy môn Lịch sử lớp 9 ở trường Trung học cơ sở, đặc biệt
là từ khi thực hiện thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học tôi nhậnthấy đây là một vấn đề cần thiết, có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao chấtlượng bộ môn, đặc biệt đối với học sinh lớp 9
Trong chương trình Lịch sử lơp 9, phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954gồm có những nội dung cơ bản sau:
Bài 24: Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân(1945-1946)
Bài 25: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống Thực dân Pháp(1946-1950)
Bài 26: Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống Thực dânPháp (1950-1953)
Bài 27: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống Thực dân Pháp xâm lược kết thúc(1953-1954)
3 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 9 trườngTrung học cơ sở của huyện và phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954
4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn dạy học
- Phương pháp điều tra và khảo sát
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, thực hành và thực nghiệm
- Phương pháp thu thập thông tin
II NỘI DUNG.
1 Cơ sở lí luận.
Việc học tập Lịch sử, cũng như học tập bất cứ bộ môn nào ở nhà trường đều nhằmcung cấp kiến thức khoa học, hình thành thế giới quan khoa học, phẩm chất đạođức chính trị cho học sinh
Trong những năm qua khi thực hiện chương trình thay sách giáo khoa, việcđổi mới phương pháp dạy học đã được nhiều người quan tâm và khẳng định vai tròquan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học trong việc nâng cao chất lượngdạy học Bộ môn Lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ sở của khoahọc lịch sử, nên đòi hỏi học sinh không chỉ nhớ mà còn phải hiểu và vận dụng kiếnthức đã học vào cuộc sống Vì vậy cùng với các môn học khác, việc học tập Lịch
sử đòi hỏi phát triển tư duy, thông minh, sáng tạo Đã có quan niệm sai lầm chorằng học Lịch sử chỉ cần học thuộc lòng sách giáo khoa, ghi nhớ các sự kiện - hiệntượng lịch sử là đạt, không cần phải tư duy - động não, không có bài tập thực hành,
… Đây là một trong những nguyên nhân làm suy giảm chất lượng môn học
Trang 4Điều quan trọng nhất trong trong việc đổi mới phương pháp dạy học là l àmthế nào để học phát huy được tính tích cực, chủ động học sinh trong quá trình dạyhọc Từ đó rèn luyện năng lực tư duy, khả năng sáng tạo, phát triển trí tuệ, tríthông minh…của học sinh nói chung, được xem là nhiệm vụ chủ yếu, nhiệm vụquan trọng nhất của quá trình dạy học hiện đại Vì vậy, then chốt của việc đổi mớiphương pháp dạy học là điều chỉnh mối quan hệ giữa tái hiện và sáng tạo, đến việctăng cường các phương pháp sáng tạo nhằm đổi mới tính chất hoạt động nhận thứccủa học sinh trong quá trình dạy học.
Muốn làm được việc này phải thông qua các thao tác tư duy như: Đối chiếu,
so sánh, phân tích, tổng hợp vạch ra dấu hiệu bản chất Quá trình này không tựdiễn ra mà đòi hỏi phải có sự kích thích nhất định cho tư duy Yêu cầu tìm ra bảnchất của sự kiện, hiện tượng quá khứ là những biểu hiện của những nhiệm vụ nhậnthức nảy sinh ra trên cơ sở tri giác Chính các câu hỏi “như thế nào?”, “tại sao?”
sẽ kích thích óc tìm tòi, sự phân tích, so sánh và khái quát hoá của học sinh Nhưvậy, trong các hoạt động nhận thức lịch sử của học sinh (tri giác, nhớ, hình dung,tưởng tượng, tư duy ) thì tư duy có vai trò quan trọng
Việc phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học Lịch sử có ý nghĩaquan trọng
Trước hết, tích cực, độc lập trong nhận thức đặc biệt là trong tư duy sẽ đảmbảo cho các em lĩnh hội sâu sắc và nhớ lâu kiến thức
Thứ hai, phát triển tính tích cực, độc lập trong nhận thức, đặc biệt trong tưduy là phương tiện tốt để hình thành kiến thức, khơi dậy những xúc cảm lịch sử,kích thích hứng thú học tập, tạo cơ sở để giáo dục tư tưởng, tình cảm học sinh
Ngoài ý nghĩa giáo dưỡng, giáo dục, phát triển tính tích cực, độc lập trongnhận thức, đặc biệt trong tư duy còn là phương thức tốt góp phần phát huy cácnăng lực nhận thức, năng lực thực hành, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh nói chung vàrèn luyện các thao tác cũng như chất lượng của tư duy nói riêng
