Như chúng ta đã biết Trong chương trình giáo dục Địa lý là môn họcquan trọng nhằm mục đích trang bị cho học sinh HS những kiến thức cơ bản về khoa học địa lý, cũng như vận dụng những kiế
Trang 11 Mở đầu
1 1.Lí do chọn đề tài.
Chất lượng dạy và học là mối quan tâm hàng đầu của nền giáo dục nước
ta cũng như nhiều nước trên thế giới, hầu hết các nước đều ra sức tìm mọi biệnpháp để nâng cao chất lượng dạy và học Với mong muốn là làm sao để ngườidạy truyền đạt được kiến thức một cách dễ dàng, người học nắm bắt và vận dụngđược kiến thức đó trong thời gian ngắn nhất vào thực tiễn, nghiên cứu một cách
có hiệu quả Do vậy càng ngày càng đặt ra những yêu cầu gay gắt trong việcnâng cao chất lượng giảng dạy và cách đánh giá người học như thế nào là kháchquan, công bằng, là động lực thúc đẩy để người học nỗ lực phấn đấu vươn lênchiếm lĩnh và làm chủ kiến thức Ai cũng biết rằng kiến thức chính là chìa khóavạn năng để mở mọi cánh cửa ở tương lai và kiến thức chính là sự kế thừa thế hệtrước và sự phát triển của thế hệ nối tiếp sau Nhưng làm thế nào để kế thừa vàphát triển được? Đây là câu hỏi mà mọi người đều đặt ra và có nhiều câu trả lờicho vấn đề đó Ở đây tôi chỉ xin đưa một số vấn đề về giải pháp giảng dạy vìđây chính là yếu tố quyết định để người dạy và người học hoàn thành nhiệm vụtrọng tâm của mình
Như chúng ta đã biết Trong chương trình giáo dục Địa lý là môn họcquan trọng nhằm mục đích trang bị cho học sinh (HS) những kiến thức cơ bản
về khoa học địa lý, cũng như vận dụng những kiến thức đó vào cuộc sống đểbiết cách ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh, đồng thời đápứng với yêu cầu phát triển của đất nước, xu thế tất yếu của thời đại Chính việcgiảng dạy Địa lý tạo điều kiện cho thế hệ trẻ tìm hiểu và đánh giá đúng tiềmnăng các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và thực trạng kinh tế - xãhội của địa phương, vùng miền, đất nước từ đó giúp họ định hướng nghềnghiệp, lao động sản xuất, góp phần xây dựng quê hương giàu đẹp.Vì vậy, làmthế nào để cho học sinh hiểu được cặn kẽ những vấn đề các em tìm hiểu trong lýthuyết và cảm thấy hứng thú hơn khi học, phát huy được tính tích cực, sáng tạocủa học sinh, tạo niềm tin, niềm vui trong học tập góp phần nâng cao chất lượng
bộ môn là một câu hỏi lớn mà tôi luôn luôn mong muốn có lời giải đáp hoànchỉnh Xuất phát từ những vấn đề trên và một số kinh nghiệm trong giảng dạy
bộ môn Địa lí, tôi đưa ra sáng kiến: “Một số giải pháp nhằm tạo hứng thú để
nâng cao chất lượng dạy và học môn Địa lí 9 ở trường THCS Lâm Xa” 1.2 Mục đích nghiên cứu.
