1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp giúp học sinh lớp 5, trường tiểu học quang hiến làm tốt bài văn tả cảnh

16 110 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua quá trinh giảng dạy và học tập của học sinh, việc đưa ra một số biện pháp dạy học tập làm văn tả cảnh giúp các em làm tốt bài văn tả cảnh nhằm mục đích: Học sinh nắm chắc cấu tạo 3 p

Trang 1

I MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Tập làm văn là một phân môn của môn Tiếng Việt trong chương trình tiểu học, đây là một phân môn mang tính chất thực hành tổng hợp Việc dạy Tập làm văn ở bậc Tiểu học có một vị trí rất quan trọng, nó góp phần rèn luyện cho học sinh năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện cho các em giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày và học tập tốt các môn học khác Nếu như các môn học và phân môn khác của môn Tiếng Việt cung cấp cho các em một hệ thống các kiến thức

kĩ năng thì phân môn Tập làm văn tạo điều kiện cho các em thể hiện các kiến thức, rèn luyện các kĩ năng đó một cách linh hoạt thực tế và có hệ thống hơn Chính những văn bản nói, viết các em có được từ phân môn Tập làm văn đã thể hiện những hiểu biết thực tế, những kĩ năng sử dụng Tiếng Việt mà các em đã được học ở phân môn Tập làm văn Các kiểu bài miêu tả được học nhiều nhất,

nó giúp cho học sinh tái hiện lại cuộc sống con người, phong cảnh thiên nhiên hiện lên như một bức tranh nhiều màu sắc Nó giúp các em có tâm hồn văn học,

có tình yêu quê hương đất nước và cuộc sống con người

Tuy nhiên, thực tế hiện nay, việc dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng ở lớp 5B trường Tiểu học Quang Hiến đặc biệt là phần văn tả cảnh còn có nhiều hạn chế và chưa đạt kết quả như mong muốn Lí

do này do nhiều nguyên nhân: phương pháp lên lớp chưa phù hợp với yêu cầu, mục đích, nội dung của bài học đặt ra, mặt khác học sinh tiểu học mà hơn nữa lại là học sinh dân tộc thiểu số sống ở vùng 30a như xã Quang Hiến lại là đối tượng mà năng lực tư duy còn hạn chế Kĩ năng sử dụng ngôn ngữ của các em còn kém; chưa biết cách dùng các từ ngữ giàu hình ảnh khi đặt câu; chưa biết sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa khi tả giúp cho cảnh vật thêm sinh động hấp dẫn hơn Đặc biệt trình độ của các em chưa đồng đều, hơn nữa học sinh rất ngại học phân môn Tập làm văn

Chính vì vậy đòi hỏi ở người thầy cái tâm, cái tài để truyền cho các em niềm say mê, để động viên, bồi dưỡng cho các em trở thành học sinh có năng khiếu, những con người có tâm hồn văn học Bởi lí do trên tôi chọn đề tài viết

sáng kiến kinh nghiệm “ Một số giải pháp dạy văn tả cảnh cho học sinh trường tiểu học Quang Hiến ”.

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Qua quá trinh giảng dạy và học tập của học sinh, việc đưa ra một số biện pháp dạy học tập làm văn tả cảnh giúp các em làm tốt bài văn tả cảnh nhằm mục đích:

Học sinh nắm chắc cấu tạo 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài) của một bài văn tả cảnh; biết phân tích cấu tạo của một bài văn tả cảnh; biết viết đoạn văn

mở bài (trực tiếp, gián tiếp), đoạn kết bài (mở rộng, không mở rộng); biết phát hiện những hình ảnh đẹp trong bài văn; biết quan sát và chọn lọc chi tiết trong bài văn tả cảnh, hoàn chỉnh các đoạn văn dựa theo nội dung chính của bài; lập được dàn ý chi tiết cho bài văn; viết được đoạn văn, bài văn tả cảnh theo đúng yêu cầu của bài; thấy được những ưu điểm, khuyết điểm và cách chữa lỗi đoạn văn, bài văn của mình Bản chất cần được làm rõ ở đề tài sáng kiến kinh nghiệm này là tìm ra biện pháp dạy Tập làm văn tả cảnh phù hợp trình độ học sinh lớp 5

