SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓAPHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM KINH NGHIỆM RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIẢI MỘT SỐ BÀI TẬP VỀ SẮT VÀ CÁC OXIT SẮT CHO HỌC SINH GIỎI TRƯ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIẢI MỘT SỐ BÀI TẬP VỀ SẮT
VÀ CÁC OXIT SẮT CHO HỌC SINH GIỎI TRƯỜNG
THCS THÀNH TRỰC, THẠCH THÀNH.
Người thực hiện : Trần Thiết Trường
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Thành Trực
SKKN thuộc lĩnh vực môn: Hóa học
Trang 2THẠCH THÀNH, NĂM 2019
MỤC LỤC
1- MỞ ĐẦU
2- NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3
2.3
1
2.3
2
2.3
3
3- KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong bối cảnh hiện nay, khi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với xu hướng
tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất đang phát triển và lan rộng với tốc độ nhanh chóng thì yêu cầu đối với ngành giáo dục và đào tạo không những phải nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường phát triển tư duy sáng tạo cho người học mà còn rèn luyện kĩ năng giải bài tập,
kĩ năng vận dụng giải quyết các tình huống thực tế…để trở thành một con người phát triển toàn diện, đáp ứng được nhu cầu đổi mới của xã hội
Song song với mục tiêu giảng dạy nâng cao chất lượng đại trà thì hiện nay nhiều nhà trường còn chú trọng đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp, coi trọng việc phát hiện, bồi dưỡng và phát triển tiềm năng trí tuệ cho học sinh Đây cũng là nhiệm vụ quan trọng mà trường THCS Thành Trực ưu tiên hàng đầu Bồi dưỡng học sinh giỏi là công việc mà không phải trường nào hay bất kỳ giáo viên nào cũng có thể làm tốt được mà phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, vào kinh nghiệm giảng dạy, vào sự nhiệt huyết và tố chất của học sinh…
Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Hóa học của nhà trường, tôi thường xuyên được phân công bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi Khó khăn lớn nhất của tôi lúc đầu là việc lựa chọn học sinh Hầu như các em đều trả lời môn Hóa rất khó học nên bản thân các em thấy thiếu tự tin, do đó thường tỏ ra lúng túng, sai sót trong việc xác định các dạng toán và phương pháp giải bài tập Nhất là khi học
về nguyên tố sắt và các Oxit sắt Xác định đây là nguyên tố khá phức tạp, xảy ra nhiều phương trình phản ứng khác nhau, nếu các em không được trang bị đầy đủ
kĩ năng, phương pháp giải thì sẽ rất khó khăn trong việc làm bài và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giải trong các kì thi chọn học sinh giỏi cấp huyện và cấp tỉnh
Xuất phát từ những lý do trên, trong nhiều năm qua tôi đã thử nghiệm và thực hiện nhiều giải pháp để rèn luyện kĩ năng giải bài tập Hóa học cho học sinh giỏi
và đúc rút thành“ Kinh nghiệm rèn luyện kĩ năng giải một số bài tập về sắt và
các Oxit sắt cho học sinh giỏi trường THCS Thành trực, Thạch Thành ”
1.2 Mục đích nghiên cứu:
- Cung cấp thêm cho học sinh một số phương pháp giải bài tập về sắt và oxit sắt trong chương trình hóa học THCS ngoài những phương pháp quen thuộc
- Rèn luyện kĩ năng giải thành thạo dạng bài tập về sắt và oxít sắt cho học sinh
- Củng cố niềm tin, lòng say mê và yêu thích môn học
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu một số phương pháp giải bài tập nâng cao về sắt và oxit sắt trong chương trình hóa học THCS nhằm rèn luyện kĩ năng giải bài tập học sinh một cách khoa học và hiệu quả nhất
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 4Trong phạm vi đề tài này tôi đã lựa chọn một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết:
