1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giúp học sinh lớp 6 học tốt bộ môn lịch sử ở trường THCS thông qua việc tạo biểu tượng lịch sử trong dạy họ

15 159 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 724 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số học sinh và phụ huynh có thái độ xem thường bộ môn lịch sử, coi đó là môn học phụ, môn học thuộc lòng, không cần đầu tư công sức nhiều, dẫn đến hậu quả học sinh không nắm đựơc nhữ

Trang 1

MỤC LỤC

- MỤC LỤC……… 1

1 MỞ ĐẦU……… 2

- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI……… 2

- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU……… 2

- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU……… 2

- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 2

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM……… 3

2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN……… 3

2.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ……… 4

2.3 CÁC SÁNG KIẾN, CÁC GIẢI PHÁP……… 4

2.4 HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM……… 13

3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ……… 13

- KẾT LUẬN……… 13

- KIẾN NGHỊ……… 14

1 MỞ ĐẦU:

- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

Dạy học lịch sử là dạy những sự gì đã xảy ra trong quá khứ, mỗi bài học đều

có rất nhiều sự kiện và khái niệm lịch sử học sinh phải nhớ và hiểu Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện kỹ năng tư duy Học sinh chỉ học bài nào biết bài đấy, nhớ các kiến thức lịch sử một cách rời rạc và rất nhanh quên

Ngoài ra, do quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của môn lịch sử trong đời sống xã hội Một số học sinh và phụ huynh có thái độ xem thường bộ môn lịch sử, coi đó là môn học phụ, môn học thuộc lòng, không cần đầu tư công sức nhiều, dẫn đến hậu quả học sinh không nắm đựơc những sự kiện lịch sử cơ bản, nhớ sai, nhầm lẫn kiến thức lịch sử là hiện tượng khá phổ biến trong thực tế ở nhiều trường

Trong điều kiện hiện nay, việc giảng dạy và học tập bộ môn lịch sử vẫn còn nhiều bất cập như: Chương trình sách giáo khoa khá nặng nề, quá tải về kết cấu các nội dung, về thời lượng của chương trình Chương trình còn nặng về lí thuyết mà rất ít số tiết thực hành và ôn tập Trong mỗi bài dạy lại có quá nhiều sự kiện làm cho học sinh ít hứng thú học lịch sử vì khó nhớ, khó thuộc

Qua nhiều năm giảng dạy lịch sử , bản thân tôi luôn trăn trở để tìm ra những phương pháp giúp học sinh hứng thú học tập bộ môn hơn và đạt kết quả cao hơn Một trong những phương pháp có hiệu quả tôi đã thực hiện gây hứng thú học tập cho học sinh đó là dạy học thông qua việc tạo biểu tượng lịch sử Trên cơ sở đó,

bản thân tôi đã chọn đề tài nhỏ về đổi mới phương pháp dạy học: “Giúp học sinh

Trang 2

lớp 6 học tốt bộ môn Lịch sử ở trường THCS thông qua việc tạo biểu tượng lịch

sử trong dạy học”.

- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Nghiên cứu về việc tạo biểu tượng lịch sử trong quá trình dạy học cho học sinh lớp 6 nhằm để tiết dạy thêm phong phú đa dạng và gây được hứng thú học tập

bộ môn đối với học sinh, giúp các em tích cực học tập, chủ động lĩnh hội kiến thức lịch sử thế giới nói chung và lịch sử dân tộc nói riêng, đồng thời các em yêu thích hơn về bộ môn lịch sử Qua đó góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng của dân tộc và biết quý trọng những giá trị tinh hoa của nhân loại

- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Đối tượng nghiên cứu: Tạo biểu tượng lịch sử trong dạy học bộ môn Lịch sử

6 ở trường THCS Ngọc Liên - Ngọc Lăc - Thanh Hóa nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh

- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

+ Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đọc và nghiên cứu tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như tài liệu về phương pháp dạy học lịch sử, tâm lí học, giáo dục học; tài liệu về lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam, lịch sử địa phương… Sưu tầm các tranh ảnh, hiện vật, mẫu chuyện có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