Trang 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

- Một số giải pháp dạy văn tả cảnh cho học sinh trường tiểu học Quang Hiến

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

- Nghiên cứu rút ra kinh nghiệm từ thực tế của bản thân và học sinh thông qua cách dạy và cách học

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Tìm hiểu cơ sở của việc dạy và học, những nội dung dạy văn tả cảnh

- Phương pháp quan sát: Quan sát quá trình dạy và học những nội dung dạy văn tả cảnh ở trường Tiểu học Quang Hiến

- Phương pháp điều tra: Điều tra thực tế việc dạy và học nội dung dạy văn

tả cảnh của giáo viên và học sinh

Trang 3

II NỘI DUNG

2.1 Cở sở lý luận :

Văn tả cảnh là loại văn dùng lời với những hình ảnh, cảm xúc làm cho người đọc, người nghe có thể hình dung được rõ nét và cụ thể về một cảnh vật nào đó xung quanh ta

Trong phân môn Tập làm văn lớp 5, nội dung các bài học là sự tiếp nối và nâng cao, mở rộng Các em được học tiếp văn miêu tả trong đó tả cảnh chiếm 14 tiết Tập làm văn tả cảnh lớp 5 có 2 dạng cơ bản:

+ Bài hình thành kiến thức: Thông qua tìm hiểu một bài văn mẫu rút ra kiến thức

+ Bài thực hành luyện tập: Thực hành viết đoạn văn, bài văn,

Với bài hình thành kiến thức có hai bài trong sách Tiếng việt lớp 5 tập1, trang 11 và trang 83 các bài này được hướng dẫn theo từng phần nhận xét một bài văn miêu tả mới Đồng thời các em còn được hướng dẫn, nhận xét bài văn miêu tả khá dài để học sinh rút ra ghi nhớ rồi tiếp tục vận dụng ghi nhớ để nhận xét cấu tạo của bài văn tả cảnh Đây là một điều kiện khó khăn đối với học sinh

vì thời gian ít mà các em phải tìm hiểu để nắm được nội dung, phương pháp miêu tả của các bài văn

Với bài thực hành luyện tập được trình bày theo thứ tự hướng dẫn chuẩn bị, hướng dẫn làm bài, hướng dẫn hoàn chỉnh bài Hầu hết các tiết luyện tập tả cảnh phần hướng dẫn chuẩn bị là những bài tả cảnh yêu cầu học sinh tìm hiểu theo mục tiêu làm cơ sở chuẩn bị cho nửa tiết còn lại lập dàn ý hoặc viết bài Đây là điều kiện thuận lợi cho học sinh làm văn tả cảnh Và đặc biệt là đối với học sinh hoàn thành tốt, các em được chuẩn bị lập dàn ý ở cuối tiết học này, đến cuối tiết học sau mới viết bài Nhưng đối với học sinh khó khăn về học các em lại mau quên, không chăm học nên kết quả làm bài sẽ khó hoàn thành Tuy vậy cũng có một vài tiết thực hành hoàn chỉnh ngay trong tiết học

