1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp giúp học sinh học tốt phân môn luyện từ và câu lớp 4 về các kiểu câu ở trường THTHCS trí nang, huyện lang chánh

22 139 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 208,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LANG CHÁNH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT "CÁC KIỂU CÂU" TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4 Ở

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LANG CHÁNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT "CÁC KIỂU CÂU" TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4

Ở TRƯỜNG TH VÀ THCS TRÍ NANG - HUYỆN LANG

Trang 2

I Mở đầu 1.1 Lí do chọn đề tài:

Trong chương trình Tiểu học mục tiêu của dạy học Tiếng Việt là phát triểnnăng lực giao tiếp cho học sinh phát triển các kĩ năng đọc, nghe - nói, viết là các

kĩ năng sử dụng Tiếng Việt chiếm thời lượng nhiều nhất, gần bằng một nửa tổngthời lượng của các môn học để tạo ra những môi trường giao tiếp có chọn lọc để

mở rộng vốn từ theo định hướng, trang bị tri thức nền và phát triển các kĩ năng

sử dụng Tiếng Việt Đây là môn học đóng vai trò quan trọng hàng đầu bởi nódạy cho học sinh, cung cấp cho các em vốn tri thức Tiếng Việt ban đầu nhằmphục vụ cho việc tiếp thu các môn học khác một cách dễ dàng hơn

Phân môn Luyện từ và câu sẽ giúp cho các em hình thành, phát triển vốnngôn ngữ của mình Hằng ngày việc tiếp xúc với thầy cô, bạn bè, cha mẹ cũngnhư với mọi người đòi hỏi các em phải có vốn ngôn ngữ đồng thời qua việc tiếpxúc đó các em cũng bổ sung thêm cho mình những gì bị thiếu hụt Với mục tiêudạy học Tiếng Việt như trên, tôi thấy phân môn luyện từ và câu đóng vai trò hếtsức quan trọng trong giáo dục làm cơ sở ban đầu cho trẻ chiếm lĩnh tri thức mới,

có được năng lực sử dụng ngôn ngữ, biết sử dụng thành thạo Tiếng Việt, cùngcác bộ môn khác góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hộichủ nghĩa

Với nội dung phân môn luyện từ và câu ở lớp 4 khá đa dạng và phong phúcung cấp những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và rèn luyện kĩ năng dùng từ,đặt câu (nói, viết) Như chúng ta đã biết chương trình Tiếng Việt lớp 4 học sinhđược học các kiểu câu chia theo mục đích nói gồm (Câu kể; Câu hỏi; Câu cảm;Câu khiến) không phải học sinh nào cũng dễ dàng xác định hay nhận dạng, phânbiệt ngay được các kiểu câu Qua thực tế giảng dạy nhiều năm và kiểm tra đánhgiá kết quả học tập của học sinh hàng ngày, tôi nhận thấy nhiều học sinh cònnhầm lẫn khi xác định các kiểu câu trong đoạn văn, đặt câu, viết đoạn văn có sửdụng các kiểu câu còn rất nhiều hạn chế

Vậy làm thế nào để giúp học sinh tránh nhầm lẫn hoặc giảm được nhầm lẫn,khi xác định các kiểu câu là vấn đề khiến tôi băn khoăn trăn trở Với những lý

do trên, tôi đã chọn và viết sáng kiến kinh nghiệm: Một số giải pháp giúp học sinh học tốt " Các kiểu câu" trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4 ở trường Tiểu học và Trung học cơ sở Trí Nang, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.

nhằm giúp học sinh có hứng thú khi học tập phân môn Luyện từ và câu đặc biệt

là Các kiểu câu, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở bậcTiểu học

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Giúp nâng cao chất lượng dạy học phân môn luyện từ và câu rèn kĩ năng sửdụng vốn từ, kĩ năng dùng từ đặt câu, sử dụng dấu câu của học sinh lớp 4 là mục

Trang 3

đích quan trọng hơn nữa giúp học sinh hứng thú học tập, tiếp thu bài học mộtcách nhẹ nhàng, khắc sâu kiến thức và góp phần nâng cao chất lượng dạy họcmôn tiếng Việt nói chung và phân môn luyện từ và câu nói riêng ở bậc Tiểu học.

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Một số giải pháp giúp học sinh học tốt "Các kiểu câu" trong phân mônLuyện từ và câu lớp 4 ở trường Tiểu học và Trung học cơ sở Trí Nang, huyệnLang Chánh, tỉnh Thanh Hóa

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong khi dạy phân môn luyện từ và câu có thể sử dụng rất nhiều phươngpháp dạy học phát huy tính tích cực cho học sinh như sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: sách giáo khoa, sách giáo viên, sáchkham khảo

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Học sinh quan sát, phỏng vấn, phântích, đánh giá, tổng kết kinh nghiệm

- Phương pháp luyện tập theo mẫu: Sử dụng phương pháp này giúp họcsinh từ các mẫu câu cụ thể tìm hiểu vận dụng vào các đơn vị lời nói theo mẫu

- Phương pháp thực hành giao tiếp: Với phương pháp này không chỉhướng học sinh vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quátrình giao tiếp mà còn là phương pháp cung cấp lí thuyết cho học sinh

- Phương pháp khảo sát thực tế: Sử dụng phương pháp này vào việc khảosát qua bài làm của học sinh để tìm ra lỗi sai để khắc phục nhằm nâng cao chấtlượng môn học

Tùy vào nội dung kiến thức từng dạng bài mà giáo viên sử dụng phươngpháp giảng dạy học sao cho phù hợp để tạo cho tất cả học sinh đều được thamgia thực hành theo khả năng tiếp thu của mình để từng bước vươn lên đạt chuẩnkiến thức kĩ năng của phân môn

Trang 4

II Nội dung 2.1 Cơ sở lí luận:

Trong tư bản luận, Các Mác đã từng nói: "Cùng với lao động và ngônngữ, loài người là nhân tố quyết định sự phát triển của mình” Vậy con người và

xã hội loài người phát triển mạnh mẽ đạt đến trình độ văn minh hiện đại phải kểđến yếu tố quan trọng là ngôn ngữ Nhờ có ngôn ngữ con người có khả năng tưduy Ngôn ngữ là công cụ hiện thực của tư duy Vì thế tư duy và ngôn ngữ cómối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau Người có tư duy tốt sẽgiao tiếp tốt Trong việc đào tạo con người, việc cung cấp kỹ năng và sử dụng

ngôn ngữ chính là cung cấp phương tiện để tư duy chiếm lĩnh kiến thức [ ]

Lê-Nin đã từng khẳng định: “Ngôn ngữ còn là phương tiện giao tiếp quantrọng nhất của con người” Con người sống thành xã hội Trong xã hội nhất thiếtphải có sự giao tiếp để con người trao đổi thông tin, biểu đạt tâm tư, nguyệnvọng và cảm xúc Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp chủ yếu của xã hội loài người.Con người học ngôn ngữ từ tuổi còn thơ và suốt cuộc đời không ngừng trau dồingôn ngữ cho chính mình Con người học ở nhà trường và chính trong cuộcsống Nhưng ở nhà trường con người được học ngôn ngữ một cách hệ thống vàchuẩn mực nhất.[ ]

Luyện từ và câu là một phân môn của môn Tiếng Việt, thông qua phânmôn này, học sinh được rèn luyện về khả năng dùng từ chính xác, đúng chính tả.Phân môn Luyện từ và câu vận dụng các hiểu biết về kĩ năng về tiếng Việt docác phân môn khác mang lại, rèn luyện hoăc cung cấp, đồng thời góp phần hoànthiện chúng Để làm được một bài tập Luyện từ và câu, học sinh phải hoàn thiện

cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết; phải vận dụng các kiến thức về Tiếng Việtvào quá trình viết bài Trong quá trình vận dụng này, các kĩ năng và kiến thức

