1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 4b trường tiểu học ái thượng

19 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 293 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm: Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt như: nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trư

Trang 1

MỤC LỤC

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3 2.3 Các Biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5 2.3.1 Biện pháp 1: Nâng cao kiến thức chuyên môn của giáo viên 5 2.3.2 Biện pháp 2: Củng cố cho học sinh những quy tắc chính tả cơ bản 6 2.3.3 Biện pháp 3: Cung cấp cho học sinh các mẹo luật chính tả 7 2.3.4 Biện pháp 4: Rèn đọc đi đôi với luyện viết chính tả 11 2.3.5 Biện pháp 5: Lựa chọn nội dung dạy học phù hợp 12 2.3.6 Biện pháp 6: Giúp học sinh hiểu nghĩa của từ 13 2.3.7 Biện pháp 7: Hướng dẫn học sinh phát hiện và tự sửa lỗi 14 2.4 Hiệu quả của sáng kiến đối với hoạt động giáo dục, với bản thân,

Trang 2

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài:

Như chúng ta đã biết: Tiếng Việt là một trong những môn học rất quan trọng của bậc tiểu học Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm:

Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt như: nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy, cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt, xã hội, tự nhiên và con người Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt [4]

Chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học bao gồm nhiều phân môn Mỗi một phân môn đều có nhiệm vụ quan trọng Chính tả cũng vậy Đây là phân môn

có vị trí quan trọng trong giai đoạn học tập đầu tiên của trẻ Nó đảm nhận một phần trọng trách không nhỏ trong việc hình thành và phát triển ở học sinh một

số kỹ năng sử dụng Tiếng Việt như: kỹ năng viết ( kết hợp kĩ năng nghe) Thông qua học Chính tả, các em nắm bắt được các quy tắc chính tả và hình thành kỹ năng, kỹ xảo chính tả Có kĩ năng chính tả thành thạo sẽ giúp các em học tập, giao tiếp được thuận lợi, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Ngoài ra Chính tả còn có nhiệm vụ bồi dưỡng cho học sinh những tư tưởng tình cảm tốt đẹp, giúp học sinh hình thành nhân cách con người qua chữ viết; rèn luyện cho học sinh tính cẩn thận, kiên nhẫn và óc thẩm mĩ

Chính tả có tầm quan trọng như vậy nên việc rèn cho học sinh viết đúng chính tả là một vấn đề hết sức cần thiết và đáng được quan tâm nhiều hơn ở các trường học nói chung và trường Tiểu học nói riêng Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, qua dự giờ đồng nghiệp cũng như việc kiểm tra vở học sinh tôi nhận thấy: tình trạng viết sai chính tả ở học sinh trường tôi xảy ra khá phổ biến Đặc biệt đối với học sinh ở vùng nông thôn, học sinh người dân tộc, do đặc điểm phát âm của vùng phương ngữ “nói sao viết vậy” càng làm cho tình trạng viết sai chính

tả thêm nghiêm trọng

Là giáo viên đứng lớp, trước thực trạng này, tôi thực sự rất lo lắng và trăn trở Bởi lẽ: việc viết sai chính tả đem lại rất nhiều tai hại Nó ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả học tập của học sinh trong phân môn Chính tả nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung; đồng thời nó ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục trong nhà trường cũng như hiệu quả giao tiếp của các em Sai chính tả là vi phạm chuẩn mực ngôn ngữ Nó chứng tỏ sự thiếu hụt tri thức văn hóa của người viết Sai chính tả sẽ làm giảm hiệu quả thông tin, nhiều khi làm người đọc hiểu sai ý định của người viết và gây phản cảm cho người tiếp nhận văn bản

Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi nghĩ mình cần phải làm gì đó để giúp các

em khắc phục lỗi chính tả, nâng cao chất lượng chữ viết cho các em, giúp các

em có kết quả cao trong học tập Với mong muốn đó, tôi mạnh dạn đưa ra “ Một

số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 4B Trường Tiểu học Ái Thượng.”