2.2 Thực trạng :

- Đa số học sinh nắm được cấu tạo 3 phần của một bài văn tả cảnh, phân tích tương đối tốt cấu tạo của một bài văn tả cảnh, viết được đoạn văn mở bài, đoạn kết bài Học sinh hoàn thành tốt có thể phát hiện những hình ảnh đẹp trong bài văn, lập được dàn ý chi tiết cho bài văn, quan sát và chọn lọc chi tiết trong bài văn tả cảnh, hoàn chỉnh các đoạn văn dựa theo nội dung chính của bài, lập được dàn ý chi tiết cho bài văn Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn học sinh chưa nắm được cấu tạo 3 phần của một bài văn tả cảnh, viết mở bài, kết bài còn lộn lẫn vào nhau; việc quan sát còn chưa theo một trình tự nhất định, chưa biết chắt lọc ý trong quan sát để làm nổi bật cảnh định tả với những cảnh khác nên các ý trong khi lập dàn ý còn lộn xộn chung chung, cũng từ đó các đoạn trong bài văn còn chưa rõ ràng và chưa có sự logic về nội dung, các em quan sát được cái gì thì viết cái đó, cái gì nhìn thấy trước thì viết trước bài văn trở về tình trạng luẩn quẩn Vốn từ của các em còn nghèo nàn, cách dùng từ của các em còn chưa phù hợp, thường hay bắt chước nên đôi lúc không phù hợp với nội dung làm tối nghĩa của câu văn Khi đã lập được dàn ý chi tiết rồi các em dựa vào dàn ý và chỉ viết thành câu đơn giản, nghèo nàn về hình ảnh nên bài văn trở nên khô cứng Có những học sinh viết được các đoạn trong bài văn rồi nhưng các em

Trang 4

chưa biết dùng các biện pháp để liên kết các đoạn trong bài văn chính vì thế bài văn trở nên rời rạc

Kết quả khảo sát học sinh vào cuối tháng 9 năm học 2018 – 2019, lớp 5B trường Tiểu học Quang Hiến

Tổng số bài

kiểm tra

Mức độ hoàn thành

Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ

2.3 Các giải pháp thực hiện :

Giải pháp 1: Giúp học sinh nắm chắc lại kiến thức về cấu tạo của bài văn tả cảnh và biết cách viết các phần mở bài, kết bài của bài văn tả cảnh:

1 Giúp học sinh nắm lại cấu tạo của bài văn tả cảnh.

Kiến thức về cấu tạo của một bài văn tả cảnh là rất cơ bản nhưng có những học sinh chưa nắm vững, không phân biệt được các phần của một bài văn tả cảnh

Nắm được thực trạng này tôi đã rất chú ý đến các bài tập đọc các bài văn miêu tả có đầy đủ bố cục, yêu cầu học sinh đọc và cho học sinh phân đoạn của các bài văn đó Cho học sinh nhận xét nội dung của từng đoạn và từ đó nhấn mạnh cho học sinh về kiến thức cấu tạo của một bài văn tả cảnh

Trong những tiết dạy học tập làm văn tôi thường cho học sinh nhắc lại các phần của một bài văn tả cảnh và củng cố lại cho học sinh:

Mở bài là phần đầu tiên, vị trí của nó bao giờ cũng nằm ở phần đầu của một bài văn, là phần trước nhất đến với người đọc, gây cho người đọc cảm giác, ấn tượng về bài viết, thường nêu lên đối tượng miêu tả

Phần thân bài nằm ở giữa của bài văn, có thể có một đoạn hoặc nhiều hơn Các ý trong phần thân bài miêu tả cụ thể các chi tiết của cảnh vật, có kèm các hoạt động của con người cảnh vật xung quanh làm cho đối tượng được miêu tả trở nên sinh động

Phần kết bài nằm ở đoạn cuối của bài văn mêu tả, nội dung của đoạn này rất dễ phát hiện, nó thường nêu lên cảm nhận hoặc tình cảm của cá nhân với cảnh vật đó, đôi khi là những lời thán phục, thể hiện tình cảm của mình với đối tượng miêu tả