Nghiên cứu các Công văn, Thông tư, Nhận định… nói về tầm quan trọng cuộc việc rèn luyện kĩ năng giải bài tập môn hóa học cho học sinh, trong đó có kĩ năng giải bài tập về sắt và oxit sắt trong chương trình hóa học THCS
- Điều tra, khảo sát thực tế học sinh giỏi khối 8,9:
Sử dụng hệ thống câu hỏi qua phiếu điều tra để khảo sát mức độ vận dụng kĩ năng giải bài tập phần sắt và oxit sắt của học sinh giỏi
- Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm giáo dục:
Lắng nghe, trao đổi, rút kinh nghiệm từ những nhận xét, góp ý của đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường về phương pháp giải một số bài tập về sắt và oxit sắt trong chương trình hóa học THCS để trau rồi, nâng cao trình độ nghệp
vụ sư phạm của bản thân
- Thống kê, xử lý số liệu:
Để đảm bảo tính chính xác của thực trạng, hiệu quả vấn đề nghiên cứu, tôi đã
sử dụng thống kê toán học, xử lý số liệu để rút ra những kết luận quan trọng
1.5 Nhứng điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
Sáng kiến này được làm, áp dụng lần đầu tại trường THCS Thành Trực và đã đem lại hiệu quả cao
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã khẳng định “ Đổi mới toàn diện giáo
dục và đào tạo, phát trển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt nam Những biện pháp cụ thể là: Đổi mới nội dung, phương pháp dạy
và học theo hướng “ chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học”
Hoá học là môn khoa học đòi hỏi học sinh phải có kĩ năng vận dụng giải bài tập, thực hành và ứng dụng giải quyết các tình huống thực tế Quá trình này yêu cầu ở học sinh phải có cả kiến thức lẫn phương pháp tư duy.Có một cách có hiệu quả là: Trong khi dạy học sinh giải quyết những vấn đề cụ thể của môn Hóa học thì hình thành ở các em những phương pháp, kĩ năng giải bài tập là một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết Vì thông qua giải bài tập hoá học giúp các em có
cơ hội được rèn luyện, củng cố kiến thức, kỹ năng về hoá học Giải bài tập hoá học là một trong những hình thức luyện tập chủ yếu và được tiến hành nhiều nhất trong việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng Chính vì vậy, trong quá trình giải bài tập hoá học, học sinh bắt buộc phải thực hiện các thao tác tư duy để tái hiện kiến thức cũ, tìm ra mối liên hệ bản chất giữa các sự vật và hiện tượng Học sinh phải phân tích tổng hợp, phán đoán suy luận để tìm ra lời giải Nhờ vậy tư duy của các em được phát triển và năng lực làm việc độc lập của các em cũng được nâng cao
Mặt khác, thông qua việc giải bài tập giáo viên có thể phát hiện được trình độ của học sinh, làm bộc lộ những khó khăn sai lầm của các em trong học tập hoá học, từ đó có biện pháp giúp các em vượt qua khó khăn và khắc phục những sai lầm đó
Trang 5
Với những căn cứ nêu trên cho thấy việc rèn luyện kĩ năng giải bài tập Hóa học cho học sinh nói chung, kĩ năng giải bài tập Sắt và các Oxit sắt nói riêng là vấn đề quan trọng và hết sức cần thiết
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1 Thực trạng về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi tại trường THCS Thành Trực.
* Phía nhà trường:
- Công tác khuyến khích, động viên, khen thưởng cho giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi chưa tốt.
- Thiết bị thí nghiệm, hóa chất cần thiết phục vụ cho công tác giảng dạy còn
thiếu Máy vi tính, màn chiếu trang bị cho việc dạy học ƯDCNTT còn quá ít, điều này đã ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học môn Hóa nói chung
- Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi trong thư viện còn quá ít
* Về phía giáo viên.
Năng lực và kinh nghiệm giảng dạy còn nhiều hạn chế, đặc biệt còn yếu về phương pháp dạy phân loại bài tập
* Về phía học sinh.