Phân tích được thực trạng giảng dạy bộ môn Địa lí 9 hiện nay tại trườngTHCS Lâm Xa và đưa ra một số giải pháp giảng dạy bộ môn, phù hợp với điềukiện thực tiễn nhà trường nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học hướngtới mục tiêu chung của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
Trang 2diện, có tri thức, có đạo đức, sức khỏe đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
Qua sáng kiến hướng dẫn học sinh áp dụng kiến thức kiến thức Địa lí 9vào thực tiễn đáp ứng nguyên lí giáo dục học đi đôi với hành, giáo dục kết hợpvới lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợpvới giáo dục gia đình và giáo dục xã hội nhằm góp phần nâng cao chất lượngdạy và học
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
- Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn Địa lí 9 cho họcsinh khối 9 trường THCS Lâm Xa, Bá Thước, Thanh Hóa
- Mức độ hứng thú, khả năng tích cực học tập của học sinh khối 9 trườngTHCS Lâm Xa, Bá Thước, Thanh Hóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Tham khảo, nghiêncứu tài liệu hướng dẫn về phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực Nghiên cứuSGK, sách tham khảo, sách chuẩn kiến thức kĩ năng bộ môn Địa lí
- Phương pháp quan sát: Quan sát thái độ, mức độ hứng thú và sự tích cựchọc tập của học sinh qua môn Địa lí 9 ở trường THCS Lâm Xa
- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm dạy và học: Tích lũy các giờ dạytrên lớp, dự giờ đồng nghiệp, đồng nghiệp dự giờ góp ý, tham gia các buổi tậphuấn sinh hoạt chuyên môn đầy đủ
- Phương pháp phân tích: So sánh chất lượng giờ dạy, lực học, mức độtích cực của học sinh khi chưa áp dụng SKKN với khi đã áp dụng SKKN
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong nghị quyết TW 4 khóa VII (tháng1/1993), Nghị quyết TW2 khóa VIII (tháng12/1996), được cụ thể hóa trong Luật giáo dục đào tạo, đặc biệt trong chỉ thị số 15 (tháng 4/1999), điều 24:2 luật giáo dục ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Dạy học và phát triển gắn bó chặt chẽ với nhau Dạy học không chỉ nhằmcung cấp cho học sinh một khối lượng tri thức lí thuyết do nội dung chươngtrình và sách giáo khoa đã quy định, mà phải tổ chức các hoạt động tổ chức chohọc sinh lĩnh hội tri thức một cách tích cực chủ động, độc lập để phát triển nănglực cũng như phát triển tư duy khoa học, rèn được trí thông minh, óc sáng tạo,
Trang 3suy nghĩ linh hoạt và vận dụng kiến thức vào thực tế đời sống có hiệu quả Đó lànhững phẩm chất trí tuệ của con người lao động mới theo đúng mục tiêu đào tạocủa nhà trường, của cấp học
Đối với môn Địa lí nói chung và môn Địa lí 9 nói riêng, việc dạy học gâyđược hứng thú, sự hấp dẫn trong tiết học sẽ giúp các em nhận thấy kiến thứcmôn Địa lí thật gần gũi và bổ ích Khi học sinh được hiểu thấu đáo các vấn đềĐịa lí, được hướng dẫn cách vận dụng vào thực tiễn các em trở nên yêu thíchĐịa lí hơn, hứng thú với môn Địa lí, thấy được tầm quan trọng của Địa lí, cũngnhư các giá trị thực tiễn của Địa lí mang lại Những yếu tố trên sẽ là cở sở, làtiền đề cho việc nâng cao thành tích học tập môn học của học sinh, góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục chung trong nhà trường
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Trong những năm qua quá trình dạy học môn Địa lí 9 tại trường THCSLâm Xa một phần chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của người học do một sốnguyên nhân khách quan và chủ quan cơ bản sau:
Thứ nhất, là do người dạy dành phần lớn cho việc nghiên cứu lý thuyết,phần kiến thức vận dụng vào thực tiễn còn hạn chế
Thứ hai, do giáo viên chưa quan tâm đúng mức đối tượng giáo dục, chưa
đặt ra cho mình nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu, dạy học chưa vận dụng vào thực tiễn Hiện tượng dùng đồng loạt cùng một cách dạy, một bày giảng cho
nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít ở một số giáo viên
Thứ ba, với phương pháp không tiến bộ mà người giáo viên đã trở thành
người cảm nhận, truyền thụ tri thức một chiều, đánh giá kiểm tra học sinh một
chiều, học sinh ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, nên các tiết học trở nên gò