2 Hướng dẫn học sinh cách viết phần mở bài, kết bài của bài văn tả cảnh:

Trong chương trình dạy tập làm văn lớp 5 hướng dẫn học sinh viết mở bài

và kết bài theo các cách khác nhau Tuy nhiên học sinh mới hiểu phần lý thuyết

mà chưa biết cách làm thế nào cho hay, tự nhiên Đây là nguyên nhân khiến các

em vô cùng lúng túng và mất nhiều thời gian để suy nghĩ Tôi đã giải quyết như sau:

Cho học sinh nắm lại nắm lại các khái niệm mở bài, kết bài trực tiếp, gián tiếp:

a Mở bài

Trang 5

*Mở bài trực tiếp: Là giới thiệu ngay với người đọc cảnh mà mình sẽ miêu

tả, một câu cảm, nhận xét Tôi đã cho học sinh thấy được ưu điểm của nó là nhanh gọn, tự nhiên, giản dị, dễ tiếp nhận và thích hợp với bài viết ngắn

Ví dụ: Em hãy tả lại dòng sông quê em [1]

Tôi yêu cầu học sinh mở bài bằng cách trực tiếp và kết quả là các em cũng biết nói những câu ngắn gọn đảm bảo được các nội dung yêu cầu như:

* Ôi, dòng sông Âm mới đẹp làm sao!

* Sông Âm quê em là một cảnh mà em yêu thích!

Đôi khi tôi còn hướng dẫn học sinh mở bài trực tiếp bằng cách nêu cảnh miêu tả và vị trí hoặc thời gian quan sát cảnh Học sinh đã có câu văn như:

* Vào sáng ngày chủ nhật, em cùng các bạn ra bờ sông Âm chơi, ở đó cảnh vật thật đẹp

*Mở bài gián tiếp: Khi hướng dẫn học sinh viết mở bài theo cách gián tiếp

thì cho học sinh hiểu nghĩa của từ "gián tiếp" là không nói thẳng vào vấn đề định nói luôn mà nói một chuyện khác có liên quan sau đó dẫn dắt vào vấn đề định nói Từ đó cho học sinh nắm lại và hiểu mở bài gián tiếp: là nói chuyện khác có liên quan rồi dẫn vào đối tượng mình miêu tả và kết quả là học sinh có những câu mở bài như sau:

Ví dụ: Em hãy tả lại dòng sông quê em

Học sinh đã viết: Tuổi thơ em có biết bao kỉ niệm gắn với những cảnh vật của quê hương Đây là những thửa ruộng bậc thang đẹp mắt, kia là những rừng luồng xanh mát, xa xa là những ngôi nhà sàn ẩn nấp sau những lùm cây xanh Nhưng gần gũi thân thiết và gắn bó với em nhất là cảnh dòng sông Âm hiền hòa Ngoài ra tôi còn hướng dẫn học sinh mở bài gián tiếp bằng cách:

* Mở bài bằng một âm thanh.

Ví dụ: Tả cảnh sân trường em trong giờ ra chơi

Mở bài: Tùng! Tùng! Tùng một hồi trống vang lên báo hiệu giờ ra chơi

đã đến

* Mở bài bằng cách so sánh (So sánh các sự vật được miêu tả để làm nổi

bật sự vật mình chọn miêu tả)

Ví dụ: Tả cảnh đẹp quê hương em

Quê hương em có nhiều cảnh đẹp Cánh đồng lúa chín vàng trải dài như tấm thảm khổng lồ, dòng sông Âm hiền hòa chảy quanh năm Những đồi cọ xanh mướt Nhưng cảnh đẹp nên thơ và em yêu thích là đêm trăng.

* Một lời đối thoại (Nói chuyện giữa bạn này và bạn kia về một đối tượng miêu tả)

Ví dụ: Tả một cảnh đẹp ở quê hương em

- Nhi ơi, bạn thích nhất cảnh nào ở quê mình?

- Quê mình có nhiều cảnh đẹp nhưng mình thích nhất được ngắm cảnh ruộng bậc thang.

- Vì sao vậy?

- Vì mình thấy đó là một cảnh đẹp đặc trưng của miền núi chúng ta!