đó được học sinh hoàn thiện và nâng cao dần Vậy để rèn kĩ năng sử dụng vốn

từ, kĩ năng dùng từ đặt câu, sử dụng dấu câu cho học sinh hiểu thế nào là câu kể,câu hỏi, câu cảm, câu cầu khiến Biết cách đặt các loại câu, viết được đoạn văn.Nhận biết các loại câu, các dấu kết thúc câu (dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấmthan) và nghĩa của câu, tạo cho học sinh môi trường giao tiếp để học sinh mởrộng vốn kiến thức và củng cố các dạng bài tập Mà việc xác định phương pháp

tổ chức một tiết dạy như vậy là nhân tố quyết định sự thành công của quá trìnhdạy học hết sức quan trọng

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

Nhà trường đã quan tâm chú trọng đến chất lượng học tập của học sinh.Hàng năm nhà trường thường tổ chức thi giao lưu học sinh có năng khiếu trong

đó có phần kiến thức phân môn "Luyện từ và câu" tạo cho học sinh môi trường

giao tiếp để học sinh mở rộng vốn từ có định hướng, trang bị cho học sinh cáckiến thức cơ bản về Tiếng Việt gắn với các tình huống giao tiếp thường gặp Từ

đó nâng cao các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt của học sinh

a Đối với giáo viên:

- Phân môn "Luyện từ và câu" là phần kiến thức khó trong khi hướng dẫnhọc sinh nắm được yêu cầu và vận dụng vào việc làm các bài tập nên dẫn đến

Trang 5

tâm lý giáo viên ngại bởi việc vận dụng của giáo viên còn lúng túng gặp khókhăn.

- Một số giáo viên chưa chịu đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu và khaithác kiến thức tìm ra phương pháp phù hợp với học sinh, lệ thuộc vào đáp án,gợi ý dẫn đến học sinh ngại học phân môn này

- Cách dạy còn đơn điệu, lệ thuộc máy móc, ít sáng tạo, chưa thu hút lôicuốn được học sinh, chưa quan tâm đến việc mở rộng, phát triển, chưa giúp họcsinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về Tiếng Việt

- Vì vậy trong các buổi sinh hoạt chuyên môn chúng tôi thường xuyênđưa ra để thảo luận về việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm mục đích đểphát triển, bồi dưỡng học sinh có năng khiếu và nâng cao chất lượng đại trà

b Đối với học sinh:

- Học sinh chưa nắm rõ về nội dung chương trình

- Học sinh chưa nắm rõ về cách trình bày cấu trúc của tiết luyện từ và câu

- Một số em chưa nắm chắc về khái niệm các kiểu câu

- Một số em chưa biết cách dùng từ, đặt câu, viết đoạn và hoàn chỉnh vềcác kiểu câu

- Một số học sinh chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng, nhận diệnphân loại được các kiểu câu khi áp dụng vào thực hành đôi khi còn nhầm lẫn, tưduy một số em còn hạn chế nên các em đều nghĩ rằng đây là phân môn vừa

"khô" vừa "khó" nên chưa dành nhiều thời gian để tìm hiểu phân môn này

- Trong thực tế cho thấy nhiều học sinh khi hỏi đến lý thuyết thì trả lời rấttrôi chảy, chính xác, nhưng khi làm bài tập thực hành thì lúng túng và làm bàikhông đạt yêu cầu Điều đó thể hiện học sinh nắm kiến thức một cách máy móc,thụ động và tỏ ra yếu kém thiếu chắc chắn

- Đứng trước thực trạng dạy và học như trên yêu cầu đặt ra cấp thiết là phảiđổi mới phương pháp dạy học để bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từđúng, nói và viết thành câu; có ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hóa trong giaotiếp

Với thực trạng trên, ngay từ đầu năm học, tôi đã tiến hành điều tra khảo

sát 23 học sinh lớp 4B, trường Tiểu học và Trung học cơ sở Trí Nang phân môn "

