1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp giải bài tập hoá học có lượng chất dư sau phản ứng cho học sinh lớp 9 trường THCS lương ngoại

23 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 606 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP HOÁ HỌC CÓ LƯỢNG CHẤT DƯ SAU PHẢN ỨNG CHO HỌC SINH LỚP

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP HOÁ HỌC CÓ LƯỢNG CHẤT DƯ SAU PHẢN ỨNG CHO HỌC SINH LỚP 9 TRƯỜNG THCS LƯƠNG NGOẠI

Người thực hiện: Lê Văn Tuân Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THCS Lương Ngoại SKKN thuộc lĩnh vực: Hóa học

THANH HOÁ NĂM 2019

Trang 2

MỤC LỤC

1 MỞ ĐẦU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Danh mục các đề tài SKKN

1 MỞ ĐẦU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trang 3

Nhằm giáo dục toàn diện cho học sinh, cùng những môn học khác mônHóa học cũng góp phần giáo dục đạo đức, xây dựng tư cách và trách nhiệm côngdân cho học sinh: lòng nhân ái, lòng yêu nước, yêu lao động, tinh thần quốc tế,

sự tuân thủ pháp luật, sự tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên,…

Bài tập hóa học giữ vai trò rất quan trọng Nó vừa giúp học sinh củng cố

lí thuyết đã học vừa hình thành những kỹ năng tính toán, suy luận, thực hành….Tuy nhiên, không phải một bài tập “hay” thì luôn có tác dụng tích cực Vấn đềphụ thuộc chủ yếu là người sử dụng nó, phải biết trao đúng đối tượng, phải biếtcách khai thác triệt để mọi khía cạnh có thể có của bài toán, giáo viên không giảithay cho học sinh, phải để học sinh tự mình tìm ra cách giải, lúc đó bài tập hoáhọc mới thật sự có ý nghĩa trong việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh.Giáo viên không những dạy học sinh giải bài toán mà còn giúp học sinh tìm raphương pháp để có thể giải dạng toán đó một cách thành thạo

Hiện nay việc giải bài tập hoá học của học sinh có phần hạn chế, đa sốcác em chỉ học phần lý thuyết đã được học trên lớp, các công thức tính toántrong hoá học thì các em không quan tâm, không biết sử dụng công thức nào chophù hợp theo từng bài tập Trong môn hoá học, để giải tốt một bài toán hoá đòihỏi học sinh phải biết chọn được phương pháp giải, thì mới giải một bài toánđúng chính xác kết quả

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy môn hoá học THCS, giúphọc sinh làm tốt dạng bài tập hóa học có lượng chất dư sau phản ứng tốt hơn,

bản thân tôi chọn giải pháp: “Một số giải pháp giải bài tập hoá học có lượng

chất dư sau phản ứng cho học sinh lớp 9 trường THCS Lương Ngoại”.

1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Việc hình thành kỹ năng giải bài tập hoá học cho học sinh là một trongnhững phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập,giúp học sinh tự hình thành và tự lĩnh hội kiến thức, giúp học sinh nắm vữngchắc và sâu sắc kiến thức Qua đó rèn luyện kỹ năng giải bài tập hoá học, rút rađược phương pháp giải bài tập hóa học cho mình một cách chính xác Giải phápkhoa học này chỉ thật sự đạt kết quả tốt khi học sinh:

Biết phân tích và tóm tắt đề bài

Biết và thuộc được các công thức tính toán trong hóa học như: số mol, tỉ

lệ phần trăm, tính khối lượng, tính nồng độ % và nồng độ mol

Biết cách tìm mối liên hệ giữa các công thức trong một bài toán hóa học

cụ thể

Biết hướng giải bài toán Hóa

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Trang 4

Các bài tập hoá học có lượng chất dư sau phản ứng trong chương trình lớp9.