* Trích dẫn câu văn câu thơ,câu hát, về đối tượng

Trang 6

Cũng với đề bài tả về cảnh đẹp quê hương, tôi cho học sinh nhớ lại những câu thơ, câu văn nói về quê hương, và từ đó dẫn dắt giới thiệu nội dung miêu tả,

có học sinh đã nêu được như sau:

"Quê hương là con diều biếc Tuổi thơ con thả trên đồng Quê hương là con đò nhỏ

Êm đềm khua nước ven sông".

Đọc qua những câu thơ của nhà thơ Đỗ Trung Quân, em lại càng yêu cảnh đẹp của quê hương em, một trong những cảnh đẹp đó là dòng sông quê hương

có những con đò nhỏ.

Qua cách hướng dẫn trên tôi thấy học sinh đã có nhiều cách viết mở bài, tuy không phải em nào cũng viết được nhưngđã phát huy hết khả năng các năng lực của học sinh và các em hứng thú, không tránh khỏi những học sinh sẽ viết lan man, vòng vèo, gặp phải những bài như vậy tôi đã giúp học sinh sửa lại để phù hợp hơn

b Kết bài

Nếu như mở bài là một lời chào thân tình của chúng ta để giới thiệu về cảnh vât mình định tả thì kết bài là lời tạm biệt đầy tình cảm mến yêu, nó khép lại cho người đọc những xúc cảm tràn trề, những hình ảnh đẹp đẽ mà các em miêu tả

Vì vậy khi viết phần kết bài , giáo viên cần hướng dẫn học sinh viết làm sao cho thật cô đọng, ngắn gọn nhưng tránh cộc lốc và khuôn sáo

Giáo viên củng cố lại cách viết kết bài: mở rộng và không mở rộng

*Kết bài không mở rộng thường được đóng ý một cách gọn đủ ý:

- Nhận xét, đánh giá về cảnh

- Tình cảm đối với cảnh

- Hành động: chăm sóc, bảo vệ,

Với các ý trên có thể sắp xếp thành các kết bài

Với đề bài "Tả ngôi nhà của em" thì các ý trong phần kết bài sẽ phải nêu được là: - Nhận xét, đánh giá về ngôi nhà(1)

- Tình cảm đối với ngôi nhà(2)

- Hành động: Chăm sóc, bảo vệ(3)

Từ các ý trên tôi yêu cầu học sinh sắp xếp các ý để có các kiểu kết bài: 123; 132; 213; 231; 312; 321.Ví dụ:

* 123: Ngôi nhà em thật đẹp Đó là nơi chứa đầy hạnh phúc của gia đình

em Em yêu ngôi nhà của em lắm!

* 213: Em yêu ngôi nhà của em nhiều lắm Em sẽ trồng nhiều hoa cho ngôi nhà đẹp hơn!

* 312: Làm đẹp cho ngôi nhà thêm đẹp hơn là niềm vui của em

Kết bài mở rộng: Khi viết kết bài mở rộng học sinh vẫn đảm bảo được các

ý như kết bài không mở rộng nhưng diễn đạt mở rộng bằng cách khác như:

- Nêu ra câu hỏi

- Nêu một ý mới lạ

- Đưa ra một lời bình

Trang 7

Từ việc phân tích các kết bài trên học sinh sẽ luyện tập viết kết bài theo một trong các cách kể trên

Ví dụ: Tả khu vườn vào buổi sáng

Học sinh có thể viết kết bài mở rộng như sau:

- Nêu ra câu hỏi: Bạn thấy sao? Khu vườn nhà mình có đẹp không? Cứ mỗi buổi sáng, ra ngắm khu vườn mình lại tìm thấy một cảm giác thật dễ chịu, sảng khoái Mình sẽ chăm sóc cho khu vườn ngày thêm đẹp, cho cây cối quanh năm tươi tốt, tràn trề sức sống.