bó Khi gặp các tình huống thực tế học sinh chưa áp dụng giải thích được hoặccòn lúng túng trước các hiện tượng đó nên không khắc sâu được kiến thức mônhọc, vậy nên chất lượng môn học cũng chưa cao
Thứ tư, ngày nay với sự phát triển của công nghệ thông tin, việc giảng dạyĐịa lí trở nên sinh động hơn, phong phú hơn với nhiều hình thức tổ chức sinhđộng, nhưng thực tế thì việc sử dụng công nghệ thông tin còn rất hạn chế chủyếu mới áp dụng cho các tiết thao giảng nên chưa hấp dẫn được học sinh dẫnđến chất lượng dạy và học cũng không được nâng lên
Thứ năm, còn rất nhiều phụ huynh học sinh có phần ít quan tâm đầu tưcho con em mình khi học các môn mang tính xã hội Trong khi đó: Môn Địa líkhông phải là môn học dễ, nó kết hợp kiến thức của nhiều môn học có tự nhiên
có xã hội, có Toán học, Sinh học, Lịch sử, GDCD; Vì vậy nếu không sắp xếpthời gian học tập hợp lí thì chắc chắn học sinh không hiểu bài và dẫn đến chánhọc
Kết quả khảo sát thực tế nhà trường ở hai năm học 2015 – 2016 và 2017- về sự hứng thú đối với môn Địa lí 9 và chất lượng giáo dục như sau:
Trang 42016-KẾT QUẢ KHẢO SÁT HỨNG THÚ BỘ MÔN ĐỊA LÍ 9 HAI NĂM HỌC
Bảng I
số HS
Rất hứng thú Bình thường Không hứng thú2015-2016
L %2015-
2016
9A 23 1 4,3 3 13,1 17 73,9 1 4,4 1 4,3 9B 23 0 0 4 17,4 15 65,2 3 13,1 1 4,3
Tổng số 46 1 2,2 7 15,2 32 69,6 4 8,6 2 4,4
2016-2017
9A 23 1 4,3 4 17,4 17 74,0 1 4,3 0 0 9B 25 1 4,0 5 20,0 17 68,0 1 4,0 1 4,0
Tổng số 48 2 4,2 9 18,7 34 70,8 2 4,2 1 2,1
Qua thực tế giảng dạy và khảo sát cho thấy nhiều học sinh còn thờ ơ vớimôn Địa lí, không hứng thú với bộ môn, số học sinh yêu thích Địa lí, ham tìmhiểu kiến thức môn Địa lí còn hạn chế Các em chưa tích cực phát biểu trong giờhọc nên việc học tập trở nên gò ép, kết quả học tập chưa cao Để tạo hứng thútrong giờ học cho học sinh khi học môn Địa lí, tạo động lực cho nâng cao chấtlượng giáo dục, tôi mạnh đưa ra một số giải pháp sau:
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để nâng cao chất lượng dạy và học môn Địa lí 9 ở trường THCS Lâm Xa.
2.3.1 Bản thân thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm để luôn kịp thời đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục [1]
Người giáo viên phải luôn trau dồi, bồi dưỡng kiến thức mới, hiểu đượcđối tượng bộ môn, nắm một cách hệ thống nội dung kiến thức bộ môn, đồng thờiphải khá am tường về thực tiễn đời sống liên quan đến môn học, có nghiệp vụ
sư phạm tốt và phương pháp giảng dạy tích cực để vận dụng linh hoạt vào dạyhọc và phát huy năng lực học sinh trong từng tiết dạy
Trang 52.3.2 Tạo sự hứng thú cho học sinh khi tìm hiểu kiến thức mới bằng cách dạy học thông qua các trò chơi địa lí.
Ở mỗi bài học tuỳ theo nội dung kiến thức giáo viên cần lựa chọn và liệt
kê các trò chơi phù hợp với nội dung bài học, soạn sẵn cách thức tổ chức, khéoléo lồng ghép đưa vào các giờ học vì thời gian giành cho vấn đề này khôngnhiều Trong nội dung trò chơi có chứa đựng những mâu thuẫn về mặt nhậnthức, đòi hỏi học sinh phải tích cực suy nghĩ dựa trên vốn kiến thức đã học vàphải vận dụng sáng tạo để giải quyết vấn đề hoặc ít nhất cũng tạo cho học sinhnhu cầu háo hức chờ đón lời giải đáp Điều đó giúp các em húng thú hơn vớimôn học, yêu thích môn học hơn và chất lượng giáo dục môn học cũng cao hơn
Để tiến hành một số trò chơi đạt hiệu quả cao, cả giáo viên và học sinhcần có sự chuẩn bị chu đáo:
Về lựa chọn nội dung: phần này do giáo viên nghiên cứu và lựa chọn
nhưng không phải tất cả các mục trong bài đều vận dụng trò chơi được mà tùytheo từng nội dung, từng đơn vị kiến thức
Chuẩn bị:
*Giáo viên: Có kế hoạch gặp gỡ học sinh trước 2-3 ngày để phổ biến nộidung mà các em cần nghiên cứu và chuẩn bị Đồng thời cung cấp cho các em tàiliệu có liên quan đến câu hỏi, bài học và cách tìm kiếm thông tin
*Học sinh: Nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ được giao Đọc, nghiên cứubài, câu hỏi, tài liệu để hiểu và trả lời câu hỏi (theo định hướng của giáo viên)
Có tinh thần tốt, tự tin để trình bày ý kiến của mình trước tập thể lớp
Tiến hành thực hiện:
Trong quá trình giảng các bài, mục, những đơn vị kiến thức có liên quan sẽtiến hành tổ chức trò chơi cho học sinh, tùy từng đơn vị kiến thức mà tiến hànhnhững trò chơi khác nhau
Một số ví dụ cụ thể để vận dụng một số trò chơi trong dạy học Địa Lý 9 tại
trường THCS Lâm Xa, Bá Thước, Thanh Hóa.
