1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5 viết tốt đoạn văn miêu tả ở trường tiểu học xuân lâm

22 192 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 3,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó có vai trò rất quan trọng trong việc trau dồi và rènluyện ngôn ngữ cho học sinh, giúp các em cảm thụ được văn bản thơ, văn….Khi học, các em được rèn kĩ năng viết văn miêu tả gắn với q

Trang 1

1 Mở đầu.

1.1 Lí do chọn vấn đề nghiên cứu.

Tiếng Việt được coi là môn học trung tâm ở trường Tiểu học Đó là mônhọc bắt buộc suốt cấp Tiểu học và chiếm vị trí quan trọng cả về dung lượng vàthời gian Thông qua môn học bồi dưỡng cho các em năng lực tư duy, tưởngtượng, cảm xúc thẩm mĩ, lòng yêu quý và gìn giữ sự trong sáng của Tiếng Việt Phân môn Tập làm văn mang tính tổng hợp cao của các kiến thức ngôn ngữ

và kĩ năng ngôn ngữ Nó có vai trò rất quan trọng trong việc trau dồi và rènluyện ngôn ngữ cho học sinh, giúp các em cảm thụ được văn bản (thơ, văn…).Khi học, các em được rèn kĩ năng viết văn miêu tả gắn với quá trình tạo lập vănbản như tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, diễn đạt thành đoạn văn, bài văn hoànchỉnh Trong đó kĩ năng viết đoạn văn là quan trọng nhất Bên cạnh đó môn Tậplàm văn còn làm nảy sinh năng lực mới của các em: Năng lực sáng tạo văn bảnnói, viết để làm công cụ tư duy, giao tiếp, học tập… góp phần phong phú thêmkiến thức và tiếng mẹ đẻ

Tuy vậy, thực tế việc dạy và học viết văn miêu tả còn nhiều hạn chế, họcsinh làm bài chất lượng chưa cao Nhiều em chưa nắm được kiểu bài miêu tả,chưa có kĩ năng xây dựng bố cục, chọn ý, xếp ý… Bài văn của các em còn mắckhá nhiều lỗi cả về nội dung và hình thức Thực tế dạy học như vậy không đápứng được nhu cầu giao tiếp

Ngoài ra bài văn miêu tả của học sinh còn nặng về kể lể, liệt kê các sự vật,

sự việc, lời văn lủng củng thiếu ý hoặc sắp xếp ý một cách lộn xộn, chưa có sựliên kết giữa các ý và câu…nên khi đọc lên ta thấy tẻ nhạt và nhàm chán

Trăn trở những vấn đề nêu trên, tôi mạnh dạn áp dụng nghiên cứu và đưa

ra: “Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5 viết tốt đoạn văn miêu tả ở Trường Tiểu học Xuân Lâm.” Với mong muốn giúp các em viết được bài văn

hay, nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc dạy học văn miêu tả Trên cơ sở đógiúp các em rèn kĩ năng sản sinh văn bản, tạo điều kiện để các em tự tìm tòi và

tự thể hiện những ý kiến, suy nghĩ của mình một cách độc lập, chủ động, khôngmáy móc, rập khuôn

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Tìm hiểu thực trạng và đưa ra biện pháp rèn luyện kĩ năng viết đoạn vănmiêu tả cho học sinh lớp 5, Trường Tiểu học Xuân Lâm

- Quan sát, tìm ý

- Rèn kĩ năng dùng từ, đặt câu, diễn đạt

- Xây dựng quy trình để hoàn thiện cách viết đoạn văn miêu tả ở lớp 5.

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Thể loại văn miêu tả lớp 5.

- Học sinh lớp 5B Trường Tiểu học Xuân Lâm

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc các tài liệu, sách có liên quan đến đề tài

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế

Trang 2

- Phương pháp trao đổi, tọa đàm với đồng nghiệp.

Theo Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển thì miêu tả là: “Lấy nét vẽ

hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật”

Còn theo nhà văn Tô Hoài trong cuốn sách Một số kinh nghiệm viết văn của tôi thì nhấn mạnh: “Nói miêu tả, dễ tưởng miêu tả chỉ là vẽ phong cảnh trời

nắng, trời mưa, chớp bể mưa nguồn và thiên nhiên: cây vườn, bãi cỏ, con sông… Không, hàng đầu miêu tả là chú trọng sự việc, con người.”

Miêu tả là hòn đá thử vàng đối với các tài năng văn học, tạo nên sức hấpdẫn của tác phẩm văn học Có những tác giả đã tốn công vô ích ghi chép rồi đưavào tác phẩm của mình vô vàn chi tiết khi miêu tả, nhưng người đọc vẫn chẳngnhìn thấy gì hết ngoài các dòng chữ tẻ nhạt ngược lại, chỉ vài nét thôi các tài năngđích thực đã tạo nên bức tranh phong cảnh, những bức chân dung…tuyệt diệu Văn miêu tả là một bức tranh vẽ các sự vật, hiện tượng, con người bằngngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể Nhưng văn miêu tả không phải là sự saochép thực tế khách quan mà đó là sự kết tinh của các nhận xét tinh tế, của trítưởng tượng phong phú và những rung động sâu sắc mà người viết thu lượm

được khi quan sát cuộc sống Trước hết ta tìm hiểu Thế nào là đoạn văn?

* Khái niệm đoạn văn:

Trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4 định nghĩa đoạn văn như sau: “Mỗi

đoạn văn miêu tả một nội dung nhất định Khi viết, hết mỗi đoạn văn cần xuống dòng” Việc định nghĩa như trên chủ yếu giúp học sinh nhận ra dấu hiệu để

nhận biết đoạn văn còn chức năng của đoạn văn trong văn bản thì không đượcnhắc đến

Theo quan điểm của tác giả Lê Phương Nga trong Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học: “Đoạn văn là một bộ phận của văn bản bao gồm một

số câu liên kết với nhau chặt chẽ, thể hiện một cách tương đối trọn vẹn về một tiểu chủ đề Nó có một cấu trúc nhất định và được tách ra khỏi đoạn văn khác bằng dấu hiệu chấm xuống dòng và bắt đầu bằng chữ cái viết hoa thụt đầu dòng”.

Đoạn văn miêu tả hoàn chỉnh được cấu thành bởi ba loại đoạn văn xét theo chức năng là đoạn mở (phần mở bài), đoạn phát triển (phần thân bài) và đoạn kết bài (phần kết bài) Phần mở bài và kết bài thường chỉ là một đoạn, còn phần thân bài thường gồm nhiều đoạn liên kết với nhau, mỗi đoạn sẽ làm sáng tỏ mộtkhía cạnh, một đặc điểm của đối tượng miêu tả

2.2 Thực trạng.

2.2.1 Thực trạng chương trình, nội dung văn miêu tả và sách hướng dẫn học Tiếng việt 5 chương trình VNEN:

Trang 3

Trong chương trình VNEN Tập làm văn lớp 5 học sinh được trang bị kiến thức cần thiết về văn miêu tả, về kĩ năng viết đoạn văn, bài văn miêu tả Cáckiến thức này được cung cấp qua các nội dung: Cấu tạo bài văn miêu tả, Luyệntập quan sát, Luyện tập lập dàn dàn ý, Luyện tập xây dựng đoạn văn, Bài viết vàtrả bài viết Các nội dung này là một khuôn mẫu, được lặp lại ở các kiểu bài vănmiêu tả Ngoài ra, còn có thêm cả những kiến thức lí thuyết sơ giản giúp họcsinh nắm chắc về đặc điểm, kết cấu và phương pháp làm bài của từng kiểu vănmiêu tả Chương trình nhấn mạnh yếu tố thực hành, coi trọng việc rèn luyện kĩnăng, đặc biệt là kĩ năng xây dựng đoạn văn Học sinh học cách viết đoạn vănvới nhiều nội dung và nhiều kiểu khác nhau ở một số dạng bài văn miêu tả cácđối tượng quen thuộc, gần gũi với các em.

Với sách hướng dẫn học của chương trình VNEN thì Tập làm văn thường ởnội dung học bài C với các tổ hợp bài tập liên tiếp từ 1 đến 3 tiết học Đầu bàikhông thể hiện rõ tên phân môn

2.2.2 Thực trạng học văn miêu tả của lớp 5 trường Tiểu học Xuân Lâm, năm học 2016-2017.

Học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Xuân Lâm điều kiện còn nghèo, chủ yếu

là con em nông nghiệp hoặc là công nhân nhà máy giày ARONA, phần lớn, các

em chưa thực sự chủ động trong lĩnh hội kiến thức trong quá trình học tập nóichung, trong bài văn cũng ít có sáng tạo Nhiều khi chưa nắm vững được các kỹnăng cơ bản để làm bài (tìm hiểu đề, quan sát-tìm ý, lập dàn ý, triển khai ý, liênkết ý, liên kết đoạn…) dẫn đến nhiều em khi làm bài còn bị lạc đề, các ý trongbài văn miêu tả sắp xếp lộn xộn, không chân thực dẫn đến việc viết những câuvăn sáo rỗng, cảm xúc mơ hồ không trung thực

Chẳng hạn với đề bài: Em hãy viết một đoạn tả cảnh sum họp của gia đình

em vào buổi tối Có học sinh của lớp viết như sau:“Ánh đèn của chiếc đèn tuýp chiếu sáng cho cả gian nhà Em rửa bát xong thì em vào bật vô tuyến Hôm nay

có một bộ phim hoạt hình em rất thích Trên chiếc ti vi là lọ hoa chị em vừa cắm lúc chiều Những bông hoa đó đua nhau tỏa hương, thơm nức cả gian phòng Mấy cái rèm cửa bị gió thổi bay lên Buối tối, đứng ở bên ngoài trông ngôi nhà thật là đẹp, lại còn có cả những tiếng gió thổi vi vu làm em cảm thấy dễ chịu hẳn”.

- Khi miêu tả học sinh không biết chọn lọc những nét tiêu biểu để tả, để kểnên bài văn miêu tả trở thành một bài văn kể lể, liệt kê lan man

Chẳng hạn với đề bài: Trong các buổi lao động tập thể do trường, lớp (hoặc

khu phố, thôn xóm) tổ chức, em thấy buổi nào gây cho em nhiều hứng thú nhất Em hãy viết một đoạn tả lại cảnh tượng mọi người đang lao động trong buổi đó Thì

các em: Lê Thế Anh, Hoàng Đình Dũng, Đặng Duy Hiếu, Trần Tiến Mạnh lại sa

vào việc liệt kê các công việc Chẳng hạn, em Mạnh viết:“…Tổ một, hai đi quét

dọn vệ sinh sân trường, chăm sóc cây Tổ ba, bốn trực nhật lớp Tổ ba, bốn chúng em giặt giẻ lau, kê bàn ghế, quét lớp từng nhát một và lau bảng thật sạch sẽ”.

Trang 4

- Đối với loại lỗi viết câu lặp từ, lặp ý học sinh cũng mắc rất nhiều Đây làloại lỗi phổ biến nhất, hầu như có trong bất kỳ một bài văn miêu tả nào của họcsinh lớp Chẳng hạn:

mịn Mái tóc Hà dài, đen nhánh Khuôn mặt Hà có hình trái xoan.”

- Ngoài ra học sinh làm bài văn không biết cách tách đoạn Các em quanniệm phần mở bài, thân bài, kết bài là ba đoạn còn phần thân bài dù có bao nhiêu

ý thì cũng chỉ được các em viết thành một đoạn văn Do đó trường hợp dunglượng đoạn quá khổ (lỗi về hình thức) là lỗi phổ biến trong bài văn của học sinh

Viết đoạn vănlủng củng

Viết chưa HTđoạn văn

Như vậy: Tỉ lệ học sinh viết được đoạn văn đang ở mức độ thấp Sau 2

năm nghiên cứu, trải nghiệm, năm học 2015 – 2016 và 2016 – 2017, tôi mạnh

dạn đề xuất với nhà trường cho áp dụng đối với học sinh lớp 5, nhằm giúp các

em viết tốt đoạn văn miêu tả theo biện pháp mô hình trường học mới và bước

đầu có kết quả khá khả quan

2.3 Các giải pháp thực hiện

2.3.1 Phân loại đối tượng học sinh phù hợp, chú ý nhiều đến đối tượng học sinh chưa hoàn thành về viết đoạn văn.

Ngay từ đầu năm học tôi chia các đối tượng học sinh theo nhóm học tập Ở

mô hình trường học mới VNEN đang thực nghiệm thì điều này rất thuận lợi bởicác em luôn được học tập theo nhóm qua 10 bước học tập Tuy nhiên, nếukhông thay đổi linh hoạt vai trò của từng thành viên trong nhóm sẽ dẫn đến việcchỉ có nhóm trưởng điều hành và hỗ trợ những bạn năng lực còn hạn chế Bạn ítnói sẽ luôn ỷ lại và không độc lập tư duy, tự ra quyết định cho chính mình

Ý thức được điều đó nên tôi đã chủ động đổi vai trò của các em trong nhómhàng tuần Chú ý quan tâm đặc biệt đến đối tượng học sinh chưa viết được đoạnvăn, nên phân tích cặn kẽ từng yêu cầu đề, chỉ cần các em viết được đoạn vănđơn giản rồi dần dần nâng cao và phải cổ vũ động viên học sinh kịp thời

Ví dụ: Với đề bài: Em hãy viết đoạn mở bài tả lại người thân yêu nhất của em.

Yêu cầu học sinh chưa hoàn thành chỉ cần viết được đoạn mở bài trực tiếp Vớiđối tượng học sinh còn lại thì tùy mức độ mà yêu cầu các em viết đoạn mở bài giántiếp

Trang 5

Nhóm 1: Tôi cho em Phạm Tiến Dũng ngồi cùng nhóm với em Lê Thế Đại là

những học sinh rụt rè, thiếu tự tin Sau 1 tuần các em phải học tập nhóm trưởng đểtuần sau sẽ thay các bạn đó điều hành nhóm mình trong một số hoạt động học

Nhóm 2: Các em Lê Chí Kiên, Nguyễn Ngọc Ánh, Trần Thị Minh, Phạm Văn

Long biết cách dùng từ nhưng không biết sử dụng các biện pháp tu từ để làm cho câuvăn hay hơn Tôi chia vào nhóm đó bạn Nguyễn Tuấn Dũng viết văn tốt để giúp đỡ cácbạn

Cứ như vậy, hết một tuần tôi cho các em đổi vai trò của nhau, mỗi nhóm học đều có tất cảcác đối tượng để giúp nhau cùng tiến bộ trong việc viết đoạn văn

Mỗi đề bài văn tả cảnh đều có yêu cầu khác nhau, quan sát, tìm ý là mộthoạt động không thể thiếu trong việc dạy- học văn miêu tả nên trong quá trìnhdạy các tiết quan sát-tìm ý, giáo viên cần tổ chức cho học sinh được trực tiếpquan sát sự vật, sự việc…để các em có điều kiện quan sát trực tiếp đối tượngmiêu tả, tránh để tình trạng các em ngồi tưởng tượng để viết bài Khi viết đoạnvăn miêu tả thì học sinh phải có yếu tố tưởng tượng nhưng phải bắt nguồn từthực tế nên hình ảnh được miêu tả phải có tính chân thực, bắt đầu bằng sự quansát, không tô hồng, bóp méo hoặc hư cấu quá Giáo viên cần giúp học sinh quansát với những hình ảnh khác nhau Góc nhìn của trẻ thơ khác với người lớn, củanông thôn khác với thành thị Học sinh quan sát kết hợp bằng nhiều giác quan

Ví dụ: Hướng dẫn các em quan sát, viết đoạn văn: “Tả cảnh một buổi sáng

trên cánh đồng quê em”, Giáo viên giúp các em quan sát:

- Quan sát bằng thị giác: Ánh nắng ban mai, bầu trời, cây cối xung quanh…

- Bằng thính giác: Tiếng giói thổi, chim hót, tiếng người…

- Bằng khứu giác: Mùi của hương lúa, hoa, cỏ dại…

- Quan sát từ những hình ảnh quen thuộc, quan sát cả bên ngoài lẫn bên trong

để đoạn văn miêu tả sinh động, cuốn hút người nghe Quan trọng hơn sau khi quansát các em phải biết lựa chọn không viết lan man, khô khan và sáo rỗng

Trang 6

Học sinh đang quan sát cánh đồng lúa quê em

Học sinh quan sát quang cảnh trường em.

Bên cạnh việc quan sát, cần dạy cho học sinh các thao tác liên hoàn khi làmmột đoạn văn: Đọc kĩ đề - gạch chân các từ quan trọng - tìm ý - lập dàn ý - dựatrên dàn ý viết thành đoạn văn và cuối cùng là đọc lại, tự kiểm tra

Dạy học trên lớp học sinh chỉ được quan sát với giác quan chủ yếu là thịgiác vì vậy học sinh thường không thể hiện được đầy đủ đặc điểm của đối tượngcần tả… Đôi khi giáo viên còn lúng túng khi hướng dẫn quan sát như thế nào cho tốt

Để khắc phục điều này, tôi luôn giúp học sinh có thể quan sát, tìm ý, nóiđoạn văn bằng các tiết học ngoài trời, thực tế Sau khi áp dụng đã đem lại sự sôinổi, hào hứng và kết quả rõ rệt

2.3.3 Xây dựng quy trình rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu tả.

Trang 7

Để viết một đoạn văn miêu tả hoàn chỉnh, học sinh phải trải qua quá trìnhluyện tập về khả năng quan sát, dùng từ, đặt câu, dựng đoạn, chọn và sử dụngcác phương tiện lên kết câu Nếu một trong những kĩ năng bị khiếm khuyết sẽdẫn đến việc viết đoạn văn miêu tả không tốt và ảnh hưởng nhiều đến khả nănghình thành ngôn ngữ cho học sinh sau này Vì vậy, việc giáo viên phải dạy đúngquy trình viết đoạn văn ở mỗi kiểu bài thật cần thiết vì nó vừa giúp học sinh viếttốt đoạn văn, vừa giúp học sinh rèn các kĩ năng bộ phận trong quá trình sản sinhvăn bản Quy trình viết đoạn văn miêu tả được thực hiện qua các bước sau:

Bước 1: Tìm hiểu yêu cầu của đề bài

Bước 2: Hướng dẫn học sinh thực hiện yêu cầu đề bài.

Bước 3: Học sinh thực hành kĩ năng

Khi thực hành kĩ năng viết đoạn văn, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tuântheo 3 thao tác sau: viết nháp; đọc, hội ý, sửa chữa văn bản nháp; trình bày bài viết

Bước 4: Đánh giá, nhận xét kết quả thực hành

Các bước của quy trình được tôi minh họa cụ thể qua ví dụ sau:

Đề bài: Dựa theo dàn ý đã lập ở bài 13B, phần Hoạt động thực hành 4, để

viết đoạn văn tả ngoại hình của một người mà em thường gặp (Bài 13C-tiết 2,trang 57, tập 1B Sách Hướng dẫn học Tiếng Việt 5)

Bước 1: Tìm hiểu yêu cầu của đề bài

- Đọc to yêu cầu đề bài

- Xác định yêu cầu đề bài: Đoạn văn này viết cho ai đọc? Đề bài thuộc thể loại nào? Đối tượng miêu tả của đoạn văn cần viết là gì? Đoạn văn sẽ tập trungmiêu tả những đặc điểm chủ yếu nào của đối tượng? Đoạn văn được viết thuộcphần nào của bài văn miêu tả?

- Gạch chân dưới những từ ngữ quan trọng của yêu cầu đề bài: Em hãy viết đoạn văn tả ngoại hình của một người mà em thường gặp.

Bước 2: Thực hiện yêu cầu của đề bài

* Quan sát, tìm ý (Dựa theo dàn ý mà em đã lập trong bài trước)

- Cần lựa chọn những đặc điểm ngoại hình tiêu biểu nào? (mái tóc, đôi mắt, )

- Nên lựa chọn các chi tiết thế nào để tả đúng những đặc điểm ấy?

- Yêu cầu học sinh xem lại dàn ý đã chuẩn bị hoặc đổi kết quả dàn ý với bạn.

* Hướng dẫn học sinh xác định mô hình đoạn văn cho phù hợp

- Giáo viên giới thiệu mô hình cấu trúc câu chủ đề của đoạn văn qua việcphân tích một số ví dụ tả người

- Yêu cầu học sinh lựa chọn một mô hình viết đoạn văn tương ứng chođoạn thân bài tả hình dáng của người

Bước 3: Học sinh thực hành kĩ năng

- Học sinh sắp xếp ý, sử dụng các biện pháp nghệ thuật, lựa chọn hình ảnhphù hợp, các phép liên kết câu để viết đoạn văn theo mô hình đã lựa chọn

Trang 8

- Học sinh đọc lại bài và trao đổi với bạn kế bên, góp ý để sửa đoạn văn vềnội dung, chính tả, từ ngữ liên kết câu, ý trong đoạn.

- Học sinh viết lại đoạn văn vào vở hoặc giấy

Bước 4: Đánh giá, nhận xét kết quả thực hành

- Giáo viên chấm một số bài, góp ý cách viết đoạn, dùng từ, liên kết câu

- Giáo viên nhắc lại tiêu chuẩn đánh giá, nhận xét về hình thức và nội dung

- Học sinh thảo luận theo nhóm trình bày đoạn văn trong nhóm

- Nhóm nhận xét, sửa chữa, lựa chọn đoạn văn hay để trình bày trước lớp

- Đại diện nhóm trình bày đoạn văn trước lớp Học sinh nhận xét đoạn văncủa bạn theo các tiêu chí đã được đưa ra

- Giáo viên chốt các ý nhận xét, giúp học sinh sửa chữa những thiếu sót, lỗisai hoặc lưu ý các em cách sửa chữa những lỗi thường gặp trong quá trình viếtđoạn văn Sau đó giáo viên cần giúp các em thâu tóm được kiến thức và biết tác

dụng của bài tập này là gì Dưới đây là một đoạn văn của học sinh lớp tôi khi thực hiện đề bài trên:

2.3.4 Giúp học sinh biết cách sử dụng từ ngữ và các biện pháp tu từ: 2.3.4.1 Giúp học sinh biết cách sử dụng từ ngữ thích hợp trong câu văn.

Từ thực tế là vốn từ ngữ của các em quá nghèo nàn nên việc giúp các em

có vốn và biết sử dụng từ ngữ để miêu tả là yếu tố rất quan trọng Học sinh phảibiết làm giàu vốn từ và biết vận dụng vào viết đoạn văn như:

- Sử dụng các lớp từ: Tính từ, từ tượng thanh, tượng hình, từ láy…từ các từchỉ màu sắc: xanh, đỏ, tím…có thể thể hiện bằng các gam màu khác nhau, cungbậc khác nhau giúp hình ảnh miêu tả thêm phong phú, giàu chất văn:

Ví dụ: Từ ‘Thơm” có thể diễn tả mùi thơm khi miêu tả các loài hoa.

- Thơm lừng: Mùi thơm tỏa ra mạnh mẽ và rộng.

Trang 9

- Thơm ngát: Mùi thơm dễ chịu, lan tỏa ra xa.

- Thơm nức: Thơm rực lên, tỏa hương nồng khắp nơi.

- Thơm thoang thoảng: Thoảng nhẹ qua, chỉ đủ cảm nhận.

2.3.4.2 Bài tập rèn kĩ năng dùng từ, đặt câu trong đoạn văn.

Ở loại bài tập này, tôi chia thành các dạng bài tập đi từ mức độ thấp đến cao

a Bài tập yêu cầu nhận diện từ ngữ miêu tả.

Mục đích của dạng bài tập này là cung cấp, mở rộng thêm một số vốn từmiêu tả cho học sinh Dữ kiện của bài tập là các đoạn văn miêu tả các sự vật gầngũi với cuộc sống của các em cũng như phù hợp với chương trình văn miêu tả.lệnh của bài tập yêu cầu của học sinh tìm và gạch dưới các từ ngữ miêu tả quantrọng, nổi bật hoặc nêu được những tác dụng của chúng trong đoạn

Ví dụ: Đọc đoạn văn sau và thực hiện yêu cầu bên dưới.

Chú bé vùng biển

nhất của bọn trẻ, lúc này đang ngồi trên chiếc thuyền đậu ở ngoài cùng Nó trạc tuổi thằng Chân “phệ” nhưng cao hơn hẳn cái đầu Nó cởi trần, phơi nước da rám đỏ khỏe mạnh của những đứa trẻ lớn lên với nắng, gió mặn và nước biển Thân hình nó rắn chắc, nở nang: cổ mập, vai rộng, ngực nở căng, bụng thon hằn rõ những múi, hai cánh tay gân guốc như hai cái bơi chèo, cặp đùi dế to, chắc nình nịch Thắng có cặp mắt to và sáng Miệng tươi, hay cười Cái trán hơi

dô ra, trông có vẻ là một tay bướng bỉnh và gan dạ.

(Bài 13B-tiết2, trang 5, tập 1B sách Hướng dẫn học Tiếng Việt 5)

1 Ghi lại những từ ngữ tả ngoại hình của Thắng

2 Cách sử dụng từ ngữ trong đoạn văn cho biết Thắng là cậu bé như thế nào?

b Bài tập điền các từ ngữ miêu tả.

Mục đích của dạng bài tập này nhằm giúp học sinh dùng các từ ngữ miêu tảchính xác, có hiệu quả dựa trên những hiểu biết về ngữ nghĩa, về cấu tạo cũngnhư khả năng kết hợp của chúng trong câu Dữ kiện là các đoạn văn đã đượclược bỏ các từ ngữ miêu tả hoặc đoạn văn gồm các câu văn miêu tả chưa hoànchỉnh Lệnh của bài tập được nâng cao dần từ việc lựa chọn từ ngữ cho sẵn rồi đến tự tìm từ ngữ hợp lí điền vào chỗ thích hợp

Ví dụ: Hãy điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống trong đoạn văn sau:

Trước mặt chúng tôi là cánh đồng lúa chín… những bông lúa…đang chờ tay người đến gặt, hạt lúa căng tròn béo múp…hứa hẹn một mùa…no ấm bội thu.

c Bài tập yêu cầu học sinh dùng từ, đặt câu với các từ ngữ, hình ảnh miêu tả.

Những bài tập này có mục đích giúp học sinh vận dụng sự hiểu biết về ngữnghĩa, cấu tạo, khả năng kết hợp giữa các từ trong câu, để đặt câu phù hợp vớitình huống nói, viết Câu văn học sinh viết ra phải đúng nghĩa, đúng ngữ pháp

Dữ kiện của bài tập là các hình ảnh, từ ngữ, câu văn miêu tả đặc điểm, hoạt độngcủa đối tượng Lệnh bài tập yêu cầu học sinh đặt câu hoặc viết lại thành câu vănmiêu tả từ những từ ngữ cho sẵn

Ví dụ: Tìm những từ ngữ gợi tả các loại âm thanh trên sân trường Hãy đặt

câu với các từ đó

Trang 10

d Bài tập luyện tập mở rộng câu.

Qua quá trình khảo sát các bài văn của học sinh lớp 5B, tôi nhận thấy các

em thường viết những câu “cụt”, nội dung nghèo nàn, nông cạn Các em chưabiết phát triển các câu hoặc có phát triển nhưng không đúng ý, không sát chủ

đề Từ đó tôi thấy cần phải luyện cho học sinh viết những câu văn mở rộngnhằm khắc phục hạn chế trên Nhóm bài tập này được xây dựng thành hai loạibài tập Trong mỗi loại bài tập đó lại được chia thành các dạng bài tập nhỏ hơn

để luyện tập cho học sinh đi từ dễ đến khó

- Loại bài tập luyện viết câu mở rộng.

Loại bài tập luyện viết câu mở rộng bằng cách thêm các thành phần phụ,giúp học sinh viết những câu văn sinh động, gợi cảm từ các ý nòng cốt câu chotrước, từ đó học sinh có ý thức viết câu văn ngày càng sinh động, gợi cảm

Ví dụ: Từ những câu chỉ có thành phần nòng cốt dưới đây, em hãy mở rộng câu bằng cách thêm các thành phần phụ.

+ Chim hót

+ Gió thổi

+ Cô giáo giảng bài

Học sinh có thể viết: Trên cành cây, những chú chim ri đang hót líu lo như

vẫy chào chúng em.

- Loại bài tập luyện viết câu mở rộng bằng cách dùng biện pháp so sánh, liên tưởng.

Ví dụ: Viết tiếp vào chỗ trống các dòng chưa rõ ý.

+ Trên cành cây, những chú chim sâu đang hót líu lo………….……….… + Nhìn từ xa, cánh đồng lúa xanh rờn………

đó, khi viết đoạn văn miêu tả, học sinh thường chưa biết cách so sánh, nhân hóahiện tượng, sự vật để chọn lựa được những từ ngữ có hình ảnh gợi tả, gợi cảm,làm cho câu văn thêm uyển chuyển, mềm mại

a Bài tập nhận diện các biện pháp tu từ trong đoạn văn.

Đây là dạng bài tập nhằm mục đích giúp học sinh nhận ra biện pháp tu từ(so sánh, nhân hóa) trong đoạn văn Dữ kiện là những đoạn văn miêu tả có sửdụng các biện pháp tu từ Lệnh của bài tập yêu cầu học sinh tìm ra những từngữ, hình ảnh có sử dụng biện pháp tu từ và nêu tác dụng của chúng trong đoạnvăn đó

Ví dụ: Gạch dưới các từ ngữ có sử dụng biện pháp nhân hóa và cho biết nó

có tác dụng gì trong đoạn văn sau:

điệu, đã thế đỉnh đầu lại chênh vênh đội lệch cái mũ nhung đen nháy.

Trang 11

(Theo Tô Hoài)

b Bài tập rèn kĩ năng sử dụng các biện pháp tu từ.

Bài tập này có mục đích giúp học sinh vận dụng những kiến thức đã học vềbiện pháp tu từ (nhân hóa, so sánh) để thêm bộ phận còn thiếu trong câu, đoạnnhằm tạo ra những câu văn, đoạn văn gợi tả, gợi cảm Bài tập được xây dựngtheo 2 mức độ: Lựa chọn từ ngữ, hình ảnh so sánh hay nhân hóa vào chỗ thíchhợp và sử dụng các biện pháp tu từ để luyện viết câu văn có hình ảnh, cảm xúc

Ví dụ: Điền các cụm từ ngữ cho trong ngoặc đơn vào chỗ trống trong đoạn

văn sau để có những hình ảnh so sánh đúng

Chàng gà chọi

Da chàng đỏ gay, đỏ gắt, đỏ tía, đỏ bóng lên như……Mặt chàng lùi sùi những mào, những tai, những mấy cái ria mép tím lịm như…….Một bên mắt thì lép mịt

mờ, còn một bên thì cứ chớp chớp nháy nháy như……….

(Theo Tô Hoài)

(có quét một lớp sơn thắm, mặt anh say rượu, cái vòng tròn vàng hoe, chiếc nắm đấm)

2.3.5 Giúp học sinh làm các dạng bài tập rèn kĩ năng sắp xếp, liên kết ý… trong đoạn văn.

2.3.5.1 Dạng bài tập rèn kĩ năng sắp xếp ý.

Với bài tập rèn kĩ năng sắp xếp ý, học sinh sẽ ý thức rõ hơn về sự liên kếtnày để viết ra để viết ra những đoạn văn miêu tả có các câu văn được sắp xếphợp lí, logic, thống nhất, mạch lạc về nội dung Bài tập này yêu cầu học sinh dựavào ý để sắp xếp các câu trong đoạn văn thành một chuỗi các hành động, sự việcliên tiếp nhau đề cập đến một đối tượng chung hoặc các đối tượng có mối quan

hệ mật thiết với nhau

Dữ kiện là các câu văn miêu tả một bộ phận, một phần của đối tượng sắp xếp lộn xộn, rời rạc Lệnh của bài tập yêu cầu học sinh dựa vào sự liên kết ý của cáccâu văn để sắp xếp lại trật tự của chúng thành một đoạn văn hoàn chỉnh

Ví dụ: Hãy sắp xếp lại các câu sau trong đoạn văn sau sao cho hợp lí

(1) Vườn nhà tôi khá rộng với đủ loại hoa quả, nhưng tôi thích nhất là góc vườn phía đông trồng toàn cây ăn quả (2) Nó được tôi rào lại như một khu vườn riêng biệt (3) Ngay sát chiếc cổng nhỏ, một bụi chuối đã trổ buồng (4)Cách đó không xa là cây dừa được trồng từ hồi ba tôi còn nhỏ xíu (5) Những trái chuối còn non lớn nhanh như thổi (6) Mỗi lần nhìn mảnh vườn này, tôi lại nhớ tới nội tôi, người đã dày công vun xới cho khu vườn thêm xanh tốt.

Khi thực hiện yêu cầu bài tập này, học sinh phải nắm được trình tự phát triển ýcủa bài văn miêu tả cây cối, từ đó với có thể lựa chọn, sắp xếp một cách chính xác

Đoạn văn đã được sắp xếp lại: (1), (2), (3), (5), (4), (6)

2.3.5.2 Dạng bài tập rèn kĩ năng xây dựng và liên kết đoạn văn.

Chương trình Tiếng Việt lớp 5 chỉ giới thiệu ba phép liên kết: phép lặp,phép thế và phép nối với nội dung ngắn gọn, đơn giản và dễ hiểu Hệ thống kĩnăng liên kết câu chủ yếu được hình thành qua các bài tập thực hành Tuy nhiênkiến thức về các phép liên kết câu chưa được học sinh sử dụng vào việc viết văn,nên đoạn văn của các em thường rời rạc Do đó tôi thiết kế những bài tập rèn kĩ

Ngày đăng: 17/10/2019, 11:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w