2 Thực trạng.
Trong vài năm gần đây, bộ môn Lịch sử nói chung và môn Lịch sử lớp 9 nóiriêng trong trường Trung học cơ sở đã được chú trọng hơn trước Điều đó đượcthể hiện ở chỗ môn Lịch sử được xếp ngang hàng với các môn khác như Lí ,Hoá… được tổ chức thi tuyển học sinh giỏi các cấp, được cung cấp thêm các trangthiết bị và tài liệu tham khảo phục vụ cho việc daỵ và học
Tuy nhiên qua hơn 10 năm giảng dạy bộ môn này tôi thấy rằng việc dạy họcmôn Lịch sử hiện nay vẫn còn giặp rất nhiều khó khăn, trở ngại, nhất là việc pháthuy tính tích cực của học sinh Điều đó đã dẫn đến chất lượng bộ môn đối với họcsinh lớp 9 khi ra trường là không cao, chưa đáp ứng được yêu cầu giáo dục và mụctiêu đào tạo đặt ra
Thực trạng của vấn đề này tập trung ở những lý do sau:
Thứ nhất: Vẫn tồn tại một quan niệm cố hữu cho rằng môn Lịch sử cũng nhưĐịa lí , Kĩ thuật , Thể dục , GDCD … đều là những môn phụ Điều này được thểhiện việc quan tâm đến chất lượng bộ môn từ cấp lãnh đạo chưa đúng mức Thực
tế có một số trường hiện nay không có giáo viên chuyên sử mà giáo viên chủ yếudạy kẹp nhíp ( Giáo viên Văn , Địa lí, GDCD … phải dạy sử) do đó không đáp ứngyêu cầu của bộ môn, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
Trang 5Thứ hai: Về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập tuy đã được đầu tưnhưng vẫn còn thiếu so với yêu cầu giáo dục hiện nay Tình trạng dạy chay vẫncòn khá phổ biến Trong suốt quá trình học bộ môn từ lớp 6 đến lớp 9 cả thầy vàtrò chưa có điều kiện tham quan các di tích Lịch sử vì không có kinh phí Điều đólàm cho vốn kiến thức của các em chỉ bó gọn trong sách vở và bài giảng
Ngoài ra cách tổ chức một số cuộc thi cử cũng còn nhiều hạn chế, đó là chỉchú trọng về mặt kiểm tra lí thuyết mà coi nhẹ bài tập thực hành, không chú ý đếnviệc phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
Trên cơ sở thực tế trường THCS, tôi nhận thấy được các mặt tích cực và hạnchế của giáo viên và học sinh trong việc dạy và học như sau:
* Về phía giáo viên.
- Tích cực:
Giáo viên đã cố gắng thay đổi phương pháp giảng dạy của mình theo hướngphát huy tính tích cực của học sinh thông qua phương pháp dạy học trực quan,phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp tổng hợp, phương pháp vấn đáp,miêu tả, kể chuyện hoặc nêu đặc điểm của nhân vật…
Giáo viên đã tích cực hướng dẫn cho học sinh thảo luận nhóm, hỗ trợ kiếnthức cho nhau và thông qua hoạt động này những bạn yếu kém được hoạt động tíchcực hơn dưới sự hướng dẫn của giáo viên và các bạn khá, giỏi
Trong quá trình giảng dạy đã kết hợp nhuần nhuyễn các đồ dùng dạy học,khai thác một cách triệt để các đồ dùng và phương tiện dạy học như tranh, ảnh, bản
đồ, sa bàn, mô hình, video, và từng bước ứng dụng công nghệ thông tin trong dạyhọc lịch sử
- Hạn chế:
Mặc dù giáo viên đã cố gắng đổi mới phương pháp dạy học, song nhìn chungvẫn là hoạt động của thầy như: phân tích, đánh giá, giải thích là chủ yếu, còn họcsinh lắng nghe chép bài là phổ biến (80%) hoặc thầy đọc, trò chép Giáo viên chưatích cực hóa hoạt động của học sinh tạo điều kiện cho các em suy nghĩ, chiếm lĩnh
và nắm vững kiến thức mà chỉ học thuộc một cách máy móc theo vở ghi hoặc sáchgiáo khoa
Ở các trường phổ thông hiện nay, giáo viên chỉ tập trung vào các giờ lên lớp,chưa quan tâm đến các hoạt động ngoài lớp
Giáo viên chưa nêu câu hỏi nhận thức đầu giờ, tức là sau khi kiểm tra bài cũ,điều này làm giảm bớt sự tập trung của học sinh ngay từ hoạt động đầu tiên
Một số câu hỏi giáo viên đặt ra khó, học sinh không trả lời được nhưng lạikhông có hệ thống câu hỏi gợi mở nên nhiều khi giáo viên phải trả lời thay cho họcsinh
Nội dung học còn nặng về kiến thức và quá nhiều sự kiện trong từng tiết học,nên dẫn đến phải nhồi nhét kiến thức cho học sinh, không có thời gian rèn luyệncho các em năng lực độc lập, tư duy và lĩnh hội kiến thức Đây là một thực tế đángbuồn hiện nay
Như vậy, việc học sinh không thích học Lịch sử, chưa tích cực trong hoạtđộng học tập nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ phương pháp dạy học của giáoviên Vì vậy, việc đề xuất các biện pháp sư phạm giúp học sinh phát huy tính tíchcực, chủ động của học sinh trong dạy học Lịch sử là vấn đề cấp thiết
Trang 6* Về phía học sinh:
- Tích cực:
Ở trường Trung học cơ sở, đa số học sinh chú ý lắng nghe giảng, tập trungsuy nghĩ trả lời các câu hỏi mà giáo viên đặt ra, các em đã chuẩn bị bài mới ở nhànên tiếp thu nhanh và nắm được nội dung bài học
Đa số học sinh đều tích cực thảo luận nhóm và đạt hiệu quả trong quá trìnhlĩnh hội kiến thức
Học sinh yếu kém đã có nhiều cố gắng và tích cực tham gia các hoạt độngnhư hoạt động nhóm, đọc sách giáo khoa, các em đã mạnh dạn khi trả lời các câuhỏi và ghi nhớ các sự kiện, nhân vật…
- Hạn chế:
Tuy nhiên, một thực tế hiện nay cả phụ huynh và học sinh đều có tâm lý xemmôn lịch sử chỉ là môn học phụ, không được coi trọng như các môn Toán, Lý,Hóa…Mặt khác, nội dung còn quá nặng nề, nên khó thuộc, khó nhớ các sự kiện,hiện tượng, nhân vật lịch sử nên các em không thích học, dẫn đến lười học và chưa
có sự say mê môn Lịch sử, nhiều học sinh không chuẩn bị bài ở nhà, không làm bàitập, trên lớp thiếu tập trung lắng nghe và suy nghĩ Cho nên việc ghi nhớ các sựkiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử còn yếu
Học sinh vẫn thường trả lời các câu hỏi của giáo viên thông qua nhìn sáchgiáo khoa và nhắc lại, chưa có độc lập tư duy Học sinh chỉ trả lời những câu hỏi
dễ, đơn giản như trình bày, còn những câu hỏi như phân tích, so sánh, giải thíchcòn lúng túng, hoặc chỉ trả lời mang tích chất chung chung
+ Qua điều tra, khảo sát chất lượng tại trường Trung học cơ sở, với phươngpháp dạy học truyền thống ( khóa 2014-2015) tôi thu được kết quả như sau:
Ví dụ: Sự kiện nào đánh dấu bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toànquốc chống Thực dân Pháp?
A: Chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947
B: Cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16
C: Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950
Kết quả: 40% chọn đáp án A; 30% chọn đáp án B và 30% chọn đáp án C.Đáp án đúng là C- Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950
Từ kết quả điều tra thực tế chất lượng dạy học và quá trình công tác, bảnthân đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của họcsinh nói chung và lớp 9 trong thực tế giảng dạy ở trường nói riêng Trên cơ sở
Trang 7những nguyên tắc trong dạy học Lịch sử, tôi đưa ra một số biện pháp sư phạmnhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học phần Lịch sử Việt Namgiai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954
3 Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 (Lớp 9 - Trung học cơ sở)
3.1 Kiến thức cơ bản phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954, gồm những nội dung sau:
- Tình hình nước ta sau cách mạng tháng tám năm 1945
- Cuộc kháng chiến toàn quốc chống Thực dân Pháp xâm lược bùng nổ
- Chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947
- Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950
- Kế hoạch của Pháp và Mĩ và cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân
1953-1954 của ta
- Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
- Hiệp định Giơ ne vơ về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.
Trên cơ sở kiến thức cơ bản, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp như sau:
3.2 Sử dụng sách giáo khoa nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.
Sách giáo khoa là tài liệu học tập cơ bản của học sinh, đồng thời cũng là chỗdựa quan trọng, đáng tin cậy của giáo viên trong giảng dạy Làm thế nào để sửdụng tốt sách giáo khoa là vấn đề hết sức quan trọng, bởi vì kết quả của học sinhphụ thuộc phần lớn vào phương pháp sử dụng sách giáo khoa
a Sử dụng sách giáo khoa để chuẩn bị bài giảng.
Việc chuẩn bị bài học là điều kiện quan trọng để hoàn thành tốt nhiệm vụdạy học Việc sử dụng sách giáo khoa chuẩn bị bài giảng là công việc cần thiết chogiáo viên ở mọi lứa tuổi, đặc biệt những người mới vào nghề; phát huy được tínhtích cực trong hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học lịch sử
Khi soạn giáo án, giáo viên cần nghiên cứu nội dung toàn bài trong sáchgiáo khoa, xác định kiến thức cơ bản của bài, hiểu rõ nội dung, tinh thần mà tác giảmong muốn ở học sinh về từng mặt kiến thức, tư tưởng, kĩ năng Khi đã có cáinhìn toàn cục, khái quát, cần đi sâu từng mục nhằm tìm ra kiến thức cơ bản củamục đó, sự liên quan của kiến thức đó với kiến thức toàn bài Không nên dàn đều
về mặt thời gian cũng như khối lượng kiến thức của từng phần mà xác định phầnnào lướt qua, phần nào là trọng tâm Mỗi bài cần phải xác định rõ phần đóng góp
cụ thể về mặt nội dung, thái độ, kĩ năng, kĩ xảo, các khái niệm cần giải thích chohọc sinh hiểu
Ví dụ : Khi dạy bài 27 “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Phápxâm lược kết thúc (1953- 1954) bài gồm có 4 nội dung thì nội dung II là quantrọng nhất, giáo viên kết hợp lược đồ để làm nổi bật nội dung mục này
Trang 8Hoạt động : Tìm hiểu Cuộc tiến
GVKL Pháp tự hào là pháo đài bất
khả xâm phạm, là cái cối xay thịt
HS dựa vào sgk trả lời
II/ Cuộc tiến công chiến lợc Đông - Xuân
1953 - 1954 và chiến dịch lịch sử Điện Biên
- Phơng châm: "Tích cực, chủ động, cơ động,linh hoạt"
- Ta chủ động đánh địch trên 4 hớng: TâyBắc, Trung Loà, Tây Nguyên, Thợng Làonhằm phân tán,tiêu diệt sinh lực địch
- Đợt 2: ( 30/ 3- 24/4) tiến công khu Trungtâm , đồi A1, C1, D1
- Đợt 3: ( 1/ 5 - 7/ 5), tổng công kích thắng
Trang 9* Kết quả: Ta tiêu diệt, bắt sống toàn bộ tên
địch, phá huỷ và thu nhiều phơng tiện chiếntranh
* ý nghĩa:
- Làm phá sản hoàn toàn kế hoạch Na Va
- Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán với ta tạihiệp định Giơ ne vơ
Trong bài dạy thường cú cỏc tranh ảnh, bản đồ … nếu khụng cú bản đồ insẵn thỡ ta phải phúng to bản đồ trong sỏch giỏo khoa để phục vụ bài dạy
Như vậy, sỏch giỏo khoa là điểm tựa để người giỏo viờn xỏc định những kiếnthức cơ bản, xỏc định cỏc khỏi niệm cần hỡnh thành cho học sinh trong giờ học, là
sự gợi ý để lựa chọn phương phỏp dạy học vừa phự hợp với đối tượng, vừa phỏthuy tớnh tớch cực hoạt động độc lập của học sinh
b Sử dụng sỏch giỏo khoa trong quỏ trỡnh dạy học trờn lớp.
Trong quỏ trỡnh học bài ở trờn lớp, học sinh thường theo dừi bài tường thuậtcủa giỏo viờn rồi đối chiếu, so sỏnh với sỏch giỏo khoa, thậm chớ nhiều học sinhkhụng ghi theo bài giảng của giỏo viờn mà lại chộp trong sỏch giỏo khoa Vỡ vậy,bài giảng của giỏo viờn khụng nờn lặp lại ngụn ngữ trong sỏch giỏo khoa mà nờndiễn đạt bằng hiểu biết của mỡnh để học sinh hiểu sõu và nắm vững kiến thức hơn
Vớ dụ: Khi dạy bài 25 "Những năm đầu của cuộc khỏng chiến toàn quốcchống Thực dõn Phỏp xõm lược 1946-1954" ở nội dung I.1 Khỏng chiến toàn quốc
chống thực thực dõn Phỏp xõm lược bựng nổ", giỏo viờn lược thuật lại Lời kờu gọi toàn quốc khỏng chiến của Chủ tịch Hồ Chớ Minh:
Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chỳng ta muốn hoà bỡnh, chỳng ta phải nhõn nhượng Nhưng chỳng ta càng nhõn nhượng, thực dõn Phỏp càng lấn tới, vỡ chỳng quyết tõm cướp nước ta một lần
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dõn quõn!
Giờ cứu quốc đó đến Ta phải hy sinh đến giọt mỏu cuối cựng, để giữ gỡn đất
nước.
Dự phải gian khổ khỏng chiến, nhưng với một lũng kiờn quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dõn tộc ta!
Việt Nam độc lập và thống nhất muụn năm
Khỏng chiến thắng lợi muụn năm
Trang 10Đoạn tường thuật này giúp học sinh có biểu tượng sống động về tinh thầnquyết tâm bảo vệ độc lập, tự do, hòa bình của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta
mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh Qua đó sẽ có tác dụng giáo dục học sinhlòng kính yêu anh bộ đội Cụ Hồ, ý thức trách nhiệm của bản thân trong công cuộcbảo vệ Tổ quốc hôm nay
Một biện pháp nữa thường hay sử dụng ở trên lớp là cho học sinh đọc sáchgiáo khoa rồi tự các em tóm tắt, kể lại những nội dung cơ bản Thông thường đây
là những kiến thức ít phức tạp, không đòi hỏi phải giải thích hay phân tích nhiềucủa giáo viên thì nên sử dụng Đó là các kiên thức về diễn biến của một cuộc khởinghĩa, một trận đánh hay tiểu sử một nhân vật mà các em quen biết
Ví dụ khi dạy bài 26" Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp 1950-1953", ở nội dung I.1.Hoàn cảnh lịch sử mới, giáo viên
cho học sinh đọc sách giáo khoa sau đó gọi một vài học sinh nêu hoàn cảnh lịch sửmới đối với cách mạng ta? sau đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn, phân tích cho các
em tìm hiểu kĩ hơn
Trong sach giáo khoa, phần lớn các bài đều có những đoạn trích chữ nhỏ.Kiến thức được thể hiện trong những đoạn trích này nhiều khi rất quan trọng.Thường nó là nguồn tư liệu làm nổi bật nội dung cơ bản của bài Ví dụ, ở đoạntrích chữ nhỏ trang 106, mục 1 Thực dân Pháp tấn công căn cứ địa kháng chiếnViệt Bắc, thì diễn biến của cuộc tấn công được thể hiện qua đoạn chữ nhỏ Vì vậygiáo viên buộc phải làm rõ cho học sinh nắm được
Bài 27 “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 –1954)”, đoạn trích chữ nhỏ trang 125 ở mục III - Hiệp định Giơnevơ về chấm dứtchiến tranh ở Đông Dương (1954), giáo viên cần làm rõ cuộc đấu tranh trên bànhội nghị diễn ra gay gắt do lập trường các bên trái ngược nhau Phía ta kiên quyếtlập trường độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước ởĐông Dương Phía Pháp – Mĩ tỏ ra thiếu thiện chí, ngoan cố, Pháp vẫn muốn duytrì quyền lợi ở Đông Dương Thậm chí giáo viên còn phải phân tích, bổ sung, nêuthái độ ngoan cố của Pháp – Mĩ: không chịu mời phái đoàn của Lào vàCampuchia, không dám công khai bác bỏ ta nhưng tìm mọi cách phá hoại
Giáo viên cũng có thể cho học sinh đọc đoạn trích chữ nhỏ trong quá trìnhkết hợp giảng bài
Như vậy, những đoạn chữ nhỏ trong sách giáo khoa phải được sử dụng triệt
để Nếu nó đề cập đến những kiến thức khó, phức tạp thì giáo viên lấy làm nguồn
tư liệu dùng để miêu tả hoặc kể chuyện Nếu dễ có thể cho học sinh đọc kiểm trakhả năng cảm thụ, nhận thức của học sinh như thế nào sau khi đọc xong đoạn đó
c Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa học ở nhà.
Do ở nhà học sinh phải học nhiều môn khác nhau, vì vậy việc hướng dẫn tựhọc cho học sinh là khâu quan trọng trong quá trình dạy học Thông thường ở nhà,học sinh chỉ học vở ghi, đọc qua sách giáo khoa mà không biết tự học, vì vậy cầnhướng dẫn các em biết sử dụng sách giáo khoa một cách có hiệu quả
Trang 11Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh học bài cũ và chuẩn bị bài mới Đây
là việc làm rất quan trọng trong hoạt động dạy và học của học sinh Giáo viên phảihướng dẫn học sinh đâu là phần trọng tâm của bài, nhằm giúp học sinh nắm vữngkiến thức cơ bản và tiếp thu kiến thức mới một cách nhanh nhất
Ví dụ: Khi hướng dẫn học ở nhà theo sách giáo khoa Lịch sử, nên hướngdẫn có trọng tâm Ví dụ, ở bài 25 “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toànquốc chống thực dân Pháp (1946 – 1950)”, cần chỉ rõ các sự kiện tiêu biểu củacuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp từ khi bùng nổ đến chiến dịch Biên giớithu – đông 1950 như: tên sự kiện? Thời gian? Kết quả - ý nghĩa? Hoặc ở bài 26 “
Bư c phát tri n c a cu c kháng chi n to n qu c ch ng th c dân Pháp (1951 –ển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 – ủa cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 – ộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 – ến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 – àn quốc chống thực dân Pháp (1951 – ốc chống thực dân Pháp (1951 – ốc chống thực dân Pháp (1951 – ực dân Pháp (1951 –1953)”, giáo viên hư ng d n h c sinh l p b ng niên bi u nh ng th ng l i tiêuẫn học sinh lập bảng niên biểu những thắng lợi tiêu ọc sinh lập bảng niên biểu những thắng lợi tiêu ập bảng niên biểu những thắng lợi tiêu ảng niên biểu những thắng lợi tiêu ển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 – ững thắng lợi tiêu ắng lợi tiêu ợi tiêu
bi u c a quân dân ta trên các m t tr n quân s , chính tr - ngo i giao, kinh t -ển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 – ủa cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 – ặt trận quân sự, chính trị - ngoại giao, kinh tế - ập bảng niên biểu những thắng lợi tiêu ực dân Pháp (1951 – ị - ngoại giao, kinh tế - ại giao, kinh tế - ến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 –
t i chính trong kháng chi n ch ng th c dân Pháp t sau thu ông 1950 àn quốc chống thực dân Pháp (1951 – ến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 – ốc chống thực dân Pháp (1951 – ực dân Pháp (1951 – ừ sau thu đông 1950 đến đông 1950 đến đông 1950 đếnến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 –n
trư c ông xuân 1953 -1954:đông 1950 đến
Quân sự
Chính trị - ngoại giao
Kinh tế
Văn hóa – giáo dục
Tóm lại, sử dụng sách giáo khoa như thế nào, trong thực tế nó được biểuhiện sinh động ở mỗi cá nhân và tùy thuộc rất nhiều vào sự linh hoạt, sáng tạo củamỗi giáo viên
3.3 Sử dụng hệ thống câu hỏi để phát huy tính tích cực học tập của học
sinh trong dạy học lịch sử.
Để sử dụng tốt hệ thống các câu hỏi trong quá trình dạy học chúng ta cầnlưu ý mấy điểm sau :
- Câu hỏi phải vừa sức, đúng đối tượng, không quá khó hoặc quá dễ
- Mỗi giờ học chỉ nên sử dụng từ 5 đến 7 câu hỏi Sau mỗi chương có câu hỏi bàitập
- Triệt để khai thác các câu hỏi trong SGK kết hợp với câu hỏi sáng tạo
a - Nêu câu hỏi đầu giờ học :
Trước khi cung cấp kiến thức của bài học cho học sinh, giáo viên cần nêungay câu hỏi định hướng cho học sinh Đây là loại câu hỏi khái quát nội dung củabài học, muốn trả lời phải huy động kiến thức của từng bài Tuy nhiên khi nêu câuhỏi không yêu cầu học sinh trả lời ngay mà chỉ sau khi giáo viên cung cấp đầy đủkiến thức thì các em mới trả lời được
Ví dụ : Khi dạy bài 24 "Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dânchủ nhân dân 1945-1946", giáo viên đặt câu hỏi: Tại sao nói sau cách mạng thángtám nước ta ở vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc ? Để trả lời câu hỏi trên chúng tacùng tìm hiểu nội dung bài học hôm nay
Hoặc khi dạy Bài 27 “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kếtthúc (1953 – 1954)”, ở nội dung II, 2 “Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954)