Trang 3

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu của sáng kiến này là giúp học sinh nắm vững hơn các quy tắc chính tả cũng như một số mẹo luật chính tả từ đó rèn kĩ năng viết đúng chính tả, góp phần vào việc nâng cao kết quả học tập của học sinh cũng như chất lượng của phân môn Chính tả tại trường; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các em học tốt các môn học khác

Nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho bản thân, giúp bản thân tích lũy thêm kinh nghiệm để dạy tốt phân môn Chính tả

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 4B Trường Tiểu học Ái Thượng

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Để hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

+ Phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu lí luận của ngôn ngữ viết, tầm quan trọng của chữ viết; mục tiêu, nhiệm vụ của phân môn Chính tả; thực trạng viết chính tả của học sinh, nguyên nhân của thực trạng đó

+ Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin

Khảo sát thực trạng bài viết chính tả của học sinh lớp 4B Trường Tiểu học Ái Thượng Chấm bài, phân loại bài viết theo từng mức độ

+ Phương pháp thực nghiệm:

Vận dụng các biện pháp thực nghiệm vào thực tế giảng dạy của lớp phụ trách Tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học để kiểm tra tính khả thi của Sáng kiến kinh nghiệm

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Trong ngôn ngữ học, chính tả của một ngôn ngữ là một hệ thống các quy tắc ghi chép lại lời nói được cộng đồng người sử dụng chấp nhận một cách chính

thức Theo một số từ điển: “ Chính tả là phép viết đúng, là lối viết kết hợp với chuẩn, là hệ thống quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ.” [2]

Mục tiêu của phân môn Chính tả nhằm: Hình thành ở học sinh kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, trong đó đặc biệt chú ý tới kĩ năng viết Chính tả cung cấp cho học sinh một số kiến thức về chữ viết như: cấu tạo chữ, vị trí dấu thanh, quy tắc chính tả Ngoài ra phân môn Chính tả còn góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, thay thế, so sánh [4]

Cùng với phân môn Tập Viết, phân môn Chính tả có nhiệm vụ giúp học sinh củng cố và hoàn thiện các tri thức cơ bản về hệ thống ngữ âm và chữ viết Tiếng Việt Hình thành thói quen cẩn thận, sạch sẽ, kiên trì và rèn luyện cho học sinh tính cẩn thận, sự quan sát tinh tế, hướng tới cái đẹp

Chính tả còn có vị trí hết sức quan trọng là rèn cho học sinh thói quen viết chữ, ghi Tiếng Việt đúng và chuẩn Đối với học sinh tiểu học, biết viết là điều

Trang 4

kiện để các em học tập các môn học khác trong chương trình Viết đúng chính tả giúp học sinh có điều kiện sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học tập, trong việc viết các văn bản, thư từ,…

Như vậy, rõ ràng việc viết đúng chính tả không chỉ đơn giản là viết xong

để đấy mà sâu hơn nữa còn phải giúp các em hiểu được nội dung văn bản, biết được mình đang viết gì và cần viết cái gì để nắm được cái hay, cái đẹp trong từng câu chữ và hiểu được ý nghĩa của chúng

Chữ viết của Tiếng Việt là chữ viết ghi âm nên nguyên tắc chính tả chủ yếu của Tiếng Việt là nguyên tắc ngữ âm học, nghĩa là mỗi âm vị được thể hiện bằng một tổ hợp chữ cái, mỗi âm tiết, mỗi từ có một cách viết nhất định.

