1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số kinh nghiệm bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn địa lý 9 phần lý thuyết

40 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 481 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chất lượng đội ngũ giáo viên trong các nhà trường chưa có sựđồng đều ở các bộ môn, giáo viên dạy bồi dưỡng học sinh giỏi vừa phải bảo đảmchất lượng đại trà, khối lượng công việc nhiều, n

Trang 1

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU……… ………

I Lý do chọn đề tài:………

II Mục đích nghiên cứu:………

III Đối tượng nghiên cứu:

VI Phương pháp nghiên cứu:………

B PHẦN NÔI DUNG……… ………

I Cơ sở lí luận………

II Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến

1 Những thuận lợi, khó khăn khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:……

1.1 Thuận lợi:………

1.2 Khó khăn:………

2 Thực trạng về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Địa lí 9 trước khi thực hiện các giải pháp của sáng kiến kinh nghiệm:…………

III Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:

1 Giáo viên phải không ngừng học hỏi, đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao trình độ chuyên môn, nhiệt tình, tâm huyết với nghề nghiệp:………

2 2 Phát hiện những học sinh có khả năng về môn Địa lí và tiến hành tuyển chọn đội tuyển học sinh giỏi:

3 3 Xây dựng kế hoạch và chương trình bồi dưỡng:

4 Sưu tầm, biên soạn tài liệu bồi dưỡng:

5 Phương pháp bồi dưỡng:

5.1: Hướng dẫn học sinh khai thác các kiến thức lí thuyết cơ bản:

5.2: Hướng dẫn học sinh khai thác các kiến thức lí thuyết nâng cao:

6 Hướng dẫn học sinh nhận dạng câu hỏi:

6.1 Đối với dạng câu hỏi trình bày:

6.2 Đối với dạng câu hỏi chứng minh:

6.3 Đối với dạng câu hỏi giải thích:

6.4 Đối với dạng câu hỏi so sánh:

7 Thường xuyên kiểm tra kiến thức của chuyên đề mới ôn luyện

8 Rèn kĩ năng luyện các dạng đề tổng hợp (bao gồm cả kiến thức lí thuyết và bài tập):

9 Gặp gỡ, nhắc nhở và động viên học sinh trước khi đi thi

IV Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm………

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………

I Kết luận………

II Kiến nghị ………

PHỤ LỤC ………

2 2 3 3 3 3 3 4 4 4 5

5 6 6

7 7 9 10 10 11 11 12 12 13 14 14

15 16 16 17 17 18 19

Trang 2

A MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong điều kiện đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa vàhội nhập quốc tế thì việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực được coi là một trong bakhâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời pháttriển nguồn nhân lực trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnhtranh quốc gia Một trong các mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5năm, giai đoạn 2016 - 2020 thể hiện trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảnglà: Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực,nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Trong

đó, Giáo dục và Đào tạo là một trong những yếu tố quyết định chất lượng nguồnnhân lực, là nền tảng của chiến lược phát triển con người

Nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu trên, ngành Giáo dục trong những nămqua đang tích cực từng bước đổi mới nội dung chương trình, đổi mới phương pháp

dạy học, đổi mới công tác quản lý giáo dục, nâng cao chất lượng bồi dưỡng học

sinh giỏi hoàn thành mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhântài”

Hiện nay trong các trường phổ thông đang đẩy mạnh các hoạt động pháthiện, bồi dưỡng học sinh giỏi Đây chính là bồi dưỡng nhân tài cho quê hương, đấtnước trong tương lai, là một trong những nhiệm vụ chuyên môn quan trọng của nhàtrường Vì vậy, trong những năm qua công tác bồi dưỡng học sinh giỏi luôn nhậnđược sự chỉ đạo, quan tâm của các cấp, các ngành Các nhà trường đã có nhiều giảipháp mang tình bền vững trong công tác bồi bưỡng học sinh giỏi như: Lựa chọn độingũ Giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, có nhiều kinh nghiệm trongcông tác bồi dưỡng học sinh giỏi, tích lũy tài liệu qua nhiều năm; tăng cường đầu tưxây dựng cơ sở vật chất khang trang, trang thiết bị dạy học được tăng cường giúpcho việc dạy và học đạt kết quả tốt; có cơ chế khen thưởng, động viên giáo viên,học sinh, Đa số giáo viên nhận thức được trách nhiệm, tâm huyết đầu tư nhiềuthời gian cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi

Tuy nhiên, trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi vẫn còn những tồn tại,khó khăn nhất định Chất lượng đội ngũ giáo viên trong các nhà trường chưa có sựđồng đều ở các bộ môn, giáo viên dạy bồi dưỡng học sinh giỏi vừa phải bảo đảmchất lượng đại trà, khối lượng công việc nhiều, nên việc đầu tư cho công tác bồidưỡng học sinh giỏi có phần bị hạn chế; chất lượng học tập của các khối lớp, cácđội tuyển chưa đồng đều; một số học sinh và phụ huynh không có nhu cầu ôn luyênnhững môn được coi là môn phụ (trong đó có bộ môn Địa lí)

Là cán bộ quảnh lí phụ trách chuyên môn nhà trường, đồng thời cũng là mộtgiáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Địa lí, tôi xác định ngoài các nhiệm vụchuyên môn khác thì việc bồi dưỡng học sinh giỏi cũng là một trong những nhiệm

vụ cần hết sức được quan tâm, đầu tư Bởi vì đối với các nhà trường, chất lượnghọc sinh giỏi các bộ môn phản ánh một cách chính xác hơn năng lực dạy học củagiáo viên, đặc biệt là năng lực chuyên sâu bộ môn của giáo viên giảng dạy

Trang 3

Với mong muốn công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt kết quả tốt hơn, gópphần nâng cao về số lượng cũng như chất lượng của đội tuyển học sinh giỏi môn

mình phụ trách Tôi đã chọn và mạnh dạn trình bày sáng kiến kinh nghiêm: “Một

số kinh nghiệm bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lí lớp 9 phần lí thuyết” chia sẻ một số kinh nghiệm đúc rút được trong qua trình giảng dạy thời

gian vừa qua

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở khảo sát thực trạng công tác bồi dưỡng và chất lượng học sinhgiỏi môn Địa lí của trường THCS Vân Du, giáo viên rút ra những thuận lợi và khókhăn trong công tác bồi dượng học sinh tại đơn vị Tìm ra các giải pháp hiệu quảnâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp

Với mục đích chính là chia sẻ một vài kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡnghọc sinh giỏi, thông qua đó đưa ra một số giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượngcông tác bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Địa lí 9, góp một phần nhỏ vào việc nângcao chất lượng giảng dạy bộ môn Địa lí

Thông qua việc giáo viên hướng dẫn học sinh nắm bắt kiến thưc bộ môngiúp các em có cách nắm bắt kiến thức một cách nhanh chóng và hiệu quả, tạođược hứng thú học tập đối với bộ môn Địa lí

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Sáng kiến kinh nghiệm tập trung nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng caochất lượng bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lí 9 phần kiến thức lí thuyết

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong quá trình thực hiện sáng kiến, tôi đã sử dụng một số phương pháp sau: Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phương pháp tổng hợp đánh giá

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin

Ở Việt Nam, ngay từ xa xưa ông cha ta đã luôn chú trọng đến việc tìm kiếm,

bồi dưỡng người tài và đúc rút thành kinh nghiệm quí báu "Hiền tài là nguyên khí quốc gia" Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, ngày nay Đảng và

Nhà nước ta luôn coi trọng sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo, quan tâm đến nhân tốcon người và bồi dưỡng nhân tài Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc nhữngnhiệm kì gần đây đều khẳng định: Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu

Trang 4

nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; đầu tư cho Giáo dục

và Đào tạo là đầu tư phát triển Song song với nhiệm vụ nâng cao chất lượng đạitrà, thì đầu tư chất lượng mũi nhọn là một việc làm thiết thực của các cấp quản lýgiáo dục nói chung, các cơ sở giáo dục nói riêng Thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụtrên, có nghĩa là ngành giáo dục đang góp phần đáng kể vào công cuộc đẩy mạnh

“Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa” đất nước

Bồi dưỡng học sinh giỏi là quá trình trang bị thêm kiến thức, kĩ năng nhằmmục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực trong các lĩnh vực cụ thể Bồi dưỡng họcsinh giỏi là chủ động tạo ra môi trường và những điều kiện thích hợp cho người họcphát huy cao độ nội lực của mình đi đôi với việc tiếp nhận một cách thông minhhiệu quả ngoại lực (Người thầy có vai trò quan trọng hàng đầu) Cốt lõi trong côngtác bồi dưỡng học sinh giỏi là giúp người học về phương pháp, biết cách học, cáchnghiên cứu, cách tư duy cách tự đánh giá, tận dụng phương tiện hiện đại nhất đểtìm kiếm, thu thập, để xử lí thông tin để tự học

Môn Địa lí là môn học giúp học sinh có những hiểu biết về Trái Đất – môitrường sống của con người; về thiên nhiên và hoạt động kinh tế của con người trênthế giới, các khu vực trên thế giới; về đặc điểm tự nhiên, dân cư, tình hình pháttriển kinh tế - xã hội của Việt Nam, các vùng, địa phương học sinh đang sinh sống

Từ đó, các em biết vận dụng các kiến thức Địa lí để giảỉ thích bản chất các sự vật,hiện tượng Địa lí và bước đầu tham gia giải quyết những vấn đề của cuộc sống phùhợp với năng lực của học sinh Vì vậy, việc bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Địa lí

sẽ giúp các em chủ động lĩnh hội kiến thức, tự học, tự sáng tạo và vận dụng vàothực tế khi giải quyết các tình huống, hoàn cảnh cụ thể

Việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí là quá trình cung cấp cho học sinhnhững kiến thức và kĩ năng Địa lí, từ đó giúp các em biết vận dụng vào để giảiquyết từng vấn đề cụ thể Trong khi đó, khối lượng kiến thức trong môn Địa lítương đối nhiều và khó học Vì vậy, việc hướng dẫn học sinh nắm bắt kiến thức líthuyết trong môn Địa lí có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định đến kết quả làmbài của học sinh Học sinh có nắm chắc và hiểu được kiến thức lí thuyết thì mớibiết vận dụng vào giải quyết từng vấn đề cụ thể, thực tốt các kĩ năng trong môn Địa

Kế hoạch xây dựng nhà trường là một trong hai Trung tâm giáo dục chất lượng caocủa huyện nhà Nhà trường đã được tăng cường đội ngũ cán bộ, giáo viên có chấtlượng chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được đầu tư khá hoànchỉnh Chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực Tập thể cán bộ, giáo

Trang 5

viên nhiệt tình tâm huyết với nghề nghiệp, đoàn kết thống nhất trong nhiệm vụchung, có tinh thần xây dựng, giúp đỡ học hỏi, rèn luyện nâng cao tay nghề, tíchcực năng nổ trong các hoạt động chuyên môn của nhà trường Đây chính là môitrường thuận lợi cho bản thân tôi thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi

Phần lớn học sinh trường THCS Vân Du ngoan, ý thức học tập tốt Chấtlượng của học sinh đạt học lực khá, giỏi cao Nhiều học sinh có năng khiếu học tậpmôn Địa lí

Bản thân là giáo viên trẻ, nhiệt tình, được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹnăng nghề nghiệp, có khả năng tiếp cận tốt với công nghệ thông tin Tích cực traođổi, học hỏi bạn bè đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường để học hỏi và rút rađược những kinh nghiệm cần thiết áp dụng vào công tác Nhiều năm bồi dưỡng họcsinh giỏi, tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi cho huyện Thạch Thành dự thi cấp tỉnhnên có những kinh nghiệm nhất định và có cơ hội trau rồi kiến thức

1.2 Khó khăn:

Số lượng học sinh trong địa bàn Thị trấn Vân Du ít, lại không thu hút được

học sinh tại các xã lân cận (tổng số học sinh toàn trường những năm gần đây chỉ

trên, dưới 200 học sinh, học sinh khối 9 chỉ có dưới 50 em) nên chất lượng giáo dục

mũi nhọn của nhà trường chưa ổn định, không đồng đều ở các khối lớp, các bộ môn

và nên việc duy trì số học sinh giỏi các môn gặp nhiều khó khăn, việc lựa chọnnguồn học sinh giỏi không nhiều

Điều kiện kinh tế, đời sống, trình độ dân trí của địa phương chưa cao; việcđầu tư học tập của con em của nhiều bậc phụ huynh còn hạn chế

Các em lớp 9 đã được tiếp cận với các nội dung sinh hoạt hướng nghiệp, đa

số phụ huynh học sinh đã bước đầu định hướng nghề nghiệp và định hướng thi khốicho con em mình Việc thi chất lượng đầu vào lớp 10 không có môn Địa lí, do vậythường các em chỉ lựa chọn các môn học mang tính thực dụng cao như Văn, Toán,Tiếng Anh … Nhiều em học tốt môn Địa lí nhưng lại không tham gia vào đội tuyển

do sự định hướng của gia đình

2 Thực trạng về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Địa lí 9 trước khi thực hiện các giải pháp của sáng kiến kinh nghiệm.

Trong những năm qua, trường THCS Vân Du chúng tôi ngoài nhiệm vụ đảmbảo chất lượng giáo dục đại trà thì nhiệm vụ nâng cao chất lượng mũi nhọn, đặcbiệt là công tác bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi các các môn văn hóa là một trongnhững nhiệm vụ trọng tâm, luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Ban Giámhiệu, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường Nhờ sự nổ lực cố gắng không ngừngcủa tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh mà nhà trường luôn là đơn vị đứng trongtốp đầu của huyện về kết quả dự thi học sinh giỏi các cấp Tuy vậy số lượng cũngnhư chất lượng của các đội tuyển học sinh giỏi nói chung cũng như môn Địa lí nóiriêng còn chưa ổn định, chưa đạt được nhiều giải cao trong các kì thi học sinh giỏicấp huyện, tỉnh

Đối với bộ môn Địa lí, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cũng gặp phảikhông ít khó khăn Hiện nay, phần lớn học sinh đều cho rằng môn Địa lí là môn

Trang 6

phụ, thời gian học tập dành cho môn Địa lí khá ít, chủ yếu các em tập trung vàoviệc học tập các môn học theo định hướng của phụ huynh, chính vì vậy nhiều họcsinh không có nhu cầu tham gia ôn đội tuyển học sinh giỏi Địa lí Xuất phát từđiều này mà việc chọn lọc học sinh tham gia đội tuyển cũng gặp rất nhiều khókhăn Những học sinh giỏi thường không tham gia thi môn Địa lí, mà chủ yếu làcác em học sinh tốp sau, chất lượng “đầu vào” đội tuyển không cao nên nhiều họcsinh khả năng nhận thức chậm, kỹ năng tính toán còn hạn chế Mặt khác ở trườngTHCS Vân Du trong những năm gần đây số lượng học sinh mỗi khối ít nên việclựa chọn nguồn cho đội tuyển Địa lí càng trở nên khó khăn hơn Cố gắng sắp xếphợp lí thì mỗi môn cũng chỉ có 1 đến 2 học sinh “cứng” thuộc bộ môn của mình.

Thống kê kết quả thi học sinh giỏi môn Địa lí trong những năm đầu bồidưỡng tại trường tôi nhận thấy: số lượng học sinh tham ôn luyện đội tuyển học sinhgiỏi khá ít, kết quả chưa cao, chưa có tính bền vững, có năm số giải cấp huyện rấtthấp và không có học sinh dự thi cấp tỉnh

III CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Muốn bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi đạt kết quả cao, theo tôi cần cónhiều yếu tố: đó là sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời, sát sao của các cấp ngành, đoànthể, sự quan tâm của BGH, chuyên môn nhà trường; sự ủng hộ, tạo điều kiện củagia đình học sinh,… nhưng quan trọng nhất vẫn là 2 yếu tố, đó là giáo viên đứnglớp và học sinh

Tùy thuộc vào đặc trưng của từng bộ môn học và điều kiện cụ thể từng nhàtrường và địa phương mà giáo viên có các giải pháp phù hợp, hiệu quả cho công tácbồi dưỡng học sinh giỏi Nhưng trong khuôn khổ của sáng kiến cũng như điều kiện

cụ thể áp dụng tại trường THCS Vân Du, tôi chỉ xin tập trung vào một số giải pháp

mà bản thân tôi đã, đang làm và bước đầu đạt kết quả

1 Giáo viên phải không ngừng học hỏi, đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao trình độ chuyên môn, nhiệt tình, tâm huyết với nghề nghiệp.

Xuất phát từ quan niệm coi môn Địa lí là môn học phụ, môn không quantrọng của học sinh và phụ huynh, việc thi tuyển vào lớp 10 chỉ thực hiện ở 3 môn,trong đó không có môn Địa lí Mặt khác, do đặc trưng bộ môn khá khô khan, nộidung kiến thức nhiều, bao gồm cả những kiến thức khoa học xã hội và khoa học tựnhiên nên đã khiến cho nhiều em không tha thiết với bộ môn Địa lí Đứng trướcthực tế đó, nếu giáo viên chỉ lên lớp cho hết trách nhiệm, kém nhiệt tình, tâm huyết

… thì sẽ vô tình đẩy xa các em hơn đối với bộ môn Địa lí Vì vậy, muốn cho họcsinh yêu thích môn Địa lí, thì người giáo viên phải không ngừng trau dồi kiến thức,luôn giữ được ngọn lửa đam mê của tình yêu nghề nghiệp và lan truyền ngọn lửa ấyđến với các em học sinh Cố gắng tiếp cận và thực hiện đổi mới phương pháp dạyhọc, sáng tạo trong mỗi bài dạy

Trong dạy học, mỗi môn học đều có giá trị riêng của nó, người giáo viênphải thực sự nhiệt tình, xem việc giảng dạy bộ môn của mình là trách nhiệm, là sứmệnh cao cả và là vinh quang nghề nghiệp Bởi vì việc thầy cô có yêu nghề, yêuthích bộ môn của mình giảng dạy thì mới tạo được tiền đề tốt nhất để động viên,

Trang 7

khơi gợi niềm đam mê học tập bộ môn của các em học sinh Đây cũng chính làđộng lực để tôi luôn cố gắng tìm tòi, suy ngẫm, tìm ra những phương pháp hợp lí,phù hợp nhất đối với từng đối tượng học sinh để giảng dạy có hiệu quả Từ đó giúpcác em có niềm tin, sự đam mê và hứng thú tìm tòi kiến thức trong bộ môn Địa lí

Đối với bản thân tôi, từ sự đam mê, tâm huyết nghề nghiệp và ý thức cầutiến, đã từng bước trưởng thành hơn trong lĩnh vực chuyên môn, dần tạo được uytín trước bạn bè, đồng nghiệp, với phụ huynh học sinh và đặc biệt là đã lôi cuốnđược các em học sinh đến với môn học của mình Trong những năm gần đây sốlượng học sinh tự nguyện đăng kí tham gia đội tuyển môn Địa lí đã tăng lên, các

em thực sự say mê môn học, tự tin với lựa chọn của mình

2 Phát hiện những học sinh có khả năng về môn Địa lí và tiến hành

tuyển chọn đội tuyển học sinh giỏi:

Đây là khâu rất quan trọng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp

Do khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh có sự khác nhau, nên người giáo viêncần phát hiện chính xác năng lực của từng đối tượng học sinh để có phương phápgiảng dạy phù hợp Nếu giáo viên xác định đối tượng học sinh không chính xác thìkết quả bồi dưỡng sẽ không cao Vì vậy, giáo viên tuyển chọn đội tuyển học sinhgiỏi môn Địa lí 9 cần lưu ý một số điểm sau:

Việc phát hiện học sinh phải được theo dõi ngay từ năm học lớp 8 Trước hết

đó phải là các em yêu thích môn Địa lí; chịu khó tìm đọc tư liệu và ham học hỏi,

có khả năng tư duy tốt, có tố chất để có thể đáp ứng được yêu cầu của kiến thứcthuộc chương trình Địa lí lớp 9 (kinh nghiệm của tôi là chọn những em học tốt cácmôn tự nhiên như Toán, Vật lý, Hóa học … thì sẽ học tốt môn Địa lí) Từ cuối nămhọc lớp 8, tiến hành phổ biến chủ trương thành lập đội tuyển để các em đăng kí vàlập danh sách đội tuyển

Tham mưu với BGH nhà trường, tổ chuyên môn, hội ý với giáo viên chủnhiệm và các giáo viên bộ môn khác để thống nhất danh sách đội tuyển Trườnghợp một em có nhiều giáo viên ở đội tuyển khác lựa chọn thì phải có các ý kiến đểphân tích, đánh giá khả năng của học sinh phù hợp với đội tuyển nào Đối vớitrường THCS Vân Du thường thì ngoài căn cứ vào nguyện vọng lựa chọn đội tuyểncủa bản thân các em học sinh, còn có sự can thiệp của chuyên môn nhà trường, sựthống nhất của các giáo viên bộ môn dạy lớp 9 trong việc chọn và phân chia độituyển để đảm bảo mỗi đội tuyển đều có nhân tố tốt nhất ở bộ môn của mình

Việc lựa chọn đội tuyển nên lập danh sách số học sinh nhiều hơn số học sinhthuộc đội tuyển chính thức, điều này giúp giáo viên không bỏ sót những học sinh

có tố chất thuộc môn học của mình Hơn nữa, trong quá trình bồi dưỡng, kiểm tra

và khảo sát có thể loại bớt học sinh không đáp ứng được yêu cầu của bộ môn, việcnày vừa thúc đẩy và tạo động lực để các em còn lại học tốt hơn vừa tạo sự cạnhtranh lành mạnh để các em cùng phấn đấu

3 Xây dựng kế hoạch và chương trình bồi dưỡng

Thông qua bước này giúp giáo viên chủ động được thời gian ôn luyện, tạo tiền đề để triển khai cụ thể nội dung từng chủ đề, đồng thời giúp học sinh có thời

Trang 8

gian biểu cụ thể cho việc ôn luyện, chủ động nắm bắt kiến thức

Khi lập kế hoạch bồi dưỡng tôi căn cứ vào nhiều yếu tố: Trước hết, phải căn

cứ vào thời gian tổ chức kì thi học sinh giỏi cấp huyện của Phòng giáo dục, cấu trúc

đề thi học sinh giỏi do Phòng, Sở Giáo dục ban hành Từ đó xác định thời gian cụthể, nội dung và giới hạn kiến thức cần ôn luyện Căn cứ vào kế hoạch ôn luyệnchung của nhà trường, lịch học thêm buổi chiều của học sinh trong đội tuyển,… đểtránh tình trạng công việc chồng chéo và không thực hiện được kế hoạch

Trong kế hoạch bồi dưỡng đội tuyển, phải thể hiện được các chuyên đề thuộcnội dung bồi dưỡng, thời gian bồi dưỡng, phương tiên dạy học, phần điều chỉnh kếhoạch (nếu có) Lưu ý, trong kế hoach phải thể hiện đầy đủ cả nội dung ôn lí thuyết

và phần thực hành; phải dành một khoảng thời gian nhất định – khoảng ¼ thời gian

ôn luyện để các em luyện các dạng đề tổng hợp

Sau đây tôi xin trình bày mẫu kế hoạch bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏimôn Địa lí mà tôi vẫn thường thiết kế:

KẾ HOẠCH BỒI DƯỠNG ĐỘI TUYỂN HỌC SINH GIỎI

MÔN ĐỊA LÍ 9 – NĂM HỌC 2018 - 2019

1 Đặc điểm tình hình chung:

a Thuận lợi:

b Khó khăn:

2 Mục tiêu phấn đấu:

3 Biện pháp thực hiện kế hoạch:

4 Danh sách theo dõi kết quả khảo sát học sinh giỏi:

chúLần 1 Lần 2 Lần 3 Lần 4 … Lần n

- Hệ quả sự chuyển động của TráiĐất quanh trục

2

2Quả Địa Cầu

3 10/09/2018 Sự chuyển động của Trái Đất Hình Sự vận động

Trang 9

của Trái Đất quanhMặt Trời và cácmùa ở Bán CầuBắc.

6 22/09/2018

- Hướng dẫn và luyện giải cácdạng bài tập về cách tính khu vựcgiờ, giờ, đổi ngày

4 Hình: Các khu vựcgiờ trên Trái Đất

5.2 Chuyên đề II: Địa lí tự nhiên Việt Nam; Địa lí tự nhiên địa phương (lớp8)

(Chuyên đề này và các chuyên đề còn lại cũng lập kế hoạch bồi dưỡng tương

tự như chuyên đề 1 theo cấu trúc đề thi của Phòng và Sở Giáo dục)

4 Sưu tầm, biên soạn tài liệu bồi dưỡng:

Có thể nói, việc sưu tầm, sử dụng tài liệu bồi dưỡng có ý nghĩa vô cùng quantrọng đối với kết quả bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi Đó chính là cẩm nang đểgiúp các em tiếp cận gần nhất với các nội dung kiến thức cần ôn luyện, mở rộngđược kiến thức của mình

Hiện nay có rất nhiều sách nâng cao và các tài liệu tham khảo, mạngInternet, song để tìm được nội dung phù hợp là vấn đề không đơn giản Không cómột tài liệu nào là đáp ứng được tối ưu cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi nhưng nếugiáo viên sử dụng quá nhiều tài liệu sẽ gây rối hoặc nhiễu kiến thức, khó tập trungvào các vấn đề trọng tâm, nhưng nếu sử dụng ít tài liệu hoặc chỉ tập trung vào mộtcuốn nào đó thì cũng sẽ khó có kết quả cao được

Vì thế cần tham khảo ý kiến từ đồng nghiệp, bạn bè, những đồng chí là cốtcán bộ môn của huyện - những người có kinh nghiệm trong bồi dưỡng học sinh giỏicác cấp để lựa chọn tài liệu phù hợp

Một nguồn tài liệu nữa cũng hết sức phong phú và hữu ích đó là các chuyên

đề bồi dưỡng học sinh giỏi của đồng nghiệp đăng trên thư viện giáo án điện tửviolet, hệ thống đề thi học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh trong cả nước được đăngtải trên thư viện đề thi và kiểm tra của thư viện trực tuyến violet Nguồn đề thi này

Trang 10

rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên không phải đề thi nào cũng phù hợp và chínhxác, tùy chỉ đạo chuyên môn của từng sở Giáo dục mà kiến thức trong chương trìnhthi cũng có sự khác nhau Do vậy trong việc tham khảo nguồn đề thi này cũng cần

có những lưu ý và chọn lọc kỹ càng

Việc sưu tầm và biên soạn tài liệu được tôi tiến hành trong nhiều năm học,mỗi năm học đều được tôi bố sung điều chỉnh cho phù hợp với nội dung cấu trúccủa đề thi Tài liệu ôn lí thuyết được tôi sưu tầm và biên soạn theo các chủ đề vớicác mức độ kiến thức kết hợp với kiến thức phần liên hệ Địa phương và được biênsoạn thành câu hỏi cụ thể, bao gồm:

Phần I: Kiến thức cơ bản: Bao gồm những nội dung chính, cơ bản nhất và trảlời các câu hỏi trong Sách giáo khoa được vạch ra thành từng ý từ lớn đến nhỏ

Phần II: Kiến thức Nâng cao: Bao gồm hệ thống các dạng câu hỏi nội dunggiải thích, so sánh, các dạng câu hỏi tổng hợp, liên hệ

Phần III: Rèn luyện kĩ năng Atlat Địa lí Việt Nam: Bao gồm các nội dung

liên quan đến nội dung khai thác kiến thức và rèn luyện kĩ năng từ Atlat Địa lí Việt

Nam theo từng chủ đề

Phần IV: Liên hệ địa phương: Bao gồm những câu hỏi có nội dung liên quanđến Địa lí tự nhiên và kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa Phần này trong tài liệuđược tôi sưu tầm và thiết kế những nội dung cơ bản về Địa lí Thanh Hóa, gắn chặtvới kiến thức chung tại các chủ đề

Với cách làm như trên, tôi đã xây dựng và biên soạn được bộ tài liệu phù hợp

và rất hữu ích phục vụ cho công tác bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi Việc biênsoạn tài liệu ban đầu khá mất nhiều thời gian và công sức, đòi hỏi phải có sự đầu

tư, chăm chút và tính kiên trì Nhưng khi đã có được nguồn tài liệu rồi thì có thểphục vụ lâu dài và rất thiết thực, giúp giáo viên và học sinh có được cẩm nang hữuích trong mỗi buổi bồi dưỡng học sinh giỏi

Tài liệu này chỉ được sử dụng sau khi giáo viên và học sinh đã khai thác đầy

đủ các kiến thức cơ bản, cũng như kiến thức nâng cao ở mỗi chủ đề Kết thúc mỗichuyên đề, tôi in và photo tài liệu và phát cho từng học sinh và hướng dẫn cụ thểcác khai thác kiến thức trong tài liệu

(Nội dung tài liệu minh họa trình bày ở phần phụ lục I)

5 Phương pháp bồi dưỡng

Việc bồi dưỡng đội tuyển được thực hiện theo từng chuyên đề, thường mỗichuyên đề lớn có thể được chia thành nhiều nội dung nhỏ Với mỗi chuyên đề tôitiến hành theo thứ tự các bước như sau:

5.1 Hướng dẫn học sinh khai thác các kiến thức lí thuyết cơ bản:

Đây là bước rất quan trọng ảnh hưởng đến kết quả ôn luyện của cả chuyên

đề Bởi vì học sinh có nắm chắc được kiến thức cơ bản, hiểu được nội dung chính ởmỗi chuyên đề thì việc tiếp cận kiến thức nâng cao và giải các câu hỏi và bài tậpvận dụng mới dễ dàng

Nội dung phần kiến thức cơ bản trong môn Địa lí khá nhiều và đa dạng, dovậy đòi hỏi học sinh cần phải chăm chỉ học tập tích cực nắm bắt nội dung kiến

Trang 11

thức Đối với từng nội dung giáo viên cần giảng chi tiết, khắc sâu kiến thức cho họcsinh, lấy các ví dụ cụ thể, liên hệ với thực tế để giúp học sinh hiểu được bản chấtcủa vấn đề và nhớ kiến thức lâu dài

5.2 Hướng dẫn học sinh khai thác các kiến thức lí thuyết nâng cao:

Để học sinh nắm bắt được những kiến thức lí thuyết nâng cao thì trước tiêngiáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm bắt vững vàng những kiến thức cơ bản, trên

cơ sở đó hướng dẫn các kiến thức nâng cao Đối với môn Địa lí kiến thức nâng cao

là những nội dung liên quan đến việc giải thích, so sánh các sự vật hiện tượng, cácđối tượng Địa lí với nhau; những nội dung mang tình chất liên hệ giữa các chủ đềkhác nhau hay những nội dung mang tính chất liên hệ với thực địa Vì vậy việchướng dẫn khai thác kiến thức phần này đòi hỏi học sinh phải có tư duy Địa lí, biếtxâu chuỗi các nội dung khác lại với nhau để giải quyết vấn đề Mặt khác, trong quátrình hướng dẫn học sinh, giáo viên cần liên hệ các sự vật hiện tượng Địa lí với bênngoài thực tế, lấy dẫn chứng minh họa bài học ở thực tiễn gần gũi xung quanh Yêucầu học sinh vận dụng kiến thức để giải thích cho hiện tượng nhìn thấy trong thựctế

* Một số lưu ý trong quá trình hướng dẫn học sinh nắm bắt kiến thức:

Trong quá trình hướng dẫn học sinh nắm bắt kiến thức giáo viên cần sử dụngtriệt để các phương tiện dạy học trong các chủ đề cụ thể, đặc biệt là hệ thồng cácbiểu đồ, lược đồ, bản đồ treo tường và trong Atlat Địa lí Việt Nam Thông qua đóhướng dẫn lồng ghép việc khai thác và nắm bắt kiến thức trong Atlat cho học sinh

Song song với việc hướng dẫn học sinh nắm bắt kiết thức chung ở mỗi chủ

đề, thì cần lồng ghép các kiến thức phần Địa lí địa phương

Ngoài việc giáo viên cung cập các kiến thức mới và khó cho học sinh thìgiáo viên cần hướng dẫn học sinh phương pháp tự học, tự tìm tòi khám phá kiếnthức, chủ động lĩnh hội kiến thức Hưỡng dẫn cho học sinh thấy vai trò cũng nhưtầm quan trọng của việc tự đặt câu hỏi và tự trả lời, khuyến khích học sinh đưa ranhững thắc mắc và sẵn sàng đồi thoại tranh luận giải đáp thắc mắc cùng học sinh

6 Hướng dẫn học sinh kĩ năng nhận dạng và trả lời câu hỏi:

Bước này được tiến hành sau khi học sinh đã nắm bắt được đầy đủ các kiếnthức của bộ môn Đây là bước rất quanh trọng, quyết định đến kết quả bài làm củahọc sinh Qua thực tế bồi dượng học sinh giỏi tôi nhận thấy: nhiều học sinh tuythuộc kiến thức tốt nhưng kết quả bài làm thường không cao điểm Một trongnhững nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng này là do học sinh còn lúng túngtrong việc nhận dạng câu hỏi và cách làm bài thi Đặc biệt khi gặp các dạng bài khónhư dạng câu hỏi chứng minh, giải thích, so sánh thì nhiều em đều không biết phảiđưa kiến thức gì để làm rõ yêu cầu của đề bài nên cứ thuộc kiến thức gì liên quan làviết vào bài làm, thậm chí các em còn bị lạc đề Để khắc phục hạn chế trên tôi đãtiến hành hướng dẫn học sinh theo các bước sau:

Việc hướng dẫn học sinh nhận dạng câu hỏi cần bám sát vào các động từđược sử dụng trong câu hỏi và nội hàm của câu hỏi Trên cơ sở học sinh đã nắm bắt

Trang 12

được kiến thức, kết hợp với việc sử dụng tài liệu do tôi sưu tầm và biên soạn, từngbước hướng dẫn học sinh phân loại và nhận dạng từng loại câu hỏi cụ thể:

6.1 Đối với dạng câu hỏi trình bày:

Đây là dạng câu hỏi dễ nhất trong hệ thống câu hỏi lí thuyết, chỉ cần học sinhhiểu và nắm vững kiến thức cơ bản của bài học là có thể trình bày đầy đủ nội dungcâu hỏi

Có thể nhận biết dạng câu hỏi trình bày qua các động từ được sử dụng trongcâu hỏi như: “nêu”; “trình bày”; “phân tích” hoặc “như thế nào?”; “thế nào?”;

Mặc dù là dạng câu hỏi dễ nhưng giáo viên cần lưu ý học sinh không đượcchủ quan, cần sắp xếp các ý theo trình tự với đầy đủ các luận điểm và các luận cứđảm bảo câu trả lời rõ dàng, mạch lạc đầy đủ ý

Trong dạng câu hỏi này còn có dạng: ngoài yêu cầu về kiến thức cơ bản, câuhỏi còn đòi hỏi ít nhiều phải tổng hợp, lựa chọn kiến thức thì giáo viên phải hướngdẫn học sinh tổng hợp, lựa chọn các nội dung phù hợp đưa vào bài làm

Ví dụ: Trình bày những biểu hiện của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùathông qua sông ngòi ở nước ta? Trong trường hợp này giáo viên yêu cầu học sinhphải khái quát lại các đặc điểm của sông ngòi nước ta, sau đó phải có sự lựa chọnđặc điểm sông ngòi nào là phù hợp với tình chất nhiệt đới ẩm gió mùa,

6.2 Đối với dạng câu hỏi chứng minh:

Là dạng câu hỏi yêu cầu học sinh làm rõ về một vấn đề, một đối tượng Địa línào đó, mà cần sử dụng hàng loạt các dẫn chứng để khẳng định, để làn sáng tỏ vấn

đề cần chứng minh Khi làm bài học sinh cần trình bày theo trình tự từ ý khái quátđến ý cụ thể và bắt buộc phải có dẫn chứng

Nhận dạng câu hỏi này học sinh có thể dựa vào các từ và cụm từ được chotrong đề như: “chứng minh rằng”; “chứng minh”; “lấy ví dụ để chứng minh”; “tạisao nói”

Để có thể trả lời dạng câu hỏi này học sinh phải nắm vững kiến thức cơbản, nhớ các số liệu liên quan đến yêu cầu của câu hỏi (có những số liệu bắt buộcphải nhớ nhưng cũng có những số liệu được khai thác trong Atlat) Sau đó, hướngdẫn học sinh biết sàng lọc, lựa chọn kiến thức, số liệu cần thiết để đưa ra nhữngluận điểm chứng minh nhận định

Dạng câu hỏi chứng minh có thể chia thành hai loại: loại câu hỏi chứngminh hiện trạng, loại câu hỏi chứng minh tiềm năng Mỗi dạng câu hỏi yêu cầu mộtkhối lượng kiến thức khác nhau, nên đỏi hỏi giáo viên phải phân biệt và có cáchhướng dẫn khác nhau cho học sinh:

Đối với dạng câu hỏi chứng minh hiện trạng: Yêu cầu chứng minh hiệntrạng của các hiện tượng Địa lí tự nhiên, kinh tế - xã hội (gồm kiến thức Địa lí dân

cư, Địa lí kinh tế, Sự phân hóa lãnh thổ) Để hướng dẫn học sinh trả lời dạng câuhỏi này tôi yêu cầu học sinh thực hiện theo các bước sau:

Cần đọc kỹ câu hỏi, chú ý xem câu hỏi yêu cầu cần phải chứng minh điều gì

để chọn lọc cách giải phù hợp Từ đó học sinh có định hướng và lựa chọn cách giảiphù hợp

Trang 13

Huy động các kiến thức, dữ liệu (đặc biệt là các số liệu) có liên quan đếncâu hỏi, trong đó đặc biệt chú ý khai thác các số liệu từ hệ thống các biểu đồ, lược

đồ, bản đồ trong Atlat

Dùng kiến thức cơ bản và số liệu đã chọn lọc để chứng minh theo yêu cầucâu hỏi đặt ra tìm ra những bằng chứng có tính thuyết phục cao, phù hợp với yêucầu của câu hỏi

Đối với dạng câu hỏi chứng minh tiềm năng: loại câu hỏi dạng này thườngliên quan đến tiềm năng (thế mạnh hay hạn chế) của một ngành hay một vùng lãnhthổ nào đó Việc hướng dẫn được thực hiện tương tự như trên, giáo viên cần khắcsâu cho học sinh các kiến thức thuộc về tiền năng bao gồm các yếu tố: Vị trí địa lý;điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên (địa hình, đất đai, khí hậu, thủy văn,sinh vật, khoáng sản); điều kiện kinh tế - xã hội (dân cư và lao động, kết cấu hạtầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật, đường lối chính sách, thị trường và các nhân tốkhác) Từ việc xác định đầy đủ các yếu tố trên, giáo viên cần hướng dẫn học sinhlựa chọn đơn vị kiến thức phù hợp với nội dung của câu hỏi

6.3 Đối với dạng câu hỏi giải thích:

Đây là dạng câu hỏi khó đòi hỏi học sinh phải nắm vững kiến thức tổnghợp các chủ đề đồng thời biết vận dụng chúng để giải thích một hiện tượng địa lí(tự nhiên hoặc kinh tế- xã hội) Thông qua dạng câu hỏi này nhằm đánh giá nănglực tư duy ở mức độ cao của học sinh

Để nhận dạng loại câu hỏi này, giáo viên hướng dẫn học sinh phải dựa vàoyêu cầu đề bài Trong đề bài xuất hiện các từ và cụm từ như: “hãy giải thích”; “tạisao”; “vì sao”; “giải thích vì sao”; “giải thích nguyên nhân”

Muốn trả lời được dạng câu hỏi này, học sinh phải nắm vững kiến thức cơbản trong các chủ đề, ghi nhớ chủ động, tìm mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thứcvới nhau, nắm vững được bản chất của kiến thức đó Biết cách khái quát các kiếnthức liên quan đến câu hỏi và mối liên hệ của chúng để tìm ra nguyên nhân

Do là dạng câu hỏi tổng hợp với nhiều cách thức trả lời khác nhau, nêntrong quá trình hướng dẫn học sinh trả lời, giáo viên cần giúp các em nhận dạng vàhướng trả lời cho từng dạng câu hỏi:

Đối với loại câu giải thích căn cứ vào nguồn lực:

Để trả lời, cần phải dựa vào những kiến thức đã có về nguồn lực (Vị trí địa lí;nguồn lực tự nhiên (bao gồm: Địa hình; Đất, Khí hậu, Thuỷ văn, Sinh vật, Khoángsản); nguồn lực kinh tế - xã hội ( bao gồm: Dân cư, lao động, Cơ sở hạ tầng, cơ sởvật chất - kĩ thuật,Thị trường, Đường lối, chính sách, Các nguồn lực khác (vốn đầu

tư, lịch sử khai thác lãnh thổ ) để giải thích về vấn đề mà câu hỏi đặt ra

Trên cơ sở các nhóm nguồn lực nêu trên giáo viên cần hướng dẫn học sinhlựa chọn những nguồn lực có liên quan đến câu hỏi, ưu tiên cho những nguồn lựcquan trọng Có những dạng câu hỏi không nhất thiết phải trình bày hết các nguồnlực, những điều kiện thuận lợi, khó khăn

Đối với dạng câu giải thích căn cứ vào khái niệm:

Giáo viên cần yêu cầu học sinh nắm được khái niệm các vấn đề, sự vật, hiện

Trang 14

tượng Địa lí để giải thích đầy đủ, tránh trùng lặp, trong quá trình nêu từng luậnđiểm cần nêu các dẫn chứng chứng minh cho nhận định.

Đối với dạng câu giải thích mang tính chất tổng hợp nhiều đơn vị kiết thức: Đây là dạng câu hỏi tương đối khó, yêu cầu học sinh phải nắm bắt và hiểuđược nhiều nội dung kiến thức khác nhau nên trong quá trình hướng dẫn học sinhgiáo viên cần lưu ý học sinh: cần đọc kỹ câu hỏi để xác định hướng trả lời; tái hiệnkiến thức có liên quan đến câu hỏi, sắp xếp và tổng hợp các ý lớn để giải thích

Các câu hỏi thuộc dạng giải thích rất dễ nhận biết Việc phân loại và nhậndạng các câu hỏi chỉ mang tính chất tương đối nhằm giúp học sinh nhanh chóngnhận dạng câu hỏi để từ đó chọn cách giải phù hợp Điều quan trọng của cách giảidạng câu hỏi này là học sinh cần hiểu được nội hàm của câu hỏi

6.4 Đối với dạng câu hỏi so sánh:

Đây là dạng câu hỏi tương đối khó đỏi hỏi học sinh phải nắm vững kiến thức

cơ bản; hệ thống hóa, phân loại, sắp xếp kiến thức theo từng nhóm riêng biệt để sosánh; khái quát hóa kiến thức đã có để tìm ra các tiêu chí giống và khác nhau Trên

cơ sở đó tìm ra các tiêu chí so sánh phù hợp với yêu cầu câu hỏi

Để hướng dẫn học sinh trả lời dạng câu hỏi này tôi đã tiến hành theo cácbước như sau:

Xác định rõ yêu cầu của đề thuộc dạng so sánh (giống và khác nhau), haytìm sự giống nhau (hoặc sự khác biệt) của các đối tượng để lựa chon câu trả lờithích hợp, đúng với trọng tâm câu trả lời

Xác định các tiêu chí để so sánh, đây là bước có ý nghĩa quyết định đến chấtlượng câu trả lời, giúp cho bài làm được mạch lạc hơn, giảm thiểu sót ý Để xácđịnh chính xác các tiêu chí, giáo viên cần hướng dẫn học sinh hệ thống và khái quáthóa kiến thức đã học trên cơ sở đó chọn lọc những tiêu chí nổi bật để so sánh tránhnhững ý vụn vặt, thiếu trọng tâm (điều này còn phụ thuộc vào yêu cầu của đề)

Tiếp theo hướng dẫn học sinh so sánh theo các tiêu chí cụ thể: việc này đượctiến hành bằng cách học sinh chọn lọc các kiến thức cơ bản lần lượt trong các tiêuchí Trong quá trình bày cần thể hiện tách biệt các điểm giống và khác nhau, sắpxếp các tiêu chí theo mạch kiến thức tránh bỏ sót ý bài làm

Do đặc trương dạng câu hỏi này mang tình khái quát cao, liên quan đếnnhiều đơn vị kiến thức ở các chủ đề khác nhau, nên trong quá trình hướng dẫn dạngcâu này thường được tôi tiến hành sau khi kết thúc các chuyên đề lớn nhằm giúphọc sinh có đầy đủ kiến thức để so sánh

Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân trong việc hướng dẫn học sinhphân loại và nhận dạng câu hỏi Việc nhận dạng này có những câu hỏi chỉ mangtính chất tương đối, điều quan trong nhất là viên phải hướng dẫn học sinh nắm bắtkiến thức một cách tự giác, hiểu được bản chất của vấn đề, hiểu được nội hàm củacâu hỏi Từ đó bài làm của học sinh mới có chất lượng

7 Thường xuyên kiểm tra kiến thức của chuyên đề mới ôn luyện

Kết thúc mỗi chuyên đề lớn, giáo viên phải dành thời gian để kiểm tra, đánhgiá lại kết quả ôn luyện của học sinh sau chuyên đề đó Việc kiểm tra kiến thức của

Trang 15

các em học sinh được tiến hành bằng nhiều hình thức như: Vấn đáp, viết, kết hợptrong dạy chuyên đề mới, Việc làm này hết sức quan trọng bởi vì qua kiểm tra,giáo viên nắm bắt được những “lỗ hổng” kiến thức, những điểm mạnh, điểm yếucủa từng học sinh để có phương án bổ sung và uốn nắn kịp thời Việc kiểm tra vàchấm chữa bài nghiêm túc ngay sau mỗi chuyên đề cũng là động lực để các emphấn đấu và cố gắng hơn, tạo không khí thi đua lành mạnh giữa các thành viêntrong đội tuyển Qua kết quả kiểm tra các chuyên đề, giáo viên từng bước đánh giáđược khả năng đáp ứng yêu cầu bộ môn của từng em, đây cũng là cơ sở để giúpgiáo viên lập danh sách cho đội tuyển chính thức.

Việc kiểm tra kiến thức được tiến hành từ việc kiểm tra các kiến thức cơ bảnđến kiến thức nâng cao, việc khảo sát, kiểm tra của các chuyên đề sau phải kiểm tra

cả kiến thức của những chuyên đề trước, điều này vừa giúp các em làm quen vớicác dạng đề tổng hợp vừa giúp các em ôn lại kiến thức cũ chắc chắn hơn Giáo viêncần đa dạng hóa các hình thức kiểm tra kiến thức của học sinh như: kiểm tra viết,vấn đáp, phỏng vấn, Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng được tôi tiếnhành với nhiều các thức khác, có thể trực tiếp do giáo viên chấm chữa cho từng họcsinh hoặc do các em học sinh đổi bài cho nhau và chầm chữa cho nhau dưới sựhướng dẫn của giáo viên

Thường xuyên giao và chữa bài tập về nhà Thực tế thời lượng các em được

ôn luyện trong các buổi tập trung lên lớp là chưa đảm bảo, do đó sau mỗi buồi ôntập, giáo viên cần giao lượng bài tập phù hợp với thời gian ở nhà để các em tựluyện Ở buổi học sau, nhất thiết giáo viên phải kiểm tra việc tự học, tự làm bài tập

về nhà của các em Đối với những câu hỏi hay bài tập khó mà học sinh còn lúngtúng, giáo viên cần hướng dẫn cụ thể để các em có thể tự làm được Đối với nhữnghọc sinh chưa hoàn thành việc làm bài tập ở nhà giáo viên cũng cần có ý kiến nhắcnhở để các em tự giác và tích cực hơn

Khuyến khích học sinh trong việc tự giác lĩnh hội kiến thức, tích cực tìm tòitài liệu bổ sung những kiến thức còn thiếu, tăng cường trao đổi kiến thức với thầy

và các bạn Bồi dưỡng năng lực tự kiểm tra, đánh giá của học sinh

8 Rèn kĩ năng luyện các dạng đề tổng hợp (bao gồm cả kiến thức lí thuyết và bài tập)

Việc ôn luyện giải các đề tổng hợp được tiến hành khi học sinh đã hoànthành việc ôn luyện kiến thức cho học sinh và được tiến hành trước khi thi từ 2 đến

3 tuần Giáo viên tiến hành sưu tầm, biên soạn các dạng đề tổng hợp kiến thức theocấu trúc của đề thi và tiến hành tổ chức cho học sinh kiểm tra nghiêm túc như thi.Việc làm này giúp học sinh làm quen với các đề có kiển thức tổng hợp, xác định vàcăn chỉnh thời gian làm bài một cách hợp lí, ôn luyện và khắc sâu một lẫn nữanhững kiến thức đã được học, đồng thời tạo tâm lí tự tin cho học sinh khi làm bài.Đặc biệt là các em có thể rèn luyện được kĩ năng làm bài, làm quen với áp lực thờigian Việc xây dựng và thiết kế các đề khảo sát cũng cần phải chú ý đến mức độ vàyêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thời gian làm bài phải tương đương với đề của cấp

tổ chức mà học sinh dự thi Nội dung câu hỏi và bài tập trong các đề không nên

Trang 16

trùng nhau để học sinh có cơ hội được trải nghiệm và thử sức với nhiều kiến thứcmới Nội dung của câu hỏi và bài tập cũng không nên yêu cầu học sinh phải nhớmột cách máy móc mà phải hiểu rõ bản chất của vấn đề để vận dụng Việc chấm,chữa bài cũng phải được thực hiện một cách nghiêm túc, giáo viên phải có nhữngđiều chỉnh kịp thời về kiến thức và kĩ năng làm bài của học sinh, điều đó giúp các

em kịp thời nhận biết được những hạn chế để khắc phục, phát huy những ưu điểm

(Một số đề minh họa trình bày ở phần phụ lục II)

9 Gặp gỡ, nhắc nhở và động viên học sinh trước khi đi thi.

Việc này giúp các em học sinh có sự chuẩn bị chu đáo nhất trong quá trìnhthi, tạo tâm lí thoải mái để làm bài Một số lưu ý học sinh trước và trong khi thi:

Trước khi đi thi:

Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, dụng cụ cần thiết như: Atlat, thước kẻ, thước đo

độ, compa, máy tính, bút viết,…

Giữ gìn để đảm bảo sức khỏe, chuẩn bị tinh thần tốt nhất cho kì thi

Khi vào phòng thi:

Phác thảo nội dung cơ bản ra giấy nháp

Không được bỏ cuộc kể cả khi gặp phải những câu bất ngờ

Trình bày bài làm đảm bảo sạch, đẹp, khoa học các luận điểm, luận cứ được thể hiện rõ ràng, mạch lạc…

Sau khi hoàn thành bài làm cần kiểm tra lại một lượt các nội dung của bài làm

IV HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Sau thời gian nghiên cứu thực nghiệm (trong 3 năm học: Năm học 2016 –2017; 2017 – 2018 và 2018 – 2019) với những biện pháp đã nêu trong sáng kiến,tôi nhận thấy kết quả có sự thay đổi rõ rệt trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi,ngày càng có nhiều học sinh hứng thú học tập đối với bộ môn Địa lí, nhiều em đãchủ động, tích cực và hăng hái tham gia đăng kí vào đội tuyển Trong quá trình ônluyện các em rất nỗ lực và cố gắng, thể hiện sự quyết tâm cao và tự tin khi tham gia

dự thi

Chất lượng và số lượng giải tăng lên, đây là niềm động viên, khích lệ vôcùng to lớn đối với bản thân tôi và cũng là động lực để tôi cố gắng và nỗ lực hơnnữa Tổng hợp lại kết quả thi học sinh giỏi lớp 9 cấp huyện và cấp tỉnh môn Địa lí

mà học sinh trường THCS Vân Du đạt được trong 3 năm tôi ôn luyện là:

Số học sinh đạt giải cấp huyện: 12 em (1 giải nhì, 8 giải ba, 3 giải khuyếnkhích)

Trang 17

Số học sinh đạt giải cấp tỉnh: 02 em (2 giải khuyến khích).

Cùng với việc áp dụng các giải pháp trên trong việc ôn thi đội tuyển học sinhgiỏi môn Địa lí lớp 9 cho phòng giáo dục Thạch Thành tham gia dự thi tỉnh, nămhọc 2017 – 2018 tôi cùng với đồng nghiệp phụ trách đội tuyển đã có 7 học sinh đạtgiải cấp tỉnh, trong đó có 1 giải nhất, 6 giải khuyến khích

Tuy kết quả còn khiếm tốn so với một số môn học khác hay với các địa bàn

ở các huyện miền xuôi, song với đặc thù điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều khókhăn của một trường đóng trên địa bàn huyện miền núi thì kết quả này cũng đónggóp một phần không nhỏ vào thành tích chung của nhà trường Đây là những kếtquả ban đầu, là động lực để bản thân tôi cố gắng hơn nữa trong công tác bồi dượnghọc sinh giỏi

C KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

I KẾT LUẬN

Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong những nhiệm vụ trọng tâmluôn được các nhà trường và các cấp quản lí giáo dục hết sức quan tâm đầu tư Đâycũng chính là nhiệm vụ nặng nề nhưng cũng rất vinh quang đối với mỗi giáo viênđứng lớp Muốn đạt được kết quả tốt trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi thì bảnthân giáo viên phải thường xuyên học hỏi, tự trau dồi kiến thức nâng cao trình độ,liên tục cập nhật nâng cao kiến thức để theo kịp những đổi mới về nội dung,phương pháp giảng dạy cũng như các yêu cầu của các kỳ thi học sinh giỏi mỗi năm

Từ đó, giúp cho giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn, tự tin hơn trong công tácgiảng dạy

Trong thực tiễn công tác, mỗi giáo viên có những giải pháp riêng phù hợpvới điều kiện thực tiễn của nhà trường và địa phương để áp dụng cho nhiệm vụ bồidưỡng đội tuyển học sinh giỏi bộ môn của mình Ngoài ra cũng cần phải phát hiệnnhững em có tố chất, có năng lực, yêu thích bộ môn để lựa chọn đúng đối tượnghọc sinh để bồi dưỡng Tập cho các em có phương pháp tự học, tự nghiên cứu tàiliệu; Khơi gợi ở các em niềm say mê đối với môn học và đặc biệt phải tạo cho các

em có ý chí, có quyết tâm cao, biết đặt ra mục tiêu của mình cần vươn tới, đạt đượccái đích mà mình đã đặt ra

Trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi trong môn Địa lí 9 giáo viên cầnphải gắn chặt những kiến thức lí thuyết với việc rèn luyện các kĩ năng Địa lí chohọc sinh, cần đan xen các chủ đề lí thuyết với các chủ đề rèn luyện kĩ năng cho họcsinh, nhằm giúp các em có thời gian để nắm bắt đầy đủ cả kiến thức và kĩ năng,đồng thời hạn chế học sinh bị nhàm chán trong quá trình ôn luyện Trong khuônkhổ sáng kiến này, tôi chỉ đề cập đến một số giải pháp ôn luyện các kiến thức phần

lí thuyết, còn nội dung hướng dẫn kĩ năng cũng được tôi xây dựng thành cácchuyên đề và tiến hành hướng dẫn theo các bước cụ thể cho học sinh nhưng khôngđược trình bày trong sáng kiến này

Sau một thời gian nghiên cứu sáng kiến này, đã giúp tôi có những hiểu biếtsâu sắc hơn trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Có thể bản thân chưa kiểmnghiệm đầy đủ về các giải pháp trên, tuy nhiên khi áp dụng trong giảng dạy, tôi

Trang 18

nhận thấy đã có những hiệu quả nhất định, do vậy tôi mạnh dạn được chia sẻ cùngđồng nghiệp Hi vọng sáng kiến của mình sẽ góp một phần nhỏ nâng cao hiệu quảtrong việc bồi dưỡng học sinh giỏi Rất mong được sự trao đổi, đóng góp ý kiếncủa các thầy, cô đồng nghiệp để sáng kiến của mình có thể phát huy được tính ứngdụng phổ biến và đạt hiệu quả cao hơn nữa.

XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG Thạch Thành, ngày 20 tháng 4 năm 2019

Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinhnghiệm của mình viết, không sao chép nội

dung của người khác

Người viết

Hà Huy Trung

Trang 19

PHỤ LỤC I MỊNH HỌA TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG CỦA MỘT CHỦ ĐỀ

B ĐỊA LÍ LỚP 8

CHỦ ĐỀ I ĐỊA HÌNH VIỆT NAM

I Kiến thức cơ bản:

1 Trình bày đặc điểm chung của địa hình nước ta?

- Đồi núi là bộ phận quan trọng nhất của cấu trúc địa hình Việt Nam

+ Đồi núi chiếm ¾ diện tích, nhưng chủ yếu là đồi núi thấp Địa hình thấpchiếm tới 85% diện tích, địa hình núi cao trên 2000m chỉ chiếm 1%

+ Đồi núi tạo thành một cánh cung lớn hướng ra Biển Đông chạy dài 1400

km, từ miền Tây Bắc tới miền Đông Nam Bộ

+ Nhiều vùng núi lan ra sát biển hoặc bị biển nhấn chìm thành các quần đảo.+ Địa hình đồng bằng chỉ chiếm ¼ diện tích

- Địa hình nước ta được Tân kiến tạo nâng lên và tạo thành nhiều bậc kế tiếpnhau:

+ Địa hình phân thành nhiều bậc kế tiếp nhau, thấp dần từ nội địa ra biển,trùng với hướng Tây Bắc- Đông Nam

+ Cấu trúc địa hình gồm hai hướng chính: TB-ĐN và vòng cung ( dẫnchứng)

- Địa hình nước ta mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa và chịu tác độngmạnh mẽ của con người

+ Môi trường nóng ẩm đất đá bị phong hóa mạnh Lượng mưa lớn, tập trungtheo mùa gây ra xói mòn, xâm thực…đặc biệt hình thành nên địa hình Cacxtơ

+ Các dạng địa hình nhân tạo xuất hiện nhiều

2 Chứng minh rằng đồi núi là bộ phận quan trọng nhất của cấu trúc địa

hình Việt Nam

- Địa hình đồi núi chiếm 3/4 diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi thấp: GồmKhu vực đồi núi ĐB, Vùng núi Tây Bắc, Vùng núi Trường Sơn Bắc, vùng núi vàcao nguyên Trường Sơn Nam

- Địa hình thấp dưới 1000m chiếm 85% Núi cao trên 2000m chỉ chiếm 1%

- Đồi núi tạo thành một cánh cung lớn hướng ra Biển Đông chạy dài 1400

km, từ miền Tây Bắc tới miền Đông Nam Bộ

- Nhiều vùng núi lan ra sát biển hoặc bị biển nhấn chìm thành các quần đảo

- Địa hình đồng bằng chiếm 1/4 lãnh thổ đất liền và bị đồi núi ngăn cáchthành nhiều khu vực

3 Chứng minh địa hình nước ta mang tính nhiệt đới gió mùa ẩm và chịu tác động mạnh mẽ của con người.

- Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa: Bồi đắp nhanh chóng các châu thổ, xói

mòn mãnh liệt ở địa hình dốc, trượt lở đất đá ở vùng đồi núi, tạo hang độngcacxtơ

Trang 20

- Chịu tác động mạnh mẽ của con người: Làm ruộng bậc thang, đắp đê,

xây hồ chứa thủy lợi, xây dựng thủy điện , mở tuyến giao thông làm tăng tốc độ,cường độ bóc mòn và trượt lở đất

4 Chứng minh cấu trúc địa hình Việt Nam là cấu trúc cổ được Tân Kiến Tạo nâng lên và tạo thành nhiều bậc kế tiếp nhau?

- Lãnh thổ Việt Nam đã được củng cố vững chắc từ sau gia đoạn Cổ kiếnTạo Trải qua hàng chục triệu năm không được nâng lên, các vùng núi bị ngoại lựcbào mòn, phá hủy tạo nên những bề mặt san bằng cổ, thấp và thỏai

- Đến Tân Kiến Tạo, vận động tạo núi Hymalaya đã làm cho địa hình nước tanâng cao và tạo thành nhiều bậc kế tiếp nhau và thấp dần từ nội địa ra biển gồm đồinúi, đồng bằng, thềm lục địa

- Hướng nghiêng chung của địa hình nước ta là thấp dần từ nội địa ra biển,trùng với hướng tây bắc – đông nam vad được thể hiện rõ qua hướng chảy của cácdòng sông lớn

- Hướng núi chính là hướng Tây Bắc – Đông Nam và hướng vòng cung.Hướng Tây Bắc – Đông Nam thể hiện rõ rệt trong khu vực từ hữu ngạn sông Hồngđến đèo Hải Vân Hướng vòng cung là hướng sơn văn chính của khu vực tả ngạnsông Hồng và khu vực Nam Trung Bộ Các núi Việt bắc và Đông Bắc là nhữngcánh cung ngắn mở rộng về phía bắc và qui tụ tại vùng núi Tam Đảo Còn ở NamTrung Bộ là cả một cánh cung lớn ôm lấy các Cao Nguyên Ba dan phía tây Cáchướng núi chính của hệ núi Việt nam đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các luồng giómùa khiến cho sự phân hóa bắc nam và đông tây của khí hậu Việt Nam rất rõ ràng

5 Địa hình đồi núi nước ta được chia thành mấy vùng? Đó là những vùng nào?

Địa hình đồi núi nước ta được chia thành 4 vùng là: Đông Bắc, Tây Bắc,Trường Sơn Bắc, Trường Sơn Nam

6 Trình bày đặc điểm các khu vực địa hình nước ta?

a Khu vực đồi núi.

- Đồi núi nước ta có độ cao, độ dốc và hình dạng khác nhau tùy thuộc theotính chất nham thạch cũng như cường độ hoạt động địa chất và csự tác động củacác yếu tố ngoại lực và được chia thành các vùng núi sau:

- Vùng núi Đông Bắc: là một vùng đồi núi thấp nằm ở tả ngạn sông Hồng đi

từ dãy con Voi đến bờ biển Quảng Ninh Vùng núi này nổi bật với các cánh cunglớn và vùng đồi phát triển rộng Các cánh cung mở rộng về phía bắc, đầu chụm lại

ở Tam Đảo Địa hình caxtơ khá phổ biến tạo nên những cảnh quan đẹp và hùng vĩnhư Ba Bể, Vịnh Hạ Long

- Vùng núi Tây Bắc nằm giữa sông Hồng và sông Cả là những dãy núi caohùng vĩ, những sơn nguyên đã vôi hiểm trở nằm song song và kéo dài theo hướngTây băc – Đông nam, điển hình là dãy Hoàng Liên Sơn Tây bắc còn có nhữngcánh đồng nhỏ trù phú nằm giữa vùng núi cao như Than Uyên, Nghĩa Lộ, MườngThanh

Ngày đăng: 18/10/2019, 06:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w