- Năng lực nhận thức của học sinh còn hạn chế, điều này sẽ rất khó khăn cho
giáo viên trong việc xây dựng, tung ra hệ thống bài tập khó cho các em tiếp thu
và luyện giải
- Hầu hết các em học sinh giỏi là những em có ý thức học tập tốt, hứng thú và đam mê học môn Hóa Tuy nhiên nhiều em có hoàn cảnh khó khăn, cùng với áp lực học nhiều môn học khác nên các em không có đủ thời gian để nguyên cứu, vận dụng và tìm ra phương pháp mới giải những bài tập khó
* Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên:
Chất lượng học sinh giỏi cấp huyện bộ môn Hoá học của nhà trường trong nhiều năm qua còn thấp Cụ thể:
Trương Thị Mai Linh 9,5
Từ tình hình thực trạng của nhà trường, giáo viên, học sinh và kết quả điều tra các năm học gần đây, tôi nhận thấy rằng việc quyết định đưa ra “ Kinh nghiệm rèn luyện kĩ năng giải một số bài tập về Sắt và các Oxit sắt cho học sinh trường THCS Thành Trực” là rất quan trọng và cần thiết.
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Củng cố kiến thức lí thuyết Sắt và các Oxit sắt:
* Tính chất hóa học của sắt
- Sắt là kim loại điển hình và phổ biến trong cuộc sống
Trang 6- Sắt có tính khử : tác dụng với phi kim (như O2, Cl2, S), tác dụng với axit (như HCl, H2SO4 loãng, H2SO4 đặc nóng, HNO3)
- Sắt tác dụng với muối của những kim loại đứng sau Fe trong dãy hoạt động hóa học của kim loại
* Tính chất hóa học của FeO, Fe2O3, Fe3O4
- FeO, Fe2O3 là oxit bazơ
- FeO vừa thể hiện tính khử vừa thể hiện tính oxi hóa
- Fe2O3 chỉ thể hiện tính oxi hóa
- Fe3O4 là hỗn hợp của FeO, Fe2O3 nên tính chất hóa học của Fe3O4 là tổ hợp tính chất hóa học của FeO và Fe2O3
2.3.2 Phương pháp giải chung dạng bài tập về Sắt và các Oxit sắt.
* Khi giải các bài tập về sắt và các oxit sắt học sinh phải vận dụng linh hoạt các định luật sau: định luật bảo toàn khối lượng, định luật bảo toàn nguyên
tố, định luật bảo toàn e và sử dụng thành thạo phương pháp quy đổi
* Với axit nitric HNO3: giả sử sản phẩm khử tạo ra là NO2, NO thì :
Theo định luật bảo toàn e ∑n e
nhận = n NO 2+3 nNO
Theo định luật bảo toàn nguyên tố : n HNO 3(pu)=n NO
3 (tọa muối) + n NO 2+n NO
Khối lượng muối : mmuối = mkl + m NO 3 tạo muối
* Với axit sunfuric đặc nóng: giả sử sản phẩm khử là SO2 thì :
Theo định luật bảo toàn e : ∑n e
nhận = 2⋅n SO 2
Theo định luật bảo toàn nguyên tố : n H2SO 4 pư= n SO 4 tạo muối + nSO 2
Khối lượng muối : mmuối = mkl + m SO 4
tạo muối
2.3.3 Rèn luyện kĩ năng giải bài tập về sắt và các Oxit sắt qua một số phương pháp.
2.3.3.1 Giải bài tập bằng phương pháp đại số.
Ví dụ 1: Để m gam sắt ngoài không khí sau một thời gian biến thành hỗn
hợp B gồm 4 chất rắn có khối lượng 30 gam gồm Fe, FeO, Fe3O4 và Fe2O3
Ban đầu học sinh làm dạng toán trên thường làm theo phương pháp đại số
Bài làm:
Ta có: nNO=
8.4 22.4=0.375 (mol), nSO 2 = = 0.375 (mol)
Để m gam sắt ngoài không khí có các PTHH xảy ra :
2Fe + O2 2FeO 4Fe + 3O2 2Fe3O4
3Fe + 2O2 Fe2O3
Câu a: Hỗn hợp B(gồm Fe, FeO, Fe3O4, Fe2O3) tác dụng với dd HNO3:
Fe + 4HNO3 Fe(NO3)3 + NO + 2H2O (1) 3FeO + 10HNO3 3Fe(NO3)3 + NO + 5H2O (2)
3Fe3O4 + 28HNO3 9Fe(NO3)3 + NO + 14H2O (3)
8.4 22,4
o
t
o
t
o
t
Trang 7Fe2O3 + 6HNO3 2Fe(NO3)3 + 3H2O Đặt: số nFe=x, nFeO=y, nFe 3 O 4 = z, nFe 2 O 3 =t
Theo khối lượng hỗn hợp B: 56x + 72y + 232z + 160t = 30 (1)
Theo số mol nguyên tử Fe: x + y + 3z + 2t =
m
56 (2) (bảo toàn nguyên tố)
Theo số mol nguyên tử O trong oxit: y + 4z + 3t = (3)
Theo (1), (2), (3) số mol NO: x + (4)
Kết hợp (1), (2), (3) và (4) ta có hệ:
Giáo viên hướng dẫn học sinh:
Nhiều học sinh cho rằng thiếu dữ kiện nên không tính được m Đa số các em
ban đầu làm dạng bài tập thường theo phương pháp đại số và đến đây thường
bế tắc.
HS cần có kỹ năng biện luận: đầu bài chỉ yêu cầu tính khối lượng sắt ban đầu, như vậy không cần phải đi tìm đầy đủ các ẩn x, y, z, t Ở đây Hs chỉ cần tìm
- Thực hiện các phép biến đổi tìm giá trị của x + y +3z + 2t:
Chia (1’) cho 8 được : 7x + 9y + 29z + 20t = 3.75 (3’)
Nhân (2’) với 3 được : 3x + y + z = 1.125 (4’)
Cộng (3’) với (4’) được: 10x + 10y + 30z + 20t = 4.875 (5’)
Chia (5’) cho 10 được : x + y + 3z + 2t = 0.4875
Vậy: m = 56x0.4875 = 27.3g
Câu b: X tác dụng với H2SO4 đặc nóng:
Fe + 6H2SO4 (đặc) Fe2(SO4)3 + 3SO2 + 6H2O (1) 2FeO + 4H2SO4 (đặc) Fe2(SO4)3 + SO2 + 2H2O (2) 2Fe3O4 + 10H2SO4 (đặc) 3Fe2(SO4)3 + SO2 + 10H2O (3)
Fe2O3 + 3H2SO4 (đặc) Fe2(SO4)3 + H2O
Gọi: nFe=x, nFeO=y, nFe 3 O 4 = z, nFe 2 O 3 =t
Ta có: mX = 56x + 72y + 232z + 160t = 30 (a)
Theo các PTHH (1), (2), (3) ta có:
nSO 2 =
3
2 x +
1
2 y +
1
2 z = 0,375 (b)
n= nFe + nFeO + 3nFe 3 O 4 + 2nFe 2 O 3 = x + y+ 3z+ 2y
( học sinh làm theo phương pháp đại số đến đây này thường bế tắc)
Lấy (a) chia 8 ta có : 7x + 9y + 29z + 20t = 3.75 (c)
Lấy (b) nhân 2 ta có: 3x + y + z = 0.75 (d)
Cộng (c) và (d) ta có : 10x + 10y + 30x +20t = 4,5 (e)
30 m 16
y z
0.375
33
56x 72y 232z 160t 30 (1')
y z
3 3
o
t
o
t
o
t
o
t
Trang 8Chia (e) cho 10 ta có : x + y + 3z + 2t = 0.45
Theo định luật bảo toàn nguyên tố Fe ta có: nFe= x + y + 3z + 2t= 0,45 mol Vậy m = 0,45x56 = 25.2 gam
Ví dụ 2: Để 56 gam sắt ngoài không khí sau một thời gian biến thành hỗn
hợp A gồm 4 chất rắn gồm Fe, FeO, Fe3O4 và Fe2O3 Hoà tan A trong dd HNO3
đặc nóng, vừa đủ thu được 13,44 lit khí NO2 duy nhất
a Viết các PTHH của các phản ứng xảy ra.
b Tính khối lượng chất rắn A.
Bài làm:
Ta có: nNO2= =0.6 (mol),
Để m gam sắt ngoài không khí có các PTHH xảy ra :
2Fe + O2 2FeO 4Fe + 3O2 2Fe3O4
3Fe + 2O2 Fe2O3
Câu a: Hỗn hợp B (gồm Fe, FeO, Fe3O4, Fe2O3) tác dụng với dd HNO3:
Fe + 6HNO3 Fe(NO3)3 + 3NO2 + 3H2O (1) FeO + 4HNO3 Fe(NO3)3 + NO2 + 2H2O (2)
Fe3O4 + 10HNO3 3Fe(NO3)3 + NO2 + 5H2O (3)
Fe2O3 + 6HNO3 2Fe(NO3)3 + 3H2O Gọi: nFe=x, nFeO=y, nFe 3 O 4 = z, nFe 2 O 3 =t
Theo bài ra ta có 56x + 56y + 168x + 112t = 56 ( 1) (bảo toàn nguyên tố Fe)
và nNO = 3x + y +z = 0,6 (2)
Làm đến đây tôi hướng dẫn học sinh như sau : chỉ cần biến đổi xuất hiện
Cách làm Lấy (1) chia 5.6 ta có : 10x + 10y + 30z + 20t = 10 (3)
Lấy (3) – (2) ta có : 7x + 9y + 29z + 20t = 9.4 (4)
Lấy (4) nhân 8 ta có 56x + 72y + 232z + 160t = 75.2
Vậy mA = 75.2g
Nhược điểm của phương pháp đại số là : Trong 1 số trường hợp dẫn đến
những biến đổi phức tạp, nặng về phương diện toán học làm mất đi những tính chất đặc trưng của hóa học, làm giảm khả năng tư duy hóa học của học sinh Chính vì vậy tôi thường hướng dẫn học sinh giải các bài toán trên bằng các phương pháp như áp dụng định luật bảo toàn khối lượng, định luật bảo toàn nguyên tố ; định luật bảo toàn e và sử dụng phương pháp quy đổi.
2.3.3.2 Giải nhanh một số bài tập bằng định luật bảo toàn nguyên tố và BTKL.
Định luật bảo toàn nguyên tố: Định luật bảo toàn nguyên tố: trong một
phản ứng hóa học tổng số nguyên tử của mỗi nguyên tố luôn được bảo toàn Nên số mol nguyên tử mỗi nguyên tố không thay đổi trước và sau khi phản ứng.
13.44 22.4
o
t
o
t
o
t
2
Trang 9Định luật bảo toàn khối lượng: Định luật bảo toàn khối lượng hay định
Lomonosov – Lavoisier là một định luật cơ bản của hóa học, được phát biểu như sau : Trong 1 phản ứng hóa học, tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng bằng tổng khối lượng các sản phẩm tạo thành.
Ví dụ 1: Để m gam sắt ngoài không khí sau một thời gian biến thành hỗn hợp
B gồm 4 chất rắn có khối lượng 30 gam gồm Fe, FeO, Fe3O4 và Fe2O3
Bài làm:
Số mol: = = (mol), n NO = (mol)
Câu a: Theo định luật bảo toàn khối lượng ta có: (kí hiệu khối lượng là m)
mB + mHNO 3 = mFe(NO 3 ) 3 + mNO + mH 2 O (1)
Tính các giá trị chưa biết của (1)
nFe(NO 3 ) 3 = nFe =
m
56 Vây mFe(NO 3 ) 3 =242
m
56
Muốn tính m HNO 3 cần tính n HNO 3 ở đây số mol HNO3 được dùng vào 2 việc
là tạo ra NO và tạo ra muối
Theo ĐLBTNT nitơ:
nHNO 3 tạo NO = nNO = 0,375 (mol)
nHNO 3 tạo muối = 3nFe(NO 3 ) 3 = 3nFe =
3m
56 (gam)
nHNO 3 phản ứng = 0,375 +
3m
56 Vậy mHNO 3 phản ứng= 63 (gam) Theo ĐLBTNT hiđro:
nH 2 O=
1
2 nHNO 3 phản ứng =
1
2 Vậy mH 2 O= 9
(gam)
Thay các giá trị tìm được vào (1) được phương trình bậc nhất, chỉ chứa ẩn m:
m
56 + 30x0.375 + 9 Giải ra m = 27.3 g
Câu b: Vì H2SO4 dư nên B tan hết và muối thu được là Fe2(SO4)3 Gọi x là
số mol Fe2(SO4)3
B + H2SO4 Fe2(SO4)3 + SO2 + H2O
30 gam x mol 0,375 mol
Bảo toàn nguyên tố S:
(pư) = 3.x + 0,375 (mol) = 3.x + 0,375 (mol)
Bảo toàn khối lượng :
mB + (pư) = + +
30 + 98.( 3x + 0,375) = 400.x + 64.0,375 + 18 (3x+ 0,375)
x = 0,225 (mol)
2
SO
22.4
8.4 0.375 22.4
3m 0,375
56
3m 0,375
56
3m 0,375
56
3m
63 0,375
56
3m 0,375
56
2 4
H SO
H SO
Trang 10nFe = 2 = 2.0,225 = 0,45(mol)
mFe = 0,45x56 = 25.2 (g) m = 25,2(g)
Ví dụ 2: Để 56 gam sắt ngoài không khí sau một thời gian biến thành hỗn hợp
A gồm 4 chất rắn gồm Fe, FeO, Fe3O4 và Fe2O3 Hoà tan A trong dd HNO3 đặc nóng, vừa đủ thu được 13,44 lit khí NO2 duy nhất Tính mA
Bài làm:
Ta có sơ đồ
Fe + O2 B (Fe, FeO, Fe3O4, Fe2O3)
B + HNO3 Fe(NO3)3 + NO2 + H2O
- Theo bài ra toàn bộ Fe đã chuyển hết vào Fe(NO3)3 nên
- Số mol HNO3 tạo muối
- Số mol HNO3 tạo khí
- Số mol HNO3 tham gia phản ứng = 3 + 0.6 = 3.6 mol
- Số mol H2O tham gia phản ứng = 3.6 : 2 = 1.8 mol
Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng ta có:
mA + (pư) = + +
mA + 3.6 x 63 = 1x242 + 0,6x46 + 1.8x18
suy ra mA = 75.2 g
2.3.3.3 Áp dụng định luật bảo toàn e
Định luật bảo toàn e: Trong một phản ứng oxi hóa khử tổng số e mà
chất khử nhường bằng tổng số e mà chất oxi hóa nhận
Hướng dẫn học sinh giải toán:
+ Xác định chất khử và chất oxi hóa
+ Viết các quá trình khử và quá trình oxi hóa
Ví dụ 1: Để m gam sắt ngoài không khí sau một thời gian biến thành hỗn hợp
B gồm 4 chất rắn có khối lượng 30 gam gồm Fe, FeO, Fe3O4 và Fe2O3
Giáo viên hướng dẫn học sinh
Bài làm:
Ta có: nNO= =0.375 (mol), nSO 2 = = 0.375 (mol)
a Ta có sơ đồ
2 ( 4 3 )
Fe SO
n
Fe
56
56
22.4
3 3
n n 1 mol
3
n 3 n 3 mol
n n 0.6 mol
3
HNO
8.4 22.4
8.4 22,4