+ Phương pháp điều tra xã hội học: Thông qua dự giờ, quan sát, trao đổi với đồng nghiệp, lập phiếu điều tra, đàm thoại, tìm hiểu thực trạng học sinh về vấn đề nghiên cứu, xử lí số liệu…để đưa ra các phương pháp, biện pháp dạy học thích hợp

+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Áp dụng vấn đề nghiên cứu vào thực tiễn giảng dạy trên lớp để kiểm tra giả thuyết và các biện pháp sư phạm đã đưa ra

+ Phương pháp thống kê: Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện, so sánh kết quả trước

và sau khi áp dụng vấn đề nghiên cứu

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

2.1 Cơ sở lí luận:

Lịch sử là một môn học có tính đặc thù riêng, kiến thức lịch sử là những gì

đã diễn ra trong quá khứ, chính vì thế nhiệm vụ của dạy học lịch sử là khôi phục lại bức tranh quá khứ để từ đó rút ra bài học từ quá khứ, vận dụng nó vào trong cuộc sống hiện tại và tương lai Để khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách sinh động, chân thực thì người giáo viên có thể dùng nhiều phương pháp, phương tiện dạy học khác nhau Trong đó việc tạo biểu tượng lịch sử có ý nghĩa rất quan trọng trong việc học tập lịch sử ở trường phổ thông Biểu tượng nói chung được định nghĩa là những hình ảnh về sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh, được hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy ra trước đó, được giữ lại trong ý thức hoặc là những hình ảnh mới được hình thành trên cơ sở những hình ảnh đã có từ trước Biểu tượng lịch sử là hình ảnh về những sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử…được phản ánh trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất Biểu tượng lịch sử tái hiện những đặc trưng cơ bản nhất của sự kiện, hiện tượng lịch sử Việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh không chỉ dừng lại ở việc miêu tả

bề ngoài mà còn đi sâu vào bản chất sự kiện, nêu ra được đặc trưng tính chất của sự

Trang 3

kiện để tiến tới việc nắm khái niệm lịch sử Như vậy, ý nghĩa to lớn của việc tạo biểu tượng trong dạy học lịch đó là cơ sở để học sinh hình thành các khái niệm lịch

sử Chính vì vậy, nội dung của hình ảnh lịch sử, bức tranh quá khứ càng phong phú bao nhiêu thì hệ thống khái niệm mà học sinh thu nhận được càng vững chắc bấy nhiêu Việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh không chỉ dừng lại ở việc miêu tả

bề ngoài mà còn đi sâu vào bản chất sự kiện, hiện tượng, nêu đặc trưng, tính chất của sự kiện Việc tạo biểu tượng lịch sử có ý nghĩa giáo dục lớn đối với học sinh vì thông qua những hình ảnh cụ thể, sinh động,có sức gợi cảm nó sẽ tác động mạnh

mẽ đến tư tưởng tình cảm của các em

Trong những năm qua khi thực hiện chương trình thay sách giáo khoa, việc đổi mới phương pháp dạy học đã được nhiều người quan tâm và khẳng định vai trò quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học trong việc nâng cao chất lượng dạy học Điều quan trọng nhất trong trong việc đổi mới phương pháp dạy học là thầy dạy thế nào để học sinh động não, làm thay đổi chất lượng hoạt động trí tuệ của học sinh, làm phát triển trí thông minh, trí sáng tạo của các em Hiện nay, trong quá trình dạy học trên lớp, hoạt động trí tuệ chủ yếu của học sinh là ghi nhớ và tái hiện Như vậy, rèn luyện năng lực tư duy, khả năng tưởng tượng, sáng tạo phát triển trí tuệ, trí thông minh…của học sinh nói chung, được xem là nhiệm vụ chủ yếu, nhiệm vụ quan trọng nhất của quá trình dạy học hiện đại Vì vậy, tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử là một yếu tố rất quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy lịch sử ở trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng, đặc biệt

là với đối tượng học sinh đầu cấp THCS(lớp 6) Điều đó giúp học sinh có hứng thú với việc học bộ môn lịch sử, rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo của các em