- Nêu một ý mới lạ: Khu vườn thật thanh bình, màu xanh non của những luống rau, tiếng chim sâu lích rích, tiếng cựa mình của những lá cây khi có làn gió nhẹ thoảng qua tạo nên một bản nhạc đón chào bình minh thật tuyệt vời.

- Đưa ra một lời bình: Không lộng lẫy nhiều sắc màu như những vườn hoa nhưng mỗi lần ngắm nhìn khu vườn em cảm thấy khoan khoái dễ chịu và cảm thấy yên bình Yêu biết mấy khu vườn nhà em.

Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh cách quan sát cảnh vật để lựa chọn các chi tiết nổi bật, thấy rõ sự khác biệt cảnh vật này với cảnh vật khác.

Quan sát cảnh vật là bước quyết định thành công của bài văn, học sinh muốn viết được bài văn hay, sống động phải có được sự quan sát đối tượng miêu

tả và có sự ghi chép tỉ mỉ, chi tiết những đặc điểm mình miêu tả

Thấy được tầm quan trọng đó tôi đã hướng dẫn học sinh quan sát nhiều lần bằng các giác quan như thị giác, thính giác, vị giác, khướu giác, xúc giác, nhằm giúp các em nhận biết về cảnh đầy đủ và chính xác hơn

Luyện kỹ năng quan sát: Muốn quan sát có hiệu quả thì việc quan sát phải

có mục đích Quan sát để phản ánh một đối tượng cụ thể, vừa chi tiết, vừa có tính khái quát Qua các chi tiết miêu tả người đọc phải thấy được rõ đặc điểm của đối tượng miêu tả Vì vậy việc quan sát phải có lựa chọn Chi tiết không cần nhiều mà phải chọn lọc để lột tả được cái thần của cảnh Khi quan sát phải sử dụng nhiều giác quan Để tả cảnh, cần xác định vị trí quan sát, thời điểm quan sát, trình tự và nội dung quan sát

Ví dụ : Tả dòng sông quê hương em

Mắt thấy:

- Sông dài, rộng

- Nước trong vắt

- Đá cuội trắng tinh dưới đáy sông

- Hai bên bờ sông là bãi ngô xanh biếc

- Mặt trời nhô lên soi bóng xuống dòng sông, nước lấp lánh ánh vàng.

- Đàn cá bơi lội tung tăng.

- Vài người dưới sông đang gánh nước tưới màu.

Tai nghe: - Tiếng nước chảy rì rào

- Gió làm cho lá ngô hai bên bờ sông khua vào nhau nghe xào xạc.

- Tiếng cười nói của người dân làm việc ở dưới sông.

Mũi ngửi: - Mùi hơi nước từ dòng sông dìu dịu, man mát

Tay sờ: - Nước mát rượi

Trang 8

Từ những ghi chép quan sát trên chăc chắn các em sẽ làm được những bài văn sinh động và hấp dẫn Tuy nhiên quan sát bằng giác quan chưa đủ mà cần phải hướng dẫn học sinh quan sát theo trình tự không gian, thời gian

Ví dụ: Quan sát dòng sông theo trình tự thời gian

Sáng:

- Dòng sông hiền hoà chảy, uốn lượn như một dải lụa

- Trên mặt sông, hơi nước phủ một lớp sương như một màn khói mỏng.

- Mặt sông phẳng lặng như một tấm gương, nước sông trong vắt, mát rượi.

- Lác đác vài người dân gánh nước để tưới cho những luống rau bên bờ sông

Trưa:

- Mặt trời chiếu những tia nắng chói chang dòng sông như khoác lên mình một tấm áo lụa đào thướt tha

Chiều:

- Mặt sông gợn sóng, những con sóng nhẹ nhàng xô vào bờ.

- Lũ trẻ ngồi chơi ở bờ sông gấp thuyền hoa đăng, viết ước mơ vào hững chiếc lá thả xuôi dòng.

Tối:

- Trăng lên, dòng sông như một dòng trăng.

- Mặt sông như trải rộng ra.

- Hơi nước mát lành.

Nói tóm lại, giáo viên lưu ý cho học sinh một số điểm sau:

+ Khi quan sát học sinh phải nhìn ngắm cảnh trước mặt

+ Học sinh phải quan sát nhiều lần, quan sát tỉ mỉ ở nhiều góc độ, nhiều khía cạnh ở thời gian, địa điểm khác nhau

+ Học sinh phải tìm ra những nét chính, trọng tâm của cảnh, tránh ghi chép nhiều các ý không trọng tâm

+ Câu văn ghi chép gọn gàng, từ ngữ chính xác, ngắn gọn

Giải pháp 3: Giúp học sinh cách lập dàn ý chi tiết cho bài văn tả cảnh.

- Sau khi quan sát và tìm ý, chuẩn bị cho lập dàn bài chi tiết, học sinh cần xác định trình tự miêu tả để sắp xếp các ý một cách hợp lí Trình tự miêu tả trong văn tả cảnh có thể là trình tự thời gian tùy theo từng cảnh để lựa chọn cho phù hợp

Ví dụ: Với bài văn tả khu vườn vào buổi sáng, ta nên chọn trình tự không gian

- Trước cửa vườn

- Giữa vườn

- Góc vườn bên trái

- Góc vườn bên phải,

Lập dàn ý: Do nội dung chương trình phân bố thì học sinh luyện viết các đoạn văn tả cảnh rất nhiều Những bài văn tả cảnh hoàn chỉnh chỉ yêu cầu thực

Trang 9

hiện trong các tiết kiểm tra Vì vậy, tôi giúp học sinh nắm vững dàn ý cho một bài văn tả cảnh, dàn ý cho một đoạn văn để học sinh dựa vào đó viết

Dàn ý chung cho một bài văn tả cảnh:

Mở bài: Giới thiệu cảnh định tả

Thân bài

* Tả bao quát: Miêu tả đặc điểm chung của cảnh vật

* Tả chi tiết

+ Tả từng bộ phận của cảnh (Nếu lựa chọn tả theo trình tự không gian) + Tả theo sự thay đổi của cảnh vật theo thời gian (Nếu lựa chọn tả theo trình tự không gian)

Có thể kết hợp cả hai trình tự để miêu tả

Lồng ghép tình cảm, cảm xúc và nhận xét đánh giá về cảnh trong quá trình miêu tả

Kết hợp tả hoạt động của người nhưng đây không phải là đối tượng chính

để miêu tả

Kết bài:

+ Nêu nhận xét, đánh giá

+ Tình cảm

+ Hành động

Sau khi có dàn ý học sinh sẽ lập dàn ý chi tiết cho một bài văn và học sinh viết thành bài văn hoàn chỉnh

Ví dụ: Có học sinh đã lập được dàn ý cho bài văn tả dòng sông như sau (Theo trình tự thời gian)

* Mở bài: Dòng sông Âm quê tôi mới đẹp làm sao!

* Thân bài:

- Buổi sáng: - Dòng sông hiền hoà chảy, uốn lượn như một dải lụa

- Trên mặt sông, hơi nước phủ một lớp sương như một màn khói mỏng.

- Mặt sông phẳng lặng như một tấm gương, nước sông trong vắt, mát rượi.

- Lác đác vài người dân gánh nước để tưới cho những luống rau bên bờ sông

- Buổi trưa: Mặt trời chiếu những tia nắng chói chang dòng sông như khoác lên mình một tấm áo lụa đào thướt tha.

- Buổi chiều:

+ Mặt trời chiếu những tia nắng chói chang dòng sông như khoác lên mình một tấm áo lụa đào thướt tha.

+ Mặt sông gợn sóng, những con sóng nhẹ nhàng xô vào bờ.