* Trò chơi kể tên: Bài 23+24 Vùng Bắc Trung Bộ
Lựa chọn nội dung:Trong bài này có nội dung cần tổ chức trò chơi: I Vị trí địa
lý và giới hạn lãnh thổ; II Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; Mục
3.Dịch vụ trong mục IV Tình hình phát triển kinh tế
Chuẩn bị:
*Giáo viên: + Đồ dùng: Lược đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ; Lược đồBiển - Đảo Việt Nam; Lược đồ kinh tế vùng Bắc Trung Bộ; Hình ảnh về một sốloài thủy sản ở vùng biển Bắc Trung Bộ; Máy chiếu
+ Nội dung: Câu hỏi chung cho cả lớp: Về nhà các em tìm hiểu vùng Bắctrung Bộ có những tỉnh nào giáp biển, kể tên một số đảo, một số cảng biển, bãibiển, một số loài thủy sản (tất cả học sinh phải tìm hiểu các nội dung đó mới có
Trang 6Nhóm 4: Yêu cầu: hãy kể tên các bãi biển của vùng Bắc Trung Bộ thuậnlợi cho phát triển du lịch?
Nhóm 5: Yêu cầu: hãy kể tên một số loài thủy sản của vùng Bắc TrungBộ?
*Học sinh: Nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ được giao; tất cả các học sinhphải tự tìm tòi về các nội dung GV giao; Các nhóm phải có trách nhiệm vềnhiệm vụ cụ thể của mình bầu trưởng nhóm và trưởng nhóm phải phân chianhiệm vụ cho từng cá nhân trong tổ để tránh sự trùng lặp
Tiến hành thực hiện: Mục I Vị trí địa lý và giới hạn lãnh thổ
- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát Lược đồ tự nhiên vùng BắcTrung Bộ; yêu cầu hãy kể tên các tỉnh giáp biển của vùng?
- Học sinh của nhóm 1 lần lượt đứng lên kể :Tỉnh Thanh Hóa; TỉnhQuảng Bình; Tỉnh Nghệ An; Tỉnh Quảng Trị; Tỉnh Hà Tĩnh; Tỉnh Thừa ThiênHuế
- Giáo viên xác định lại trên lược đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ, nhậnxét, kết luận
- Tiếp theo giáo viên yêu cầu học sinh hãy kể tên một số đảo của vùngBắc Trung Bộ?
- Nhóm 2 lần lượt đứng lên kể: Một số đảo của vùng Bắc Trung Bộ baogồm: đảo Hòn Nẹ, Hòn Mê (Thanh Hóa); đảo Hòn Ngư (Nghệ An); đảo Hải Âu(Quảng Bình); đảo Sơn Dương (Hà Tĩnh); Cồn Cỏ (Quảng Trị); Cù lao Hàn(Thừa Thiên huế)
- Giáo viên chiếu lược đồ Biển – Đảo Việt Nam, nhận xét, kết luận
Mục II Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
- Giáo viên yêu cầu học sinh hãy kể tên một số loài thủy sản của vùng BắcTrung Bộ?
- Nhóm 5 lần lượt đứng lên kể: Một số loài thủy sản của vùng Bắc Trung
Bộ bao gồm: Cá Trình, Tôm càng xanh; Cá Mòi, Tôm Hùm; Cá Nhồng, Mực
Các nhóm khác nhận xét, bổ xung và cổ vũ tinh thần nhóm 4
Giáo viên chiếu Lược đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ, nhận xét, kết luận.-Tiếp theo giáo viên yêu cầu học sinh hãy kể tên một số cảng biển củavùng Bắc Trung Bộ?
- Nhóm 3 lần lượt đứng lên kể: Một số cảng biển của vùng Bắc Trung Bộbao gồm: cảng Nghi Sơn, cảng Chân Mây; cảng Cửa Lò, cảng Thuận Ancảng Cửa Hội, cảng Cửa Việt; cảng Vũng Áng, cảng Hòn La; cảng Sơn Dương;cảng Cửa Gianh
Trang 7Các nhóm khác nhận xét, bổ xung và cổ vũ tinh thần nhóm 3.
Giáo viên chiếu Lược đồ tự nhiên vùng Bắc Trung Bộ, nhận xét, kết luận
Trò chơi dán hình và chữ: Bài 38 Phát triển tổng hợp kinh tế và
bảo vệ tài nguyên, môi trường Biển -Đảo.
Lựa chọn nội dung: Trong bài này có nội dung cần tổ chức trò chơi mục 4 Phát
triển tổng hợp giao thông vận tải biển
Chuẩn bị:
*Giáo viên: Lược đồ tiềm năng một số ngành kinh tế biển (hình 39.2 SGK
phóng to); Băng dính 2 mặt: Lược đồ trống Việt Nam.
*Học sinh: Nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ được giao; Bút dạ đen, giấytrắng, kéo cắt giấy
Tiến hành thực hiện: Chia lớp thành 3 nhóm:
Nhóm 1 dán tên các cảng biển Bắc Bộ
Nhóm 2 dán tên các cảng biển Trung Bộ
Nhóm 3 dán tên các cảng biển Nam Bộ
Khi tổng kết mục 4 Phát triển tổng hợp giao thông vận tải biển Giáo viêntreo lược đồ trống lên bảng và yêu cầu các nhóm đồng thời lên dán tên các cảngbiển ở nước ta theo nhiệm vụ được giao Các nhóm đã dán đúng tên, đúng vị trícủa các cảng biển lớn từ Bắc vào Nam gồm: Cảng Hải Phòng – Hải Phòng;Cảng Đà Nẵng –Đà Nẵng; Cảng Quy Nhơn –Quy Nhơn; Cảng Sài Gòn (Thànhphố Hồ Chí Minh) –Thành phố Hồ Chí Minh; Cảng Cái mép – Vũng Tàu
Qua các hoạt động vui chơi và giải trí bằng các trò chơi được lồng ghépvào bài học tôi thấy: HS thi đua học tập một cách tự giác, sáng tạo và không khílớp học sôi động; tài năng của HS được phá huy Thực tế cho thấy HS không chỉnắm nội dung bài học một cách chủ động, mà còn cảm nhận được cái đẹp củathiên nhiên, giá trị của các hoạt động sản xuất và lao động của con người, yêuđất nước, có ý thức trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ
tổ quốc
2.3.3 Vận dụng linh hoạt tích hợp liên môn vào dạy học Địa lí 9 nhằm tạo
sự hấp dẫn cho học sinh khi tìm hiểu kiến thức đồng thời phát huy năng lực học sinh [2]
Giữa các môn học, nhất là các môn học trong cùng một khối nhóm tựnhiên hay xã hội, bao giờ cũng có sự hỗ trợ kiến thức cho nhau Nội dung củamôn học này cũng có trong môn học khác và là cơ sở để học môn học khác tốthơn, sâu sắc hơn Chính vì vậy, việc dạy học kết hợp với kiến thức của các mônhọc khác sẽ giúp giáo viên tiếp cận tốt hơn, hiểu rõ hơn, sâu hơn những vấn đềđặt ra trong sách giáo khoa Còn học sinh có hội kết hợp kiến thức của nhiều bộmôn có liên quan đến giải quyết các vấn đề đựợc đặt ra trong bài học, có nhưvậy các vấn đề mới được làm sáng tỏ nhanh chóng và khoa học Từ đó, bài dạy
sẽ trở nên linh hoạt, sinh động hơn Học sinh có hứng thú học bài, được tìm tòi,khám phá nhiều kiến thức và được suy nghĩ sáng tạo nhiều hơn, giúp các em giảiquyết các tình huống, các vấn đề đặt ra trong môn học một cách nhanh nhất,
Trang 8hiệu quả nhất, giúp học sinh hiểu rộng hơn, sâu hơn về vấn đề trong môn học đó.
Từ đó vận dụng kiến thức vào giải thích các hiện tượng thực tế và áp dụng vàocuộc giúp yêu cuộc sống hơn và có ý thức bảo vệ môi trường sống hơn
Làm thế nào để việc tích hợp vừa tự nhiên, không miễn cưỡng, gượng ép, vừa bảo đảm được đặc thù của bộ môn, vừa đảm bảo tính vừa sức, vừalồng ghép được các nội dung giáo dục vào các tiết dạy cụ thể để mang hiệu quảnhư mong muốn, tôi đưa ra một số giải pháp sau:
Xác định các mức độ tích hợp trong các bài học: trước tiên Giáo viên cầnxác định nội dung cần tích hợp cụ thể là gì qua từng bài học (xác định địa chỉtích hợp), sau đó căn cứ vào thời lượng của bài học đó mà xác định hình thứctích hợp sao cho phù hợp (tích hợp ở mức mức độ toàn phần, mức độ bộ phận,hay chỉ dừng lại ở mức độ liên hệ)
Một số ví dụ cụ thể linh hoạt dạy học tích hợp trong dạy học Địa Lý 9 tại trường
THCS Lâm Xa, Bá Thước, Thanh Hóa.
Ví dụ 1. Khi dạy bài 23: Vùng Bắc Trung Bộ, GV yêu cầu HS sử dụng kiến thức
môn liên môn để nâng cao chất lượng bài học:
*Môn Giáo dục công dân: Lớp 7- bài 14: “Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên” Giáo dục ý thức trồng và bảo vệ rừng; Lớp 9 – bài 7 “ Kế thừa
và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc”
Tuy điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và lịch sử, xã hội khó khăn là thế nhưngcon người nơi đây rất hiếu học, lao động cần cù, kiên cường trong đấu tranhchống giặc ngoại xâm và phòng chống thiên tai Truyền thống đó thể hiện qua tỉngười lớn biết chữ cao hơn mức trung bình cả nước và đứng thứ 3 sau vùngĐồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ Đây là quê hương của nhiều vịlãnh tụ kiệt xuất, nhiều anh hùng dân tộc, nhiều danh nhân văn hóa, nhiều nhàthơ, nhạc sĩ nổi tiếng của đất nước Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh, Võ NguyênGiáp
+ Giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước: Bắc Trung Bộ là vùng có nhiều cảnh
quan thiên nhiên đẹp
+ Giáo dục tình yêu thương con người, biết “nhường cơm sẻ áo” cho nhữngngười gặp khó khăn hoạn nạn nhất là đồng bào miền Trung - nơi mà người dânthường xuyên phải nằm trong cảnh “màn trời chiếu đất” bởi thiên tai
*Văn học: Nguyễn Du (Truyện Kiều), Xuân Diệu (Thơ Duyên, Đây mùa thu
tới), Thanh Hải (Mùa xuân nho nhỏ)
*Âm nhạc : Trịnh Công Sơn “nhạc sĩ tài hoa” (Cát Bụi, Diễm Xưa, ), An
Thuyên (nhiều bài hát viết về Huế - Huế thương) Giáo dục ý thức vượt khó vươn lên trong học tập.
Ví dụ 2 Khi dạy bài: 38 Phát triển tổng hợp kinh tế và bảo vệ tài nguyên, môitrường biển đảo Mục I Biển và đảo Việt Nam, GV sử dụng kiến thức lịch sử đểkhẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Trang 9Một là, các bản đồ Việt Nam thế kỷ XVII đã gọi hai quần đảo bằng cáitên Bãi Cát Vàng và ghi vào địa hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi.
Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ (giữa) do Vua Minh Mạng cho vẽ năm 1838 có
thể hiện hai địa danh Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa Hai là, nhiều tài liệu cổ của Việt Nam như Toàn Tập Thiên Nam Tứ chí
Lộ Đồ Thư (thế kỷ XVII), Phủ Biên Tạp Lục (1776), Đại Nam Thực Lục TiềnBiên và Chính Biên (1844 - 1848), Đại Nam Nhất Thống Chí (1865-1875), cácChâu bản nhà Nguyễn (1802-1945) đều nói về hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa như là Bãi Cát Vàng vạn dặm trên Biển Đông và việc Nhà nước cửđội Hoàng Sa ra khai thác các quần đảo này
Khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Ba là, trong các bản đồ của Trung Quốc cho đến đầu thế kỷ 20 thể hiệnlãnh thổ Trung Quốc kết thúc ở đảo Hải Nam Trung Quốc, không có quần đảoHoàng Sa và Trường Sa Trong số đó có tấm bản đồ Hoàng Triều Trực Tỉnh Địa
Dư Toàn Đồ do Triều Thanh xuất bản năm 1904 mà Tiến sĩ Mai Hồng đã traotặng cho Bảo tàng Lịch sử Việt sử Việt Nam năm 2012
Trang 10Hoàng triều trực tỉnh địa dư bản đồ
Như vậy, chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, trong đó có hai quầnđảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được thế giới và cả người Trung Quốc từ xưakhẳng định qua các bản đồ hàng trăm năm trước Điều này phản ánh sự thật làquần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là của Việt Nam
Ví dụ 3 Khi dạy bài 2: “Dân số và sự gia tăng dân số” giáo viên có thể tích hợp ở mức độ liên hệ giáo dục ý thức về sinh đẻ có kế hoạch, kết hôn và sinh đẻ đúng độ tuổi…Tạo ra nhiều tình huống có vấn đề để thúc đẩy học sinh
tự tìm tòi, giải quyết (đặc biệt là trước những vấn đề mang tính thời sự, tínhtoàn cầu của nhân loại)
Ví dụ 4. Khi dạy bài: 39 Phát triển tổng hợp kinh tế và bảo vệ tài nguyên,môi trường biển đảo Mục III Bảo vệ tài nguyên và môi trường biển đảo
Sau khi tìm hiểu hiện trạng phát triển tổng hợp kinh tế biển giáo viên hỏi: Nêunhững khó khăn trong việc khai thác tài nguyên biển? Hiểu biết của em về ônhiễm môi trường biển - đảo?
Học sinh trả lời, giáo viên chuẩn kiến thức:
+ Những khó khăn: thiên tai trên biển Đông như bão, lốc, bão cát, sự xâmnhập của thủy triều; ô nhiễm biển, thiếu vốn để trang bị tàu đánh cá lớn, hiện đạihóa các cá và các nhà máy chế biến, phát triển nuôi trồng thủy sản theo côngnghệ cao;Tranh chấp trên Biển Đông gây khó khăn trong việc khai thác tàinguyên
+ Nguyên nhân ô nhiễm môi trường biển: Nguyên nhân chủ quan là docon ý thức của con người: như nguồn nước thải không qua xử lí từ ao hồ, sông,suối ở đất liền đổ ra biển; rác thải, chất thải của tàu thuyền; từ tai nạn tàu,thuyền bè trên biển sự cố tràn dầu; Nguyên nhân khách quan: do thiên tai: bão,lũ; Hậu quả: làm cho mức độ ô nhiễm của môi trường biển ngày càng gia tănglàm suy giảm nhanh chóng tài nguyên sinh vật, tài nguyên du lịch biển
Giáo viên hỏi: Người ta đã xử lí sự cố tràn dầu trên biển bằng cách nào?Học sinh: Liên môn với môn Vật lí để giải thích: Dùng phao để ngăn chặndầu loang, vì khối lượng riêng của dầu nhẹ hơn khối lượng riêng của nước, nênngười ta thường dùng phao để ngăn không cho dầu loang trên biển theo sự lantruyền của sóng
Trang 112.3.4 Tạo kịch tính trong giờ học giúp các em khắc sâu kiến thức và cảm nhận
sự bổ ích của kiến thức Địa lí 9.
Một kiến thức hay, một cách giải quyết vấn đề độc đáo là những ấn tượngkhó quên, lưu lại lâu bền trong trí nhớ mỗi HS Vì vây, khi học bài Đại lí, cầnchú ý tạo ra các ấn tượng sâu sắc về kiến thức Các ấn tượng có thể bắt nguồn từviệc sử dụng phương tiện trực quan trong bài học; việc kết hợp nghe và nhìn; từviệc làm Vì vậy, để tăng cường khả năng ghi nhớ cho HS bài học nên chọn cácbiện pháp học tập đề cao vai trò trao đổi thảo luận, thực hành và tạo kịch tínhtrong giờ học là một biện pháp như vậy
Thay vì gảng dạy theo một trình tự bình thường, giáo viên có thể biến tiếtdạy của mình thành một vở kịch hay hay một đoạn kịch ngắn, âm nhạc, vào bàidạy Địa lí với những hình ảnh, tình huống sống động khiến HS cảm thấy sảngkhoái, muốn được học và quên cả giờ ra chơi
Ví dụ: khi dạy bài 15 Thương mại và Du lịch
Vào đầu tiết học, giáo viên tiến hành bài học bình thường sau khi kết thúcphần I Thương mại, giáo viên mở bài hát: “Bốn phương trời” và bắt nhịp cho
HS hát tập thể bài hát này vừa để HS xả strees vừa khẳng định tịnh thần đaphương hóa trong ngoại giao và buôn bán quốc tế
Sang phần II: Du lịch, giao viên chọn 2 hoặc 3 HS có khả năng dẫnchương trình (HS xung phong hiệu quả hơn) làm hướng dẫn viên du lịch để giớithiệu về tuyến du lịch xuyên Việt (lưu ý nên chọn trước để HS chuẩn bị được bàigiới thiệu và hình ảnh về tuyến du lịch) Số HS còn lại là du khách (nôi địa vàquốc tế) sẽ đánh giá bài giới thiệu thông qua số lượng khách đăng ký tham ratheo đoàn của mỗi hướng dẫn viên
Sau khi HS “hướng dẫn viên” làm xong nhiệm vụ giới thiệu về tuyến dulịch xuyên Việt với nội dung chủ yếu là giới thiệu về tài nguyên du lịch và cáctrung tâm du lịch trên tuyến, giáo viên đánh giá bài thuyết trình bằng số lượngkhách tham ra ủng hộ mỗi đoàn, nhận xét nội dung bài thuyết trình, củng cố lạinội dung, mở video ca khúc “Việt nam quê hương tôi” hoặc “một thoáng quêhương” để kết thúc bài học
2.3.5 Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học Địa lí 9 tạo sự sinh động, hấp dẫn hơn cho học sinh khi học tập [3]
Việc phát triển tư duy cho HS luôn là một trong những ưu tiên hàng đầucủa mục tiêu GD Để hướng HS có cách học tích cực và tự chủ, chúng ta khôngchỉ cần giúp các em khám phá kiến thức mới mà còn phải giúp các em hệ thốngđược những kiến thức đó Việc xây dựng một “hình ảnh” thể hiện mối liên hệgiữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về mặt: ghi nhớ,phát triển, nhận thức tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo Một trongnhững công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên kết” là bản đồ tưduy
Trang 12Với HS: Học được phương pháp học tập ngắn gọn, tăng tính chủ động sángtạo và phát triển tư duy, đồng thời phát huy tối đa tính sáng tạo, lôi cuốn HStham gia vào bài giảng tạo điều kiện phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của
HS từ đó các em tự chiếm lĩnh kiến thức nhẹ nhàng, tự nhiên và hứng thú họctập hơn
Với GV: Sử dụng BĐTD để hệ thống hóa kiến thức một cách khoa họcđược thể hiện một cách trực quan mà không bị bỏ sót ý, ngoài ra sử dụng BDTDgiúp GV tạo ra các hình thức học tập khác nhau, sử dụng linh hoạt các phươngpháp dạy học, phối hợp sử dụng các thiết bị cần thiết góp phần đổi mới phươngpháp dạy học
Ví dụ 1: Trước khi học bài 14 Giao thông vận tải và bưu chính viễn thông.
Giáo viên yêu cầu 1 học sinh lên bảng điền các thông tin còn thiếu để hoànthiện BĐTD Cơ cấu ngành dịch vụ (nội dung phần 1 - Bài 13 Vai trò, đặc điểm pháttriển và phân bố của dịch vụ)
Việc hoàn thiện thông tin ở các nhánh còn thiếu là một yêu cầu đơn giản,không mất thời gian nhưng nếu học sinh không học bài thì sẽ không điền đượcthông tin hoặc điền không chính xác
Cơ cấu ngành dịch vụ (thiếu thông tin)
Cơ cấu ngành dịch vụ ( đủ thông tin)