Do đó việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở viết đúng Nghĩa là phải tôn trọng việc phát âm, lấy phát âm để điều chỉnh chữ viết Tuy nhiên nếu với nguyên tắc này ở một số địa phương phát âm lệch chuẩn, học sinh không thể dựa hoàn toàn vào cách phát âm thực tế của địa phương nhất định nào đó vì phát âm sai lệch so với chính âm Giáo viên phải sửa chữa, vạch rõ cách phát âm sai lệch phương ngữ để các em hiểu rõ và tự sửa chữa [5]

Từ cơ sở lí luận trên, để hạn chế lỗi chính tả cho học sinh, giúp học sinh khắc phục lỗi chính tả một cách có hiệu quả, giáo viên cần phải nắm được mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản của phân môn Chính tả là giúp học sinh nắm vững quy tắc chính tả, hình thành kỹ năng chính tả; phải nắm được cơ sở của dạy chính tả

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

a Đối với giáo viên:

Qua quá trình giảng dạy, qua dự giờ giáo viên, tôi thấy thực trạng việc dạy Chính tả của giáo viên Trường Tiểu học Ái Thượng như sau:

- Giáo viên đã đổi mới phương pháp dạy học, biết vận dụng các hình thức dạy học vào các bài dạy cụ thể Song phần lớn các tiết dạy học Chính tả chưa được giáo viên đầu tư, chú trọng nhiều

- Cách dạy của giáo viên thường phụ thuộc vào sách hướng dẫn, chưa có tính sáng tạo Giáo viên chưa mạnh dạn đưa những sáng kiến, ý tưởng của mình vào quá trình giảng dạy

- Giáo viên ít củng cố và khắc sâu cho học sinh các quy tắc, mẹo luật chính tả qua các bài viết hoặc bài tập

- Hướng dẫn học sinh viết các từ khó, dễ lẫn chưa cụ thể, chưa chi tiết; sửa các lỗi chính tả một cách qua loa, chưa chỉ rõ cách khắc phục các lỗi đó cho học sinh

- Chưa chú ý nhiều đến việc rèn chính tả cho học sinh trong các môn học khác

b Đối với học sinh:

Để nắm rõ thực trạng viết chính tả của học sinh, tôi đã tổ chức kiểm tra vở Chính tả của học sinh các lớp 4 trong toàn trường Sau khi kiểm tra tôi nhận thấy:

- Chữ viết của các em chưa đẹp, sai nhiều lỗi chính tả: không viết hoa danh từ riêng, viết sai phụ âm đầu, vần, âm cuối Cụ thể các lỗi chính tả phổ biến như sau:

Trang 5

a Lỗi về âm đầu:

Học sinh thường lẫn lộn các chữ cái ghi âm đầu sau đây:

- Lẫn lộn ch/tr:

Ví dụ: kể truyện, câu truyện, trân dung, ý trí,…

chuyện kể, quyển chuyện, buổi chưa, chiến chanh, chung thực,

- Lẫn lộn x/s:

Ví dụ: trong sanh, súc sích, sì dầu, tóc soăn,…

trong xạch, xuôn xẻ, xa mạc, hoa xen, cây xim,…

- Lẫn lộn r/d/gi :

Ví dụ: + r/d: cá dô, da chơi, da vào, vóc giáng, tham da,……

+ r/gi: ra vị, ra hạn, tăng ra, tham ra

+ d/gi: dày giép, da đình, để giành, dành giật, …

- Lẫn lộn gh/g; ng /ngh:

Ví dụ: gập gềnh, gi nhớ, gê sợ,…

ngỉ ngơi , nge ngóng…

- Lẫn lộn c/k/q:

Ví dụ: c/q: cái quốc, cuốc ca,…

c/k: cêu gọi, con ciến, céo co,…

- Lẫn lộn giữa b và v:

Ví dụ: với - viết thành: bới; bạn- viết thành: vạn

( Đối với học sinh dân tộc Thái thường mắc phải lỗi này)

b) Lỗi về vần:

- Lẫn lộn giữa ua và ươ, uyên và iên, uyu và iu,ang và oang.

Ví dụ: thuở -> thủa,…

kể chuyện -> kể chiện, …

khúc khuