khả năng thanh toán là 1 trong những vấn đề được quan tâm đặc biệt trong phân tích tài chính doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động kinh doanh , doanh nghiệp luôn cần đảm bảo được khả năng thanh toán cho các nghĩa vụ đáo hạn của mình. Sự thất bại trong việc đáp ứng các nghĩa vụ này ...
Trang 1BÀI 6 PHÂN TÍCH DÒNG TIỀN VÀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN
Hướng dẫn học
Khả năng thanh toán là một trong những vấn đề được quan tâm đặc biệt trong phân tích tài chính doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp luôn cần đảm bảo khả năng thanh toán cho các nghĩa vụ đáo hạn của mình Sự thất bại trong việc đáp ứng các nghĩa vụ này có thể đẩy doanh nghiệp đến bờ vực phá sản Khả năng thanh toán phụ thuộc chủ yếu vào dòng tiền của doanh nghiệp, do đó phân tích khả năng thanh toán không thể tách rời cơ sở phân tích các dòng tiền của doanh nghiệp
Để học tốt bài này,sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, trả lời các câu hỏi ôn tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu: Chương 2, sách “Giáo trình Tài chính doanh nghiệp” (Dùng cho sinh viên trong ngành), PGS.TS Lưu Thị Hương (chủ biên), Nxb ĐH Kinh tế Quốc dân, 2014
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học
Nội dung
Bài học này giới thiệu phương pháp xác định dòng tiền từ hoạt động sản xuất – kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính của doanh nghiệp Bài học cũng trình bày về một số nội dung và phương pháp phân tích dòng tiền của các hoạt động nêu trên, kèm theo bài tập tình huống minh họa Bên cạnh đó, bài học giới thiệu các tỷ số tĩnh và động phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Mục tiêu
Sau khi học xong bài học này, sinh viên có thể thực hiện được các việc sau:
• Trình bày được các phương pháp xác định dòng tiền: Phương pháp trực tiếp và gián tiếp
Áp dụng được các phương pháp này để ước lượng dòng tiền trong những trường hợp
cụ thể
• Trình bày được phương pháp phân tích dòng tiền từ hoạt động sản xuất – kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính Áp dụng được kỹ năng phân tích này trong xử
lý ngân quỹ và quản lý dòng tiền của doanh nghiệp
• Trình bày được cách tính toán và diễn giải ý nghĩa của các tỷ số tĩnh và động phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Trang 2T ình huống dẫn nhập
Habubank: Sự ra đo của một thương hiệu
Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội (Habubank) được thành lập từ 1989 Sau hơn
20 năm phát triển, đến thời điểm 2011 Habubank đã có gần 100 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc, quy mô vốn điều lệ hơn 4.000 tỷ đồng, cùng với một đội ngũ nhân viên chất lượng cao, là một trong những ngân hàng tên tuổi của Việt Nam
Giai đoạn 2009 – 2011, Habubank vẫn báo cáo lợi nhuận sau thuế dương trong mỗi năm: Năm
2009 là hơn 407 tỷ, 2010 là 476 tỷ, 2011 là 234 tỷ Tuy thế ngân hàng này vẫn bị suy giảm khả năng thanh toán nghiêm trọng, gặp khó khăn trong việc trang trải các chi phí và thanh toán nợ Tháng 8/2012, sau một thời gian vật lộn với những vấn đề về thanh khoản, Habubank đã buộc phải sáp nhập vào ngân hàng SHB để tìm chỗ nương tựa Thương hiệu Habubank sau hơn
20 năm tồn tại đã chính thức bị xóa sổ khỏi thị trường
Tại sao ngân hàng Habubank bị suy giảm khả năng thanh toán mặc dù vẫn có lợi nhuận? Yếu tố gì quyết định khả năng thanh toán của một doanh nghiệp?
Trang 36.1 Phương pháp xác định dòng tiền
Lưu chuyển tiền tệ (LCTT) của doanh nghiệp được chia thành 3 nhóm dựa trên các hoạt động, nghiệp vụ phát sinh chúng:
LCTT từ hoạt động sản xuất – kinh doanh: Phát sinh từ các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp và các hoạt động khác không phải là hoạt động đầu
tư hay hoạt động tài chính
LCTT từ hoạt động đầu tư: Phát sinh từ các hoạt động mua sắm, xây dựng, thanh
lý, nhượng bán các tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền
LCTT từ hoạt động tài chính: Phát sinh từ các hoạt động tạo ra thay đổi về quy mô
và kết cấu vốn của doanh nghiệp
Trong đó, lưu chuyển tiền thuần của hoạt động sản xuất – kinh doanh có thể được xác định bằng một trong 2 phương pháp:
Phương pháp trực tiếp
Phương pháp gián tiếp
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính được xác định bằng phương pháp trực tiếp
6.1.1 Phương pháp trực tiếp
Nguyên tắc: Phân tích và tổng hợp trực tiếp các dòng tiền nhập quỹ (vào) và xuất quỹ
(ra) theo từng nội dung, nghiệp vụ từ các sổ sách kế toán của doanh nghiệp
Đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh:
Các dòng tiền nhập quỹ của hoạt động sản xuất – kinh doanh:
Tiền thu từ bán hàng;
Tiền thu từ cung cấp dịch vụ;
Tiền bán chứng khoán vì mục đích thương mại;
Tiền bản quyền, phí, hoa hồng,…
Các dòng tiền xuất quỹ của hoạt động sản xuất – kinh doanh:
Tiền trả cho nhà cung ứng vật tư, hàng hóa, dịch vụ;
Tiền trả lương, thanh toán thù lao cho người lao động;
Tiền trả lãi vay;
Tiền nộp thuế,…
Lưu chuyển tiền thuần (Dòng tiền ròng hay chênh lệch thu – chi) từ hoạt động sản xuất – kinh doanh = Tổng dòng tiền nhập quỹ hoạt động sản xuất – kinh doanh – Tổng dòng tiền xuất quỹ hoạt động sản xuất – kinh doanh
Ví dụ: Doanh nghiệp A có các thông tin về thu chi cho hoạt động sản xuất – kinh doanh quý 1/N như sau (Đơn vị: triệu VND):
Tiền bán hàng cả quý là 1.200, thu ngay trong quý
Tiền cung cấp dịch vụ thu được trong cả quý là 500, thu ngay trong quý
Tiền chi mua nguyên vật liệu cả quý là 600, thanh toán ngay trong quý
Trang 4 Tiền chi trả lương nhân công cả quý là 400, thanh toán ngay trong quý
Lãi vay cả quý là 120, trả vào cuối quý
Thuế phải nộp cả quý là 80, nộp vào tháng 3
Ngoài ra doanh nghiệp không có thêm bất kỳ khoản thu hay chi nào khác trong quý
Yêu cầu: Xác định lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất – kinh doanh trong
quý 1/N của doanh nghiệp A theo phương pháp trực tiếp
Dựa vào các thông tin trên, có thể xác định dòng tiền nhập quỹ, xuất quỹ và lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất – kinh doanh trong quý 1/N của doanh nghiệp như sau:
Dòng tiền nhập quỹ = Tiền bán hàng + Tiền cung cấp dịch vụ = 1.200 + 500 = 1.700 Dòng tiền xuất quỹ = Tiền chi mua nguyên vật liệu + Tiền chi trả lương nhân công + Tiền trả lãi vay + Tiền nộp thuế = 600 + 400 + 120 + 80 = 1.200
Lưu chuyển tiền thuần = Nhập quỹ – Xuất quỹ = 1.700 – 1.200 = 500
Đối với hoạt động đầu tư:
Các dòng tiền nhập quỹ của hoạt động đầu tư:
Tiền thu thanh lý, nhượng bán TSCĐ và các tài sản dài hạn khác
Tiền thu hồi cho vay, bán lại chứng khoán nợ của những tổ chức khác
Tiền thu hồi đầu tư vốn chủ sở hữu vào doanh nghiệp khác
Tiền thu từ lãi vay, cổ tức và lợi nhuận được chia
Các dòng tiền xuất quỹ của hoạt động đầu tư:
Tiền chi mua sắm, xây dựng TSCĐ và các tài sản dài hạn khác
Tiền chi cho vay và mua các chứng khoán nợ của những tổ chức khác
Tiền chi đầu tư vốn chủ sở hữu vào doanh nghiệp khác
Lưu chuyển tiền thuần (Dòng tiền ròng hay chênh lệch thu – chi) từ hoạt động đầu tư
= Tổng dòng tiền nhập quỹ hoạt động đầu tư – Tổng dòng tiền xuất quỹ hoạt
động đầu tư
Đối với hoạt động tài chính:
Các dòng tiền nhập quỹ của hoạt động tài chính:
Tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của chủ sở hữu
Tiền vay nhận được (từ vay nợ ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc phát hành chứng khoán nợ – trái phiếu)
Các dòng tiền xuất quỹ của hoạt động tài chính:
Tiền chi trả vốn góp cho chủ sở hữu, mua lại cổ phiếu
Tiền chi trả nợ vay (gốc vay)
Tiền chi trả nợ thuê tài chính
Trả cổ tức bằng tiền mặt, chia lợi nhuận
Lưu chuyển tiền thuần (Dòng tiền ròng hay chênh lệch thu – chi) từ hoạt động tài
chính = Tổng dòng tiền nhập quỹ hoạt động tài chính – Tổng dòng tiền xuất quỹ
hoạt động tài chính
Trang 56.1.2 Phương pháp gián tiếp
Nguyên tắc: Điều chỉnh lợi nhuận sau thuế thành lưu chuyển tiền thuần của hoạt động
kinh doanh bằng cách loại bỏ tác động của những khoản mục không phải bằng tiền, lãi/lỗ từ hoạt động đầu tư và tài chính, sự thay đổi của các khoản mục tài sản ngắn hạn không phải tiền và tương đương tiền và nợ ngắn hạn trong kỳ kinh doanh
Lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD = Lợi nhuận sau thuế +/ – Khoản mục điều chỉnh Theo phương pháp này, xuất phát điểm để ước lượng lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất – kinh doanh là lợi nhuận sau thuế, được lấy ra từ báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Giá trị của các khoản mục điều chỉnh sẽ được cộng hoặc trừ vào lợi nhuận sau thuế theo nguyên tắc nhất định để cho kết quả là lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất – kinh doanh, cụ thể như sau:
Những chi phí không bằng tiền, bao gồm khấu hao tài sản cố định, chi phí trích lập
dự phòng rủi ro sẽ được cộng vào LNST (lưu ý rằng khấu hao về bản chất là sự phân bổ chi phí đầu tư vào tài sản cố định theo vòng đời / thời gian sử dụng của tài sản cố định đó, nên không làm phát sinh thực chi)
Lãi từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính (nếu có) sẽ được trừ vào LNST Ngược lại, lỗ từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính (nếu có) sẽ được cộng vào LNST
Thay đổi tài sản ngắn hạn (TSNH) và nợ ngắn hạn:
o Tăng TSNH không phải tiền và tương đương tiền, ví dụ tăng phải thu ngắn hạn, tồn kho: Trừ vào LNST
o Giảm TSNH không phải tiền và tương đương tiền, ví dụ giảm phải thu ngắn hạn, tồn kho: Cộng vào LNST
o Tăng nợ ngắn hạn, ví dụ tăng phải trả nhà cung cấp vật tư trong ngắn hạn: Cộng vào LNST
o Giảm nợ ngắn hạn, ví dụ giảm phải trả nhà cung cấp vật tư trong ngắn hạn: Trừ vào LNST
Các khoản mục điều chỉnh và cách điều chỉnh được tóm tắt trong bảng sau:
Khoản mục điều chỉnh
Chi phí không bằng tiền
Thu nhập từ HĐ đầu tư
Thay đổi tài sản ngắn
hạn và nợ ngắn hạn
Trang 6Ví dụ: Dưới đây là Bảng cân đối kế toán ngày 01/01/N và 31/12/N và Báo cáo kết quả
kinh doanh năm N của doanh nghiệp K (Đơn vị: triệu VND):
Bảng cân đối kế toán 01/01/N
Tài sản Nguồn vốn
Tổng
Bảng cân đối kế toán 31/12/N
Tài sản Nguồn vốn
Báo cáo kết quả kinh doanh năm N của công ty K
Doanh thu thuần 1.920 Chi phí vật tư (1.330) Khấu hao TSCĐ (90)
LNTT 305
LNST 228,75
Yêu cầu: Xác định LCTT từ hoạt động kinh doanh của công ty K trong năm N theo
phương pháp gián tiếp dựa vào những thông tin trên Giả định trong kỳ doanh nghiệp
không có thu nhập từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính
Hướng dẫn:
LNST = 228,75
Chi phí khấu hao TSCĐ = 90
Sự thay đổi TS ngắn hạn không phải tiền và tương đương tiền và nợ ngắn hạn:
Phải thu ngắn hạn: Tăng 140,8
Tồn kho: 300 – 100 = 200 (tăng)
Phải trả NCC ngắn hạn: Tăng 280,5
Phải nộp NSNN ngắn hạn: Tăng 13
→ LCTT từ HĐKD: 228,75 + 90 – 140,8 – 200 + 280,5 + 13 = 271,45
Trang 76.2 Phân tích dòng tiền
6.2.1 Phân tích dòng tiền từ hoạt động sản xuất – kinh doanh
Nhà phân tích cần xác định các nhân tố quyết định
dòng tiền từ hoạt động sản xuất – kinh doanh Điều
này đòi hỏi phân tích sự thay đổi của các khoản mục
tài sản ngắn hạn không phải tiền và nợ ngắn hạn để xác
định các nguồn phát sinh dòng tiền Nhà phân tích có
thể dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập theo
phương pháp gián tiếp để thấy được doanh nghiệp
đang có xu hướng tạo ra tiền hay chi tiền cho hoạt
động sản xuất – kinh doanh và tại sao
Việc phân tích dòng tiền từ hoạt động sản xuất – kinh doanh còn bao gồm so sánh lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh với LNST và xác định nguyên nhân gây ra chênh lệch giữa lưu chuyển tiền thuần và LNST để từ đó đánh giá chất lượng của lợi nhuận Nếu doanh nghiệp có lợi nhuận sau thuế cao nhưng lưu chuyển tiền thuần kém thì điều đó chứng tỏ phần lớn lợi nhuận của doanh nghiệp đang tồn tại dưới dạng các khoản phải thu Nói cách khác, doanh nghiệp đang áp dụng các chính sách làm tăng lợi nhuận kế toán nhưng không tạo ra thực thu đáng kể, chẳng hạn bán chịu cho cả những đối tượng khách hàng có khả năng thanh toán kém và điều này có thể gây ra tác động tiêu cực cho ngân quỹ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp Ngược lại, đối với những doanh nghiệp ở giai đoạn trưởng thành, do lợi nhuận sau thuế bao gồm cả các khoản chi phí phi tiền mặt nên lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất – kinh doanh cần phải lớn hơn LNST Mặt khác, sự so sánh giữa lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất – kinh doanh với LNST còn cho biết phần nào về vị thế của doanh nghiệp trên thị trường và trong các mối quan hệ với khách hàng cũng như nhà cung ứng Nếu một doanh nghiệp có mối quan hệ với khách hàng và nhà cung ứng tốt thì có thể áp đặt hoặc thỏa thuận những điều khoản giao dịch và thanh toán có lợi cho mình, chẳng hạn yêu cầu khách hàng thanh toán ngay phần lớn tiền mua hàng, đồng thời trì hoãn thanh toán với nhà cung ứng, từ đó làm tăng thực thu và giảm thực chi, khiến cho lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất – kinh doanh lớn hơn LNST Trong trường hợp ngược lại, nếu doanh nghiệp không được hưởng những điều kiện thuận lợi như trên thì thực thu từ bán hàng trong kỳ sẽ ít đi và thực chi cho mua vật tư, dịch vụ
sẽ cao hơn, khiến cho lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất – kinh doanh thấp hơn LNST
Bên cạnh đó, nhà phân tích cũng cần đánh giá mức độ biến động của lợi nhuận và lưu chuyển tiền thuần, đánh giá ảnh hưởng của những biến động này lên mức độ rủi ro của công ty và khả năng dự báo dòng tiền, lập kế hoạch ngân quỹ trong tương lai cho doanh nghiệp Với những doanh nghiệp có mức độ biến động lưu chuyển tiền tệ đáng
kể theo thời gian thì cần xác định nguyên nhân gây ra những biến động đó là gì và xây dựng biện pháp phù hợp để ổn định hóa dòng tiền với điều kiện không làm giảm sút doanh thu hay lợi nhuận
Trang 86.2.2 Phân tích dòng tiền từ hoạt động đầu tư
Tương tự như phân tích dòng tiền từ hoạt động sản
xuất – kinh doanh, việc phân tích dòng tiền từ hoạt
động đầu tư trước hết đòi hỏi nhà phân tích xác định
các nguồn phát sinh của dòng tiền hoạt động đầu tư,
thông qua nghiên cứu từng khoản mục tương ứng trong
báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Nhà phân tích cần đánh giá mức độ đầu tư vào tài sản
cố định để từ đó thấy được chiến lược mở rộng, tiềm
năng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp Bên
cạnh đó, việc đánh giá mức độ đầu tư vào các tài sản tài chính, góp vốn kinh doanh cũng giúp nhà phân tích thấy được tiềm năng thu nhập từ đầu tư tài chính, góp vốn kinh doanh trong tương lai của doanh nghiệp
Ngoài ra, tương quan giữa mức độ đầu tư vào TSCĐ và đầu tư tài chính còn thể hiện chính sách phân bổ vốn đầu tư của doanh nghiệp, xu hướng chuyển dịch vốn đầu tư từ lĩnh vực sản xuất – kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp sang lĩnh vực đầu tư tài chính hay ngược lại
Trường hợp phát hiện những khoản đầu tư với quy mô vốn lớn, nhà phân tích cần tìm hiểu nguồn gốc của khoản tiền đầu tư (huy động từ đâu, lành mạnh hay không) bằng cách liên hệ với phân tích dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính
6.2.3 Phân tích dòng tiền từ hoạt động tài chính
Tương tự như phân tích dòng tiền hoạt động sản xuất – kinh doanh và hoạt động đầu
tư, trước tiên nhà phân tích cần xác định các nguồn phát sinh của dòng tiền hoạt động tài chính, thông qua nghiên cứu từng khoản mục tương ứng trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp
Việc đánh giá tương quan dòng tiền nhập quỹ và xuất quỹ của từng khoản mục giúp nhà phân tích nhận biết được doanh nghiệp đang có xu hướng thu hút vốn hay hoàn trả vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp thay đổi như thế nào
Bên cạnh đó, nhà phân tích cần tìm hiểu nguyên nhân, động cơ huy động vốn / hoàn trả vốn bằng cách liên hệ với phân tích dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và hoạt động đầu tư (Ví dụ doanh nghiệp huy động vốn bằng cách vay nợ để đầu tư vào tài sản gì, với quy mô như thế nào, phục vụ cho mục đích hay chiến lược kinh doanh gì)
6.2.4 Bài tập tình huống – Xử lý ngân quỹ và quản lý dòng tiền trong doanh nghiệp
Sau đây là một ví dụ minh họa cho cách thức doanh nghiệp hạch toán dòng tiền và quản lý ngân quỹ:
Doanh nghiệp X có các thông tin tài chính năm N như sau (Đơn vị: VND):
Tiền bán hàng: 200 tỷ, trong đó có 90% được doanh nghiệp thu ngay, phần còn lại
dự kiến sẽ được doanh nghiệp thu hồi vào năm sau
Tiền mua vật tư bằng 50% tiền bán hàng, trong đó có 60% được doanh nghiệp thanh toán ngay cho nhà cung cấp, phần còn lại dự kiến sẽ được doanh nghiệp thanh toán vào năm sau
Trang 9 Tiền thuê dịch vụ cả năm: 4 tỷ, thanh toán ngay trong năm
Trả lương cho nhân viên bán hàng và quản lý là 8 tỷ; Lương cho nhân công trực
tiếp: 10 tỷ, đều được thanh toán ngay trong năm
Tiền thuế 25 tỷ được thanh toán vào tháng 12
Chi mua sắm Tài sản cố định là 120 tỷ: Dây chuyền máy móc mới sẽ được mua và
trả vào tháng 11
Lãi vay cả năm 2 tỷ, thanh toán 1 lần vào tháng 12
Phát hành cổ phiếu thường với quy mô 100 tỷ vào tháng 6
Chia cổ tức bằng tiền mặt là 6 tỷ vào tháng 10
Trả gốc vay 20 tỷ vào tháng 12
Yêu cầu: Xác định các dòng tiền nhập quỹ, xuất quỹ và lưu chuyển tiền thuần năm N
của doanh nghiệp X
Các dòng tiền nhập quỹ, xuất quỹ và lưu chuyển tiền thuần của doanh nghiệp được
hạch toán như sau:
Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh Chú thích
Trả tiền thuê dịch vụ 4
Nộp thuế 25
Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư
Mua sắm TSCĐ 120
Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính
Phát hành cổ phiếu thường 100
Chia cổ tức 6
Tổng lưu chuyển tiền thuần 25 = 71 + ( – 120) + 74
Trang 10Giả sử ở đầu năm N, doanh nghiệp X có dự trữ tiền mặt là 135 tỷ VND Doanh nghiệp yêu cầu mức dự trữ tiền mặt tối thiểu ở cuối năm N là 100 tỷ VND
Yêu cầu: Xác định thặng dư (hoặc thâm hụt) ngân quỹ của doanh nghiệp X ở cuối năm N Hướng dẫn:
Dư đầu kỳ 135 Lưu chuyển tiền thuần 25
Dư cuối kỳ 160
Dự trữ tiền tối thiểu 100 Thặng dư 60
6.3 Phân tích khả năng thanh toán
6.3.1 Các tỷ số tĩnh phản ánh khả năng thanh toán
Tài sản ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn =
Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết tương quan giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn của doanh nghiệp, từ đó phản ánh khả năng trang trải nợ ngắn hạn dựa vào tất cả những tài sản ngắn hạn mà doanh nghiệp sở hữu Rõ ràng là nếu hệ số này lớn hơn 1 thì tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp đủ (thậm chí dư thừa) để thanh toán nợ ngắn hạn Tuy nhiên cần đề phòng trường hợp hệ số này có giá trị quá lớn do doanh nghiệp có quá nhiều hàng tồn kho, khó tiêu thụ và khó chuyển hóa thành tiền để trả nợ, hoặc do doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt, gây ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi
Tiền + Phải thu ngắn hạn+ Đầu tư tài chính ngắn hạn
Hệ số khả năng
Hệ số thanh toán nhanh cho biết khả năng trang trải nợ ngắn hạn dựa vào những tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nhất, bao gồm tiền và tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn và đầu tư tài chính ngắn hạn Tử số của công thức trên khác với công thức hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn ở chỗ nó không bao gồm tồn kho
và những tài sản ngắn hạn xếp sau tồn kho trên bảng cân đối kế toán (có tính thanh khoản thấp hơn) Các nhà phân tích cần quan tâm tới hệ số này bởi trong trường hợp doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc tiêu thụ hàng hóa, hàng tồn kho khó được chuyển hóa thành tiền mặt và do đó không nên được xem là một nguồn trả nợ đáng tin cậy cho doanh nghiệp, vì thế cần loại bỏ tồn kho ra khỏi tử số của công thức hệ số thanh toán Như vậy, công thức này giúp nhà phân tích đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp một cách chặt chẽ hơn Khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp có thể xem là tốt nếu hệ số này lớn hơn 1, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không cần lệ thuộc vào thanh lý hàng tồn kho vẫn có thể đáp ứng được các nghĩa vụ ngắn hạn của mình
Tiền
Hệ số khả năng
thanh toán tức thời = Nợ ngắn hạn