Luyện từ và câu" Kết quả như sau:

*Giải pháp 1: Nắm vững nội dung chương trình

Nội dung chương trình phân môn luyện từ và câu ở lớp 4 được sắp xếp xen

kẽ các bài mở rộng vốn từ với các bài học có nội dung lí thuyết Qua các bài lí

Trang 6

thuyết, các em được cung cấp kiến thức từ dễ đến khó nhằm cung cấp các kiếnthức sơ giản về cấu tạo, công dụng và cách sử dụng các kiểu câu: Câu hỏi (tuần13,14,và 15), Câu kể (tuần 16,17,19,20,22, 24,25 và 26 - bao gồm các kiểu câu

Ai làm gì? Ai thế nào? Ai làm gì?), Câu khiến (tuần 27, 29), Câu cảm (tuần 30).

Dạng bài tập: nhận diện các kiểu câu; Đặt câu theo mẫu nhằm thực hiện các mụcđích cho trước; lựa chọn kiểu câu để đảm bảo lịch sự trong giao tiếp; luyện sửdụng câu trong các tình huống khác nhau

* Mục đích giúp học sinh nắm vững nội dung chương trình của mạch kiếnthức các kiểu câu chia theo mục đích nói

*Giải pháp 2: Nắm vững cách trình bày, cấu trúc

Như vậy những tiết luyện tập gồm 3 - 4 bài tập Còn các bài cung cấp kiếnthức mới đều có cấu trúc giống nhau gồm 3 phần: Nhận xét và Ghi nhớ; kết luận

Phần nhận xét được dẫn dắt đưa ra ngữ liệu chứa hiện tượng ngôn ngữcần nghiên cứu Đó là những câu thơ, câu văn, đoạn thơ, đoạn văn Tiếp theo cáccâu gợi ý giúp học sinh tìm ra các đặc điểm có tính chất quy luật của hiện tượngđược khảo sát Giáo viên phải dẫn dắt, gợi mở để học sinh trả lời các câu hỏinày Trả lời đúng học sinh sẽ phát hiện ra những tri thức cần phải học, nhữngquy tắc cần ghi nhớ

Phần ghi nhớ là kết luận được rút ra một cách tự nhiên từ phần nhận xét

Đó cũng chính là nội dung lí thuyết và các quy tắc sử dụng câu cần cung cấp chohọc sinh Học sinh cần ghi nhớ nội dung này Giáo viên phải có biện pháp dạyhọc để học sinh không chỉ học thuộc lòng mà ghi nhớ trên cơ sở những hiểu biếtchắc chắn Khi dạy phần này, giáo viên cần phải chốt lại những nội dung quantrọng bằng một ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ Ngay cả dạy học phần Ghinhớ là phần luôn có sự tương tác của giáo viên và học sinh toàn lớp, giáo viêncũng không nên đi sâu vào giảng giải lí thuyết

Phần luyện tập là phần bài tập nhằm củng cố và vận dụng kiến thức đãhọc gồm một số kiểu bài tập

Giáo viên luôn chú ý hướng dẫn học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập,làm bài theo mẫu hoặc giải quyết các bài tập theo cá nhân, nhóm Sau đó tổ chứcđánh giá kết quả làm bài của học sinh để củng cố, uốn nắn kịp thời

* Với giải pháp này giúp các em có thể tự tìm hiểu, nội dung, cách trìnhbày của bài học mới giáo viên chỉ cần gợi ý hướng dẫn để học sinh chiếm lĩnhtri thức cần đạt của từng nội dung bài học

*Giải pháp 3: Nắm chắc lí thuyết về “Các kiểu câu".

a Câu hỏi:

+ Câu hỏi (còn gọi là câu nghi vấn) dùng để hỏi về những điều chưa biết

- Phần lớn câu hỏi là để hỏi người khác, nhưng cũng có những câu để tự hỏimình

VD: Mẹ ơi, sắp ăn cơm chưa? (Đây là câu hỏi để hỏi người khác)

Tại sao mình lại quên nhỉ? (Đây là câu hỏi tự hỏi mình)

- Khi hỏi thường có các từ nghi vấn (ai, gì, nào, sao, không, ) Khi viết, cuối câuhỏi có dấu chấm hỏi (?)

Trang 7

+ Dùng câu hỏi vào mục đích khác như: Thái độ khen, chê; Sự khẳng định, phủ

định; Yêu cầu, mong muốn

+ Giữ phép lịch sự khi đặt câu hỏi: Khi hỏi chuyện người khác, cần giữ phéplịch sự Cụ thể là:

- Cần thưa gửi, xưng hô, cho phù hợp với quan hệ giữa mình và người được hỏi

- Cần tránh những câu hỏi làm phiền lòng người khác

b Câu kể:

Câu kể (còn gọi là câu trần thuật) là câu nhằm mục đích kể, tả hoặc giới thiệu về sự vật, sự việc; hoặc dùng để nói lên ý kiến hoặc tâm tư của mỗi người Cuối câu kể phải ghi dấu chấm

Câu kể có các cấu trúc như sau:

c Câu khiến

Câu khiến (câu cầu khiến) dùng để nêu yêu cầu, đề nghị, mong muốn, củangười nói, người viết với người khác

Khi viết, cuối câu khiến có dấu chấm than (!) hoặc dấu chấm

Ví dụ: Thanh hãy đi học đi!/ Cả lớp hãy mở cửa ra

*Cách đặt câu khiến: Muốn đặt câu khiến, có thể dùng một trong những cáchsau:

- Thêm từ hãy hoặc đừng, chớ, nên, phải vào trước động từ.

M: Em đừng ngồi quá lâu trước máy vi tính.

- Thêm từ lên hoặc đi, thôi, nào, vào cuối câu.

M: Các bạn hãy cố lên!

- Thêm từ đề nghị hoặc xin, mong, vào đầu câu.

M: Xin bố cho con tiền mua một quyển sổ ạ!

- Dùng giọng điệu phù hợp với câu khiến

lời câu hỏi Làm gì?

Ví dụ:

- Em bé múa hát

- Đàn trâu đang gặm cỏ

Câu Ai thế nào?

Miêu tả đặc điểm, trạng thái Dùng tính

từ hoặc cụm tính từ, động từ hoặc cụm động từ chỉ trạng tháilàm vị ngữ trả lời

Trang 8

d Câu cảm:

- Câu cảm (câu cảm thán) là câu dùng để bộc lộ cảm xúc (vui mừng, thán phục,đau xót, ngạc nhiên, ) của người nói

- Các từ ngữ: ôi, chao, chà, đứng trước: M: Ôi, Thác Ma Hao đẹp quá!

- Các từ lắm, quá, thật đứng cuối câu: M: Lan Hương hát hay thật!

- Khi viết, cuối câu cảm thường có dấu chấm than (!)

* Với giải pháp này giúp học sinh nắm vững lí thuyết về các kiểu câugiúp các em xác định các kiểu câu một cách dễ dàng với độ chính xác tương đốicao

* Giải pháp 4: Dạy thực hành “các kiểu câu"

* Dạng 1: Câu hỏi

Để học sinh nắm vững lý thuyết, giáo viên cần sử dụng nhiều phươngpháp dạy học có hiệu quả Đặc biệt trong các tiết thực hành giáo viên cần để họcsinh được ôn luyện, kiểm tra, đánh giá, kỹ năng, xác định và sử dụng đúng kiểucâu giáo viên có thể áp dụng các bài tập sau:

Ví dụ 1: Bài 3 và 4 - Trang 137 - TV4 - tập 1 học sinh phải tìm được các từnghi vấn trong các câu hỏi dưới đây

b. Chú bé Đất trở thành chú Đất Nung, phải không?

c. Chú bé Đất trở thành chú Đất Nung à?

Bài 4: Đặt câu có từ và cặp từ nghi vấn ở bài tập 3

Có phải – không? Có phải cậu học lớp 4B không?

phải không? Cậu muốn đi chơi với chúng tớ, phải không?

Ở bài này học sinh dễ dàng tìm được các từ nghi vấn nhưng đến bài tập 4khi đặt câu với mỗi từ nghi vấn vừa tìm được ở bài tập 3 thì học sinh chỉ đặt câuhỏi mà không có từ nghi vấn Để giải quyết vấn đề này tôi yêu cầu học sinh đọclại các câu hỏi ở bài tập 3 và chỉ ra các từ nghi vấn: có phải - không?; phảikhông?; à? và đồng thời khắc sâu kiến thức câu hỏi dùng để hỏi những điềuchưa biết Phần lớn câu hỏi là để hỏi người khác nhưng cũng có câu hỏi là để tựhỏi mình Câu hỏi thường có các từ nghi vấn hoặc cặp từ nghi vấn Khi viết,cuối câu hỏi có dấu chấm hỏi

Ví dụ 3: Bài tập 3 - trang 143 - TV4 - tập 1 hãy nêu một vài tình huống cóthể dùng câu hỏi để:

a Tỏ thái độ khen,

chê

Khen: Sao bạn có thể viết được chữ đẹp đến như vậy?

Chê: Sao con rửa tay rồi mà vẫn bẩn như vậy?

b Khẳng định, phủ

định

Trời hôm nay nắng nhỉ? Hút thuốc lá nhiều cho hư phổi à?

c Thể hiện yêu

cầu, mong muốn

Mong muốn: Em muốn sang nhà Hồng chơi Em thưa vớimẹ: "Mẹ ơi, con muốn sang nhà Hồng chơi có được không?"Yêu cầu: Em gái em nhảy nhót trên giường huỳnh huỵch lúc

Trang 9

em đang đang chăm chú học bài Em bảo:" Em ra ngoài chochị học bài được không?

Qua bài tập này học sinh biết dùng câu hỏi vào mục đích khác như: Thái

độ khen, chê, sự khẳng định, phủ định, yêu câu, mong muốn trong những tìnhhuống khác nhau Mỗi câu hỏi đều diễn đạt một ý khác nhau Trong khi nói, viếtcác em cần sử dụng linh hoạt để cho lời nói, câu văn thêm hay và lôi cuốn ngườiđọc, người nghe hơn

Ví dụ 2: Bài 2 - Trang 153 - TV4 - tập 1 Đọc thầm đoạn văn và So sánh các

câu hỏi trong đoạn văn: Em thấy câu các bạn nhỏ hỏi cụ già có thích hợp hơnnhững câu hỏi khác không? Vì sao?

Đáp án:

Các câu các em hỏi nhau Câu hỏi các bạn nhỏ hỏi cụ già

- Chuyện gì xảy ra với ông cụ thế nhỉ?

Vậy trong đoạn trích trên có 3 câu hỏi các bạn tự hỏi nhau, 1 câu các bạn hỏi

cụ già Các em cần so sánh để thấy được câu các bạn nhỏ hỏi cụ già có thích hợphơn câu hỏi mà các bạn - tự hỏi nhau không? Qua bài tập này củng cố khắc sâucho học sinh về cần đặt những câu hỏi lịch sự phù hợp, thể hiện thái độ tế nhị,thông cảm, sẵn lòng giúp đỡ cụ già của các bạn Khi hỏi không phải cứ thưa, gửi

là lịch sự mà các em còn phải tránh những câu hỏi thiếu tế nhị, tò mò, làm phiềnlòng người khác

Ví dụ 4: (BTNC - lớp 4) Đặt câu hỏi cho bộ phận in đậm trong từng câu dướiđây:

Bác sĩ Hoa là người thế nào?

c Bé rất ân hận vì bé không nghe lời

mẹ, đã ngắt bông hoa đẹp

? Bé ân hận vì sao?

d Chủ nhật tuần tới, mẹ sẽ cho đi

chơi công viên nước

Bao giờ mẹ cho con đi chơi công viên nước?

Ở ví dụ trên học sinh chỉ biết nhận biết được các bộ phận in đậm nhưng

để đặt được các câu hỏi cho bộ phận in đậm thì rất khó khăn nên tôi đã gợi ý câu

a "Cái gì dập dờn trước gió?" sau đó các câu còn lại học sinh hiểu và làm bài đạt

kết quả cao hơn

Ví dụ 5: (BTNC - lớp 4) Viết một đoạn văn ngắn thuật lại việc em mua

đồ chơi ở cửa hàng bán đồ chơi Em muốn cô bán hàng cho em xem một cái ô tôchạy bằng dây cót mà em thích Trong đoạn văn có dùng câu hỏi nhằm mục đích

đề nghị, yêu cầu (Em Đồng Thị Thu Hiền lớp 4B đã viết)

Trang 10

Hôm thứ bảy tuần trước, em được bố cho đi siêu thị để mua quần áo.Bỗng em nhìn thấy ở gian hàng bán đồ chơi có một chiếc ô tô chạy bằng dây cótgiống của bạn Phi mà em rất thích Em liền kéo tay bố lại gần gian hàng và nóivới cô bán hàng:

- Cô làm ơn cho cháu xem chiếc ô tô chạy bằng dây cót kia một chút đượckhông ạ?

Cô mỉm cười và lấy chiếc ô tô đó cho em xem

* Học sinh biết thuật lại việc em mua đồ chơi là một cái ô tô chạy bằngdây cót Biết viết đoạn văn có dùng câu hỏi (Cô làm ơn cho cháu xem chiếc ô tôchạy bằng dây cót kia một chút được không ạ?) nhằm mục đích đề nghị, yêu cầutrong khi viết đoạn văn

* Dạng 2: Câu kể

Trong chương trình ngoài bài “Câu kể” có tính khái quát chung, học sinh

còn được học kĩ hơn về câu kể "Ai làm gì? Ai thế nào?; Ai là gì" ở những tiết

đầu, khi mới học về câu kể Ai làm gì? Đa số học sinh đều xác định tương đối đúng kiểu câu này Nhưng khi học tiếp sang kiểu câu Ai thế nào? và Ai là gì? thì

việc xác định các câu kể trong một đoạn văn nhiều em nhầm lẫn chẳng hạn hai

câu sau đây là hai câu kể kiểu "Ai làm gì?" Nhưng đa số học sinh xác định hai câu sau là câu kể Ai thế nào?

Câu 1: Đàn voi bước đi chậm rãi.

Câu 2: Người quản tượng ngồi vắt vẻo trên chú voi đầu.

Lưu ý: Để giúp học sinh phân biệt 2 kiểu câu Ai thế nào? và Ai làm gì?

nếu học sinh nhầm lẫn:

+ Câu Ai thế nào? cho ta biết tính chất, trạng thái của sự vật

+ Câu Ai làm gì? Cho ta biết hành động của sự vật

+ Các câu Đàn voi bước đi chậm rãi và Người quản tượng ngồi vắt vẻo

trên chú voi đầu đều là kiểu Ai làm gì? vì có động từ bước đi, ngồi làm vị ngữ

trả lời câu hỏi làm gì? Các tính từ Chậm rãi vắt vẻo không trả lời câu hỏi như

thế nào? mà chỉ miêu tả cho hoạt động của bước đi và ngồi.