Học sinh khối lớp 9- trường THCS Lương Ngoại – huyện Bá Thước

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

Đọc tài liệu:

Đọc tài liệu có liên quan đến đề tài: Lý luận dạy học hoá học; Phươngpháp giảng dạy hoá học trong nhà trường phổ thông; một số tài liệu về đổi mớiphương pháp dạy học ở trường THCS; tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy học sinhyếu kém môn hoá học THCS; tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viênTHCS, sách giáo khoa, sách giáo viên lớp 8, 9, các chuyên đề bồi dưỡng họcsinh giỏi, chuyên đề hoá học đã được truyền tải qua mạng Internet Hình thành

kỹ năng giải bài tập hoá học trường THCS để rút ra một số nội dung kiến thứccần thiết

Điều tra:

Trao đổi kinh nghiệm với các giáo viên dạy cùng môn

Đàm thoại với học sinh để tìm ra những khó khăn mà học sinh thườnggặp trong khi giải bài tập hoá học

Theo dõi kết quả qua các bài kiểm tra và phần trình bày của học sinhtrước lớp (trên bảng)

2 NỘI DUNG 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN:

- Kiến thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành kỹ năng, nhưng ngược lại việcnắm vững kỹ năng, kỹ xảo sẽ có tác dụng trở lại giúp kiến thức trở nên sốngđộng, linh hoạt hơn

- Dạy hoá học không phải là quá trình truyền thụ kiến thức, “rót” kiến thức mộtchiều vào học sinh mà chủ yếu là quá trình giáo viên thiết kế, tổ chức, điềukhiển các hoạt động của học sinh theo các mục tiêu cụ thể

- Học Hoá học không phải là quá trình tiếp nhận kiến thức một cách thụ độngnhững tri thức hoá học, mà chủ yếu là quá trình học sinh nhận thức tự khám phá,tìm tòi tri thức khoa học một cách chủ động tích cực, là quá trình tự phát hiện vàgiải quyết các vấn đề

- Đổi mới phương pháp dạy học là:

Đổi mới hoạt động của giáo viên theo hướng tích cực

Đổi mới hoạt động học tập của học sinh theo hướng chủ động tích cực

Trang 5

Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học: phải đa dạng, phong phú hơn chophù hợp với việc tìm tòi cá nhân, hoạt động theo nhóm và toàn lớp.

Sử dụng một cách linh hoạt các phương pháp dạy học đặc thù của bộmôn hoá học với các kỹ thuật thiết kế tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tíchcực

Một số kỹ thuật thiết kế tổ chức kết hợp với hoạt động học tập của họcsinh phát huy có hiệu quả việc sử dụng đồ dùng dạy học của bộ môn

- Trong tất cả các phương pháp giải bài tập hoá học, thì phương pháp giải bài tập

có lượng chất dư sau phản ứng là một trong những phương pháp cũng khôngkém phần quan trọng nhằm giúp học sinh rèn kỹ năng giải bài tập hóa học rấttốt, học sinh sẽ dễ dàng giải một bài tập hoá học thành thạo, không thiếu cácbước hoặc trình tự mà bài tập yêu cầu

Giáo viên: Lên lớp không có nhiều thời gian sử dụng bài tập hoá họchoặc nếu có sử dụng thì không được thường xuyên, không mang tính hệ thống,chưa định rõ phương pháp giải Mặc dù tốn rất nhiều thời gian ở trên lớp nhưnghiệu quả của việc lĩnh hội tri thức của học sinh chưa cao

Học sinh: Không học lý thuyết, không nắm vững các công thức tính toántrong hoá học như khối lượng, thể tích, nồng độ dung dịch Rất ít học sinh cótài liệu nâng cao (phương pháp giải bài tập hoá học cơ bản hoặc nâng cao )hoặc kiến thức về toán học còn hạn chế Do đó, các em không có một hướng đitrong việc tìm tòi cách giải một bài tập, không xác định được phương pháp giảibài tập mà giáo viên cho các em làm là phải giải như thế nào? Giải theo phươngpháp nào?

Từ những nguyên nhân trên dẫn đến việc giải bài tập hoá học của họcsinh còn rất nhiều hạn chế Cụ thể kết quả khảo sát lần 1 với 37 học sinh khối 9năm học 2018 - 2019 ở trường THCS Lương Ngoại được kết quả như sau:

Trang 6

Số bài

kiểm

tra

Giỏi(Điểm 8-10)

Khá(Điểm 6,5-7,5)

T Bình(Điểm 5-6,5)

Yếu, kém(Điểm dưới 5)

Vì vậy, những biện pháp nào cần phải đặt ra để giải quyết tình trạng này,mang lại hiệu quả cũng như nâng dần chất lượng bộ môn hoá học THCS đây làvấn đề cần phải quan tâm đến