+ Lũ trẻ ngồi chơi ở bờ sông gấp thuyền hoa đăng, viết ước mơ vào hững chiếc lá thả xuôi dòng.

+ Trăng lên, dòng sông như một dòng trăng

- Buổi tối:

+ Mặt sông như trải rộng ra.

+ Hơi nước mát lành.

* Kết bài:

+ Tôi rất yêu dòng sông quê tôi.

+ Luôn có ý thức bảo vệ để cho dòng sông luôn đẹp.

Trang 10

Giải pháp 4: Giúp học sinh dùng các biện pháp để liên kết câu, đoạn văn.

Khi học sinh đã viết được các câu văn, đoạn văn và để có một bài văn logic chặt chẽ về nội dung, về cấu trúc thì việc hướng dẫn học sinh liên kết câu, đoạn văn vô cùng quan trọng Các biện pháp có thể sử dụng như:

* Liên kết các câu:

- Liên kết câu văn bằng cách lặp từ ngữ:

Thường là học sinh rất ngại khi viết các câu văn mà có sự lặp lại về từ cho rằng như vậy là sẽ bị lủng củng hoặc là bí từ nhưng đôi khi khi lặp lại từ ngữ còn có tác dụng liên kết các câu để làm nổi bật ý tứ trong câu Vấn đề là cách dùng từ đó như thế nào

Mưa xuân lất phất bay Cây cối đâm chồi nảy lộc, đưa tay đón những hạt mưa xuân rơi Với chúng, mưa xuân chính là liều thuốc tiên để phát triển

- Liên kết câu văn bằng cách thay thế từ ngữ:

Học sinh đã học về đại từ và từ vốn kiến thức đó tôi yêu cầu học sinh dùng các từ thay thế cho một số từ trong câu văn để tránh sự lặp lại mà làm cho sự vật miêu tả trở nên sinh động hơn

Ví dụ: Dòng sông như một dải lụa trắng mềm mại Nó cứ chảy mãi đem phù sa đến cho những cánh đồng mát trong

*Liên kết đoạn:

Thường là học sinh rất bí trong cách chuyển ý để viết đoạn khác làm cho các đoạn trở nên rời rạc nên tôi đã hướng dẫn học sinh liên kết bằng các cách sau:

- Dùng các từ ngữ có tác dụng nối các đoạn như chính vì vậy, mặt khác, vì thế, do đó,

- Liên kết đoạn bằng cách đặt các câu hỏi mang tính chất gợi mở

Ví dụ: Tả dòng sông theo trình tự thời gian

Để chuyển ý từ đoạn văn này sang đoạn văn khác tôi có thể hướng dẫn đặt câu hỏi tu từ như sau:

Ví dụ:

Theo các bạn đến buổi tối dòng sông sẽ như thế nào? Từ cách đặt câu hỏi này học sinh sẽ dễ dàng viết các câu tiếp theo để tả buổi tối của dòng sông

Giải pháp 5: Hướng dẫn học sinh dùng từ đặt câu cho phù hợp, biết dùng các hình ảnh, các biện pháp nghệ thuật cho câu văn trở nên sinh động.

* Dùng từ:

- Dùng từ phải đảm bảo độ chính xác, đồng thời biểu hiện được tư tưởng,

tình cảm một cách rõ ràng

- Phải tuân thủ luật chính tả

- Dùng từ gợi tả, gợi cảm: thường là các từ đơn, từ ghép, từ láy, động từ

- Dùng từ giàu hình ảnh, âm thanh: Thường là các từ láy, từ tượng thanh, tượng hình,

- Sử dụng từ gần nghĩa, trái nghĩa, các biện pháp tu từ về từ

Ví dụ:

+ Dùng từ chính xác: Mặt trăng tròn nhô lên từ phía rặng tre đầu làng

Ngày đăng: 17/10/2019, 11:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w