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

Trong những năm qua, mặc dù chương trình và sách giáo khoa lịch sử đã có thay đổi, nhưng lượng kiến thức trong mỗi bài học vẫn rất nhiều Chính điều đó, trong các tiết dạy của mình đa số các giáo viên dạy học theo kiểu dàn chãi, chạy theo thời gian mà không chú ý tới việc khắc sâu, nhấn mạnh những nội dung kiến thức cơ bản, bản chất của sự kiện lịch sử Hậu quả là đa số học sinh không thể phân biệt được đâu là sự kiện cơ bản quan trọng, không thể hiểu được bản chất của vấn

đề từ đó đẫn tới học sinh sợ môn lịch sử, không có hứng thú với bộ môn này có chăng chỉ là học một cách đối phó Vì thế để khắc phục tình trạng trên, giúp học sinh yêu sử, hứng thú học tập với bộ môn này thì việc dạy học thông qua tạo biểu tượng lịch sử là rất quan trọng

Kết quả khảo sát học tập của học sinh trước khi áp dụng sáng kiến:

Tổng số

HS

2.3 Các sáng kiến, các giải pháp:

Trong dạy học lịch sử, do không trực tiếp quan sát các sự kiện lịch sử nên việc nhận thức nội dung của sự kiện lịch sử được học sinh nhận thức thông qua

Trang 4

việc tạo nên hình ảnh về quá khứ, bắng các hoạt động của các giác quan: thị giác tạo nên những hình ảnh trực quan, thính giác đem lại những hình ảnh về quá khứ thông qua lời giảng, mô tả của giáo viên Việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh

là nhằm tái tạo lại những hình ảnh về sự kiện đúng như nó tồn tại, mà những sự kiện đó học sinh không được trực tiếp quan sát, xa lạ với đời sống hiện nay, với kinh nghiệm và hiểu biết của các em Vì vậy, trong việc tạo biểu tượng, giáo viên phải làm cho các sự kiện lịch sử khách quan xích gần lại với khả năng hiểu biết của các em Bên cạnh đó việc phân loại các biểu tượng lịch sử cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong dạy học lịch sử Theo kinh nghiệm trong những năm dạy học, cụ thể là dạy học Lịch sử lớp 6 tôi đã phân ra các loại biểu tượng lịch sử tạo ra cho học sinh như sau:

- Biểu tượng về nhân vật lịch sử

- Biểu tượng về nền văn hóa vật chất

- Biểu tượng về hoàn cảnh địa lí

- Biểu tượng về hiện tượng lịch sử

- Biểu tượng về các giai cấp trong xã hội

Việc phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối vì các biểu tượng trên không tách rời nhau mà có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một hệ thống trọn vẹn về một bức tranh lịch sử Phân loại biểu tượng lịch sử nhằm giúp giáo viên chủ động trong việc khắc họa sâu về một mặt nào đó của bức tranh lịch sử giúp học sinh khắc sâu hơn các sự kiện, hiện tượng lịch sử

a, Tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử :

Trong các loại biểu tượng thì biểu tượng về nhân vật có vị trí và ý nghĩa quan trọng Nó giúp học sinh hiểu đúng lịch sử, thấy được mối quan hệ giữa cá nhân anh hùng và quần chúng nhân dân trong tiến trình phát triển hợp quy luật của lịch sử dân tộc và thế giới Biểu tượng các nhân vật lịch sử về những tấm gương người thật việc thật có sức thuyết phục đặc biệt đối với học sinh, gây cho các em hứng thú học tập lịch sử, khơi dậy mạnh mẽ những xúc cảm lịch sử đúng đắn, tác động sâu sắc đến tâm tư tình cảm và góp phần hình thành nhân cách học sinh Không dừng ở đó, biểu tượng các nhân vật lịch sử cho phép học sinh lý giải và hiểu sâu sắc nhiều sự kiện, vấn đề lịch sử, góp phần phát triển năng lực nhận thức độc lập ở các em