Qua thực tế giảng dạy tôi thấy học sinh làm các bước: tóm tắt đề, chuyểnđổi thành số mol, viết và cân bằng các phương rình hóa học thì các em làm rấttốt Tuy nhiên xác định hướng đi biết được lượng chất dư để tính được khốilượng sản phẩm cũng (phương pháp giải) thì lúng túng nên dẫn đến việc giảimột bài toán chưa còn hạn chế

Để góp phần khắc phục các khó khăn đó, tôi đã tìm hiểu và lựa chọn giải

pháp “Một số giải pháp giải bài tập hoá học có lượng chất dư sau phản ứng

cho học sinh lớp 9 trường THCS Lương Ngoại” theo phương pháp phân tích

đi lên (từ kết luận trở về giả thiết), phù hợp với trình độ nhận thức của các emtheo trình tự từ bài tập dễ đến khó

2.3.2 Giải pháp chung:

Yêu cầu cần thiết để giải bài tập bài tập hoá học có lượng chất dư sau phản ứng để đạt được kết quả tốt, giáo viên và học sinh cần thực hiện tốt các yêu cầu sau :

Đối với giáo viên:

- Củng cố kiến thức về cách tính công thức liên hệ giữa các đại lượng sốmol, khối lượng, khối lượng mol, thể tích và thể tích 1 mol khí ở đktc

- Chọn lọc bài tập phù hợp các đối tượng

- Phương pháp giảng dạy giải bài tập phải linh động, kích thích sự hoạtđộng của học sinh

- Bao quát lớp, sử dụng thích hợp và sáng tạo các đồ dùng dạy học, thiết

bị có sẵn phục vụ cho việc dạy và học được tốt hơn

Trang 7

- Giảm tỉ lệ thuyết trình trên lớp của giáo viên, dành thời gian thích đángcho tự học, tự nghiên cứu, thảo luận, giải đáp thắc mắc.

Đối với học sinh:

- Sử dụng thành thạo công thức liên hệ giữa số mol, khối lượng, khốilượng mol, thể tích khí và thể tích 1mol khí ở đktc

- Dựa vào phương trình hóa học nhất thiết phải rút ra tỉ lệ số mol của chấtcho biết và chất cần tìm

+ Trong những bài toán tính theo phương trình hóa học khi chỉ biết lượngcủa một trong các chất phản ứng hoặc chất mới sinh ra trong phản ứng là có thểtính được lượng của chất còn lại

+ Lượng các chất có thể tính theo mol, theo khối lượng là gam, kilôgam,tấn hoặc theo thể tích là mililit, hoặc lít hoặc cm3, m3

Trong giải pháp này tôi chỉ đề cập đến vấn đề phương pháp giải bài tậpHoá học có lượng chất dư sau phản ứng (xác định chất dư, tính sản phẩm tạo

thành, tính lượng chất dư sau phản ứng) Không đề cập đến vấn đề chất dư phản

ứng tiếp với những chất mới sinh ra.

Bước 1: Rèn kĩ năng phân tích và tóm tắt đề

Tóm tắt đề bài là dùng các ký hiệu m; mdd; n; M; C%; CM; H%; Vkhí;

Vdd; để biểu thị các số liệu của đề bài cho và cần tìm trong bài toán hoá học

Ví dụ 1: Áp dụng chữa bài tập trong bài 5 (sgk) “Luyện tập: Tính chất hóa học của oxit và axit” [1] Cho 0,2 mol Canxi oxit tác dụng với 500ml dung

dịch HCl 1M Tính khối lượng muối thu được sau phản ứng

n

V  22 , 4

M n

m

4 , 22

V

n 

Số mol chất (n)

Trang 8

Giáo viên Học sinh

-Các em đọc kỹ đề bài Tìm ra các

đại lượng mà đề bài cho và đại

lượng cần tìm

-Nếu nói đến mol thì nói đến đại

lượng nào? Ký hiệu là gì?

-Dùng ký hiệu nào để biểu diễn đại

lượng 0,2 mol CaO

-Ta dùng ký hiệu nào để biểu diễn

đại lượng 500 ml dung dịch HCl?