Ví dụ 1: Bài tập 3 - trang 161- TV4 - tập 1 phần nhận xét

Ba – ra – ba uống rượu đã say Vừa hơ bộ râu nói:

-Bắt được thằng người gỗ, ta sẽ tống nó vào cái lò sưởi này

Là một câu kể nhưng lại kết thúc bằng dấu hai chấm do nó có nhiệm vụbáo hiệu: Câu tiếp theo là lời của nhân vật ba – ra ba Như vậy việc sử dụng dấuhai chấm ở đây chịu sự chi phối của một quy tắc khác - quy tắc báo hiệu chỗ bắtđầu lời nhân vật Từ sự so sánh đó giáo viên khắc sâu ghi nhớ về khái niệm câu

kể cho học sinh cả về nội dung và dấu hiệu hình thức

Ví dụ 2: Bài 1a - trang 24 - TV4 - Tập 2:

Đọc đoạn văn sau và tìm các câu kể Ai thế nào? Có trong đoạn văn:

“ (1) Rồi những người con cũng lớn lên và lần lượt lên đường (2) Căn nhà trốngvắng (3) Những đêm không ngủ, mẹ lại nghĩ về họ (4) Anh Khoa hồn nhiên,xởi lởi (5) Anh Đức lầm lì ít nói (6) Còn anh Tịnh thì đĩnh đạc, chu đáo.”

Đoạn văn gồm 6 câu được đánh số thứ tự từ 1 đến 6 Sau khi xét từng câu,

các em sẽ nhận ra những câu kể Ai thế nào? Trong đoạn văn trên gồm 6 câu.

Trang 11

Tuy nhiên, với câu 1, nhiều học sinh vẫn nhầm là câu kể "Ai làm gì?" vì có vịngữ thứ 2 chỉ hoạt động (lần lượt lên đường) Kết quả khẳng định câu 1 là câu

kể Ai làm gì? Là có căn cứ Vì vậy giáo viên cần giải thích rõ để các em hiểu

câu " Rồi những người con cũng lớn lên và lần lượt lên đường" Câu văn này có

hai vị ngữ, vị ngữ thứ nhất trả lời câu hỏi "Ai thế nào?" (lớn lên) và vị ngữ thứ

hai trả lời câu hỏi Ai làm gì? (lần lượt lên đường) Nhưng vì vị ngữ chỉ đặc điểm (lớn lên) đặt trước nên toàn câu trả lời cho câu hỏi "Ai thế nào?"

Gặp những trường hợp khó xác định đó là kiểu câu gì như câu 1, giáo viêncần có những gợi mở giúp học sinh phát hiện và đi đến kết luận đầy đủ, chínhxác Như vậy các em cũng dễ dàng khắc sâu kiến thức và vận dụng linh hoạttrong khi làm bài

Ví dụ 3: So sánh chủ ngữ, vị ngữ của 3 kiểu câu Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì?

Từ việc nhận ra sự khác nhau của chủ ngữ ngữ, vị ngữ trong 3 kiểu câu kểnói trên Tuy nhiên, trước khi khắc sâu sự khác biệt này, một yêu cầu quan trọng

là giúp học sinh biết xác định đúng chủ ngữ - vị ngữ, tôi thường cho các em đặtcâu hỏi cho mỗi bộ phận hoặc xây dựng một hệ thống câu hỏi mở Chẳng hạn

xác định chủ ngữ - vị ngữ của câu kể Ai thế nào? Sau đây:

Câu: “Khi chạy trên mặt đất, nó giống như một con ngỗng cụ nhưngnhanh nhẹn hơn nhiều”

Hỏi: Tìm từ ngữ trả lời câu hỏi Con gì giống con ngỗng cụ nhưng nhanhnhẹn hơn nhiều? (“Nó” - tức con đại bàng đã nói ở các câu trên)

Hỏi: Vậy trả lời cho câu hỏi “con gì?” là bộ phận nào? (Bộ phận chủ ngữ)

- Tương tự giáo viên hỏi: từ ngữ nào trả lời cho câu hỏi: Nó như thế nào?(giống như một con ngỗng cụ nhưng nhanh nhẹn hơn nhiều)

- Hỏi: Trả lời cho câu hỏi như thế nào là bộ phận gì? (Bộ phận vị ngữ do 2cụm tính từ (Tính từ giống, nhanh nhẹn)

Ngày đăng: 17/10/2019, 11:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w