Ví dụ : Khi dạy bài 20- Bài “Từ sau Trưng Vương đến trước Lý Nam Đế”

khi giảng đến phần 4 “Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu”, giáo viên sử dụng tranh Bà

Triệu cưỡi voi ra trận, thông qua tranh làm nổi bật lên hình ảnh Bà Triệu trong tâm trí học sinh bằng những nét khắc họa sau:

Trang 5

HÌNH ẢNH BÀ TRIỆU CƯỠI VOI RA TRẬN

- Thân thế: Bà Triệu tên thật là Triệu Thị Trinh, em gái Triệu Quốc Đạt- một hào trưởng lớn ở miền núi huyện Quan Yên, thuộc quận Cửu Chân (nay thuộc huyện Yên Định - Thanh Hóa)

- Con người: Bà là người khỏe mạnh, xinh đẹp

- Tài năng, ý chí:

+ Bà giỏi võ, có chí lớn Năm 19 tuổi, bà cùng anh trai tập hợp nghĩa binh mài gươm, luyện võ trên đỉnh núi Nưa chuẩn bị khởi nghĩa

+ Câu nói nổi tiếng “ Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô giàng lại giang sơn, cởi ách nô lệ, đâu chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”

+ Giặc Ngô truyền nhau câu “Hoành qua đương hổ dị- Đối diện Bà vương nan”

- Hình ảnh khi ra trận, khi hy sinh: Bà mặc áo giáp đồng, cài trâm vàng, đi guốc ngà, cưỡi voi, trông rất oai phong lẫm liệt Bà tự sát trên núi Tùng để không rơi vào tây giặc

- Uy tín với nhân dân:

+ Được nhân dân ủng hộ thể hiện qua các câu ca:

“ Ru con con ngủ cho lành,

Để mẹ gánh nước rửa bành con voi

Trang 6

Muốn coi lên núi mà coi, Coi Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng

Túi gấm cho lẫn túi hồng, Têm trầu cánh phượng cho chồng ra quân”

+ Sau khi Bà hy sinh, người dân lập đền thờ Bà ở núi Tùng thuộc xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa và ở nhiều nơi trên khắp cả nước, nhiều tên trường, tên đường, tên phố được đặt theo tên của Bà Triệu

Qua những nét khắc họa trên biểu tượng về nhân vật lịch sử Bà Triệu được hiện lên đầy đủ Học sinh hiểu biết sâu sắc hơn về nhân vật lịch sử Bà Triệu, học sinh càng tự hào hơn Bà là người con của xứ Thanh Từ đó các em sẽ cố gắng học tập để tiếp bước truyền thống cha ông, xây dựng Thanh Hóa thành tỉnh kiểu mẫu như lời căn dặn của Bác Hồ kính yêu khi Người về thăm Thanh Hóa

b Tạo biểu tượng về nền văn hóa vật chất:

Biểu tượng về nền văn hóa vật chất đó là những hình ảnh về những thành tựu của loài người trong lao động sản xuất, chế ngự thiên nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cũng như văn hóa tinh thần của xã hội loài người Trong sách giáo khoa lịch

sử 6, biểu tượng về nền văn hóa vật chất có thể liệt kê ra như: Kim tự tháp Ai Cập, Thành Ba-bi-lon ở Lưỡng Hà, Trống Đồng, thành Cổ Loa của nhà nước Văn Lang,

Âu Lạc…

Ví dụ: Khi dạy bài 6- Bài “ Văn hóa cổ đại”, khi giảng phần 1 “ Các dân tộc phương Đông thời cổ đại đã có những thành tựu văn hóa gì?” Nói đến Kim

tự tháp Ai Cập (cụ thể là Kim tự tháp KÊ-ÔP) giáo viên không thể không tạo cho học sinh hình ảnh về cái hùng vĩ của nó, tinh thần lao động sáng tạo và trình độ kiến trúc điêu luyện của các nhà khoa học thời cổ đại cũng như sự hi sinh đổ máu của hàng chục vạn người nô lệ để xây dựng nên công trình đó bằng các chi tiết ấn nổi bật:

Trang 7

KIM TỰ THÁP KÊ-ÔP(AI CẬP)

- Thời gian: Xây dựng khoảng năm 2680 TCN, và kéo dài 20 năm

- Số lượng người tham gia: 10 vạn người (1/5 lực lượng lao động cả nước)

- Hình dáng, kích thước: Hình chóp đều, cao 146,60 m, chiều dài mỗi cạnh đáy là

232 m, trông xa như một ngôi nhà 50, 60 tầng

- Vật liệu: Xây bằng đá, sử dụng tới 2.030.000 tảng đá, mỗi tảng nặng chừng 2 đến

5 tấn, có tảng nặng 14 tấn và phải đưa lên cao hàng trăm mét

- Là một trong 7 kì quan của thế giới cổ đại còn lại đến ngày nay

=> Người Ai Cập đã có câu nói “ Bất cứ cái gì cũng sợ thời gian, nhưng bản thân thời gian lại sợ Kim tự tháp”

Từ những khắc họa đó của giáo viên, học sinh chắc chắn sẽ nắm sâu hơn về một trong những thành tựu văn hóa của phương Đông cổ đại đó là trong lĩnh vực kiến trúc, cụ thể là công trình kiến trúc Kim tự tháp của người Ai Cập cổ đại còn lại cho đến ngày nay

Hoặc khi dạy bài 15-“ Nước Âu Lạc”, khi giảng phần 4 “ Thành Cổ Loa và lực lượng quốc phòng”, giáo viên không thể không làm nổi bật lên biểu tượng

thành Cổ Loa của nhân dân Âu Lạc ta thời đó bằng các số liệu, chứng cứ để chứng minh đây là một trong những biểu tượng của nề văn minh Việt cổ

Trang 8

SƠ ĐỒ THÀNH CỔ LOA

- Địa điểm: Phong Khê (Đông Anh - Thành phố Hà Nội)

- Chất liệu, hình dáng: Thành xây bằng đất, có hình trôn ốc nên gọi là Loa thành hay thành Cổ Loa

- Cấu tạo:

+ Có 3 vòng khép kín với tổng chiều dài chu vi khoảng 16.000m

+ Chiều cao: 5-10m

+ Mặt thành: Rộng trung bình 10m

+ Chân thành: Rộng 10 - 30m

+ Hào thành: Rộng 10 - 20m, các hào thông nhau vừa nối với Đầm Cả vừa nối với sông Hoàng

- Chức năng: Vừa là Kinh đô (nơi ở và làm việc của An Dương Vương, các Lạc hầu, Lạc tướng), vừa là quân thành (thành quân sự, phục vụ chiến đấu: Có lực lượng quân đội lớn, được trang bị nhiều loại vũ khí bằng đồng như giáo, rìu chiến, dao găm và đặc biệt là nỏ, có cả chiến thuyền)

- Đánh giá của các nhà khảo cổ học: Thành Cổ Loa là “tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ”

Với những nét khắc họa trên, học sinh sẽ đánh giá, nhận xét được thành Cổ Loa là một công trình kiến trúc độc đáo, sáng tạo của nhân dân Âu Lạc, có vai trò như một căn cứ quân sự lợi hại và là một vị trí phòng thủ kiên cố Thành Cổ Loa còn thể hiện trình độ phát triển cao của nhân dân Âu Lạc, được xem là biểu tượng của nền văn minh Việt cổ Qua đó học sinh sẽ dâng lên niềm tự hào, biết ơn về

Trang 9

những thế hệ cha ông đi trước, các em nguyện học tập và rèn luyện để trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước

c Tạo biểu tượng về hoàn cảnh địa lí:

Sự kiện lịch sử cụ thể bao giờ cũng trong một không gian nhất định Không gian của sự kiện đó có thể là rất rộng lớn như cả một châu lục hoặc chỉ diễn ra trong một phạm vi hẹp như địa điểm của một trận đánh hay một cuộc khởi nghĩa Chính vì vậy tạo biểu tượng về hoàn cảnh địa lí nơi xảy ra sự kiện lịch sử là yêu cầu bắt buộc trong dạy học lịch sử

Ví dụ: Khi dạy bài 27- bài “ Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938” Giáo viên cần tạo biểu tượng lịch sử về dòng sông Bạch Đằng nơi diễn ra

chiến thắng Bạch Đằng năm 938 để học sinh hình tượng được nơi diễn ra sự kiện một cách cụ thể chân thực Từ đó các em thấy được tài năng, mưu thao lược, sự chủ động và cách đánh giặc độc đáo của anh hùng dân tộc Ngô Quyền:

- Đầu tiên, giáo viên treo lược đồ H55 Lược đồ chiến thắng Bạch Đằng năm 938 SGK lịch sử 6 Trang 75 lên bảng sau đó minh họa để tạo biểu tượng về vị trí địa lí nơi đây:

NGÔ QUYỀN VÀ TRẬN ĐỊA BÃI CỌC TRÊN SÔNG BẠCH ĐẰNG

+ Tên gọi: Sông Bạch Đằng có tên nôm là sông Rừng

+ Địa điểm: Sông Bạch Đằng chảy qua hai huyện: huyện Thủy Nguyên(Hải Phòng)

và Yên Hưng(Quãng Ninh) Sông Bạch Đằng nơi phình to ra hẳn đó là nơi tập trung của 5 con sông

+ Địa hình: Hai bờ sông, nhất là phía tả ngạn toàn là rừng rậm; hải lưu tại đây thấp,

độ dốc không cao, do vậy ảnh hưởng của thủy triều lên, xuống rất mạnh

+ Địa thế: Các con sông bên tả và hữu ngạn chạy theo các thung lũng, len qua các

Trang 10

dãy núi là đường giao thông thuận lợi, áng núi và lạch sông là nơi có thể tập trung quân thuỷ và quân bộ với số lượng lớn, giấu quân kín đáo, xuất kích bí mật và dễ dàng, nhanh chóng Lợi dụng thủy triều lên xuống: Khi thủy triều lên lòng sông rộng khoảng 1200m, dòng nước hiền hòa; khi thủy triều xuống, lòng sông thu hẹp, nước chảy siết

Với việc tạo biểu tượng về dòng sông Bạch Đằng như vậy, học sinh sẽ một phần lí giải được vì sao Ngô Quyền lại chọn sông Bạch Đằng làm nơi đóng bãi cọc nhọn để giao chiến và tiêu diệt quân Nam Hán lần II Qua đó học sinh khâm phục tài thao lược về quân sự của anh hùng dân tộc Ngô quyền, qua kế hoạch đánh giặc chủ động và độc đáo để làm nên chiến thắng Bạch Đằng năm 938, được xem là một chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta, kết thúc hơn 1000 năm Bắc thuộc, dựng lại nền độc lập cho đất nước

d Tạo biểu tượng về hiện tượng lịch sử:

Sự kiện lịch sử phản ánh những nét đặc trưng tiêu biểu cho một thời kỳ hay giai đoạn lịch sử nhất định Còn hiện tượng lịch sử có thể lặp lại nhiều lần, kéo dài

về thời gian, lan rộng về mặt không gian lịch sử Hiện tượng lịch sử mang tính chất điển hình Chính điều đó trong việc dạy học lịch sử việc tạo biểu tượng về hiện tượng lịch sử cũng rất quan trọng nhằm giúp học sinh nắm được bản chất của vấn

đề một cách ngắn gọn, cô đúc nhất nhằm phân biệt rõ ràng giữa hiện tượng lịch sử này với hiện tượng lịch sử khác

Ví dụ: Khi dạy bài 3- Bài “ Xã hội nguyên thủy”

Phần 1 “ Con người đã xuất hiện như thế nào?”, giáo viên cần tạo được biểu

tượng lịch sử về Người tối cổ:

NGƯỜI TỐI CỔ VÀ NGƯỜI TINH KHÔN

Ngày đăng: 18/10/2019, 07:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w