(Vdd hay Vkhí)

-Ta dùng ký hiệu nào để biểu diễn

đại lượng 1M? (C% hay CM)

-Muối tạo thành sau phản ứng là

-Nói đến đại lượng số mol, dùng ký hiệu

Ví dụ 2: Áp dụng phần hướng dẫn làm bài tập trong bài 19 “Sắt” Cho 5,6

gam sắt tác dụng với 5,6 lít khí Cl2 (đktc) Sau phản ứng thu được một lượng muối clorua là bao nhiêu gam?

- Yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài toán

Tìm ra các đại lượng mà đề bài cho

-Để biểu thị hai đại lượng trên thì ta

Trang 9

-Hãy cho biết các đại lượng mà đề bài

ký hiệu chính xác khi biểu diễn các đại lượng bằng cách đọc kỹ đề bài, xác định

rõ ràng đó là đại lượng gì? Khối lượng dung dịch hay khối lượng chất, thể tíchchất khí hay thể tích dung dịch thì mới biểu thị các đại lượng cho và cần tìmtrong bài chính xác hơn

Bước 2: Rèn kĩ năng xác định các công thức cần dùng:

Xác định công thức có liên quan trong bài toán hoá học là một việc hếtsức cần thiết, không kém phần quan trọng, nhằm định hướng đúng cho việc tínhtoán theo yêu cầu đề ra Qua đó học sinh mới có hướng phân tích bước tiếp theo

để giải bài tập đúng kết quả

Ví dụ 1: Áp dụng chữa bài tập trong bài 5 (sgk) “Luyện tập: Tính chất hóa học của oxit và axit”[1] Cho 0,2 mol Canxi oxit tác dụng với 500ml

dung dịch HCl 1M Tính khối lượng muối thu được sau phản ứng

Giáo viên bắt đầu hướng dẫn học sinh dựa vào phần tóm tắt của bài toán

để tìm các công thức cần sử dụng trong bài

Giáo viên: Viết các công thức tính số mol trên bảng như sau

m1) n = M

1) m= 

Trang 10

2) m = n M

Đến đây giáo viên cần xác định cho học sinh muốn tính khối lượng muốitrong bài này là phải sử dụng công thức số (2) m = n M Vì đề bài không cóliên quan đến khối lượng dung dịch muối và nồng độ % (C%) Do đó phải chọncông thức số (2)

Giáo viên: Tóm lại các công thức cần sử dụng trong bài tập này là cáccông thức nào?

Học sinh: công thức cần sử dụng là: n = CM × V dd

và m = n M

Ở phần giải pháp nầy chưa chú ý đến có lượng chất dư hay không, mà chỉchú ý đến những công thức áp dụng trong phần tính toán mà thôi Đến giải pháp

4 sẽ trình bày cụ thể hướng giải

Ví dụ 2: Áp dụng phần hướng dẫn làm bài tập trong bài 19 “Sắt”

Cho 5,6 gam sắt tác dụng với 5,6 lít khí Cl2 (đktc) Sau phản ứng thu được một lượng muối sắt (III) clorua là bao nhiêu gam?

Giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào phần tóm tắt của bài toán để tìmcác công thức cần sử dụng trong bài

Giáo viên: Em hãy viết công thức tính số mol của sắt và số mol của khíclo?

Fe

m M

n = và 2

2

Cl Cl

v

n = 22,4

Ở đây học sinh yếu có thể viết công thức tính số mol của sắt và khí closai, do nhầm lẫn, giáo viên phân tích cho học sinh hiểu rõ sắt là chất rắn và clo

là chất khí, nên chỉ áp dụng tính số mol theo hai công thức trên

Giáo viên: Em hãy viết công thức tính khối lượng muối sắt (III) clorua? Học sinh: mFeCl3 =nFeCl3 × MFeCl3

Có thể học sinh đưa ra các công thức tính khác như:

3

FeCl dd(FeCl ) FeCl

Trang 11

Tóm lại: Do học sinh không thuộc các công thức tính toán, nên dễ nhằm

lẫn khi đưa ra các công thức cần sử dụng hợp lý cho bài tập, giáo viên cần phântích kỹ vấn đề, làm rõ nội dung của các đại lượng cần tìm Từ đó mới hình thành

kỹ năng cho học sinh xác định các công thức cần sử dụng cho bài tập

Bước 3: Rèn kỹ năng viết phương trình phản ứng hoá học

Trong bài tập hoá học, viết phương trình phản ứng hoá học là một bướcrất quan trọng, nếu học sinh không xác định được chất tham gia và sản phẩm thì

sẽ viết sai phương trình phản ứng hoá học, dẫn đến việc giải bài toán hoá học sẽ

bị sai hoàn toàn Do đó, giáo viên cần rèn kỹ năng viết phương trình phản ứngthông qua việc xác định kỹ chất tham gia và sản phẩm, áp dụng đúng tính chấthoá học của phản ứng và điều kiện cho phản ứng hoá học xảy ra

Ví dụ 1: Áp dụng chữa bài tập trong bài 5 (sgk) “Luyện tập: Tính chất hóa học của oxit và axit”[1] Cho 0,2 mol Canxi oxit tác dụng với 500ml dung

dịch HCl 1M Tính khối lượng muối thu được sau phản ứng

Giáo viên: Hãy cho biết đâu là chất tham gia phản ứng?

Học sinh: Chất tham gia phản ứng là Canxi oxit và Axit clohiđric

Giáo viên: Canxi oxit có tác dụng được với Axit clohiđric không? Sảnphẩm là những chất nào? Vì sao?

Học sinh: Canxi oxit tác dụng được với Axit clohiđric, sản phẩm tạothành là muối canxi clorua và nước Vì canxi oxit là một oxit bazơ sẽ tác dụngđược với dung dịch axit theo tính chất hoá học của oxit bazơ (hoặc tính chất hóahọc của axit)

Giáo viên: Em hãy viết phương trình hoá học của phản ứng:

Học sinh: Phương trình hoá học:

CaO + 2HCl  CaCl2 + H2O

Do học sinh không thuộc hoá trị, nên có thể viết sai công thức muối canxiclorua là CaCl Khi gặp tình huống này thì giáo viên cần hước dẫn cho học sinhthành lập công thức hoá học dựa vào hoá trị để thành lập công thức hợp chấtmuối canxi clorua như sau:

II I

y x

Ca Cl từ đó suy ra x = 1; y = 2 Công thức đúng là CaCl2

Ví dụ 2: Áp dụng phần hướng dẫn làm bài tập trong bài 19 “Sắt”

Cho 5,6 gam sắt tác dụng với 5,6 lít khí Cl2 (đktc) Sau phản ứng thu được một lượng muối sắt (III) clorua là bao nhiêu gam?

Giáo viên: Em hãy xác định chất tham gia và sản phẩm tạo thành trong bài tập trên ?

Học sinh:

+ Chất tham gia là: Sắt và khí clo

Trang 12

+ Sản phẩm là: Muối sắt (III) clorua

Lưu ý: Các em biết rằng đơn chất sắt khi tác dụng với đơn chất clo thì

thể hiện hóa trị III, còn khi tác dụng với hợp chất HCl thì thể hiện hóa trị II

Giáo viên: Em hãy viết phương trình hoá học

Phương pháp giải:

Giả sử ta có a mol chất A tác dụng với b mol chất B sinh ra c mol chất C

và d mol chất D theo phương trình hóa học: eA + gB  hC + kD

- Chuyển đổi thành số mol của các chất tham gia phản ứng

- Viết PTHH của phản ứng: eA + gB  hC + kD

e mol g mol h mol k mol

a mol b mol c mol d mol

* Số mol chất dư = số mol đã cho – số mol phản ứng

2.3.3 Giải pháp cụ thể- Một số ví dụ áp dụng trong các bài dạy trên lớp

Ví dụ 1: Áp dụng chữa bài tập trong bài 5 (sgk) “Luyện tập: Tính chất hóa học của oxit và axit”[1] Cho 0,2 mol Canxi oxit tác dụng với 500ml

dung dịch HCl 1M Tính khối lượng muối thu được sau phản ứng

Giáo viên dựa vào phần tóm tắt đề, các công thức cần sử dụng, phươngtrình hoá học để hướng dẫn học sinh phân tích như sau:

Giáo viên: Hãy nêu các bước giải một bài toán hóa học

Ngày đăng: 18/10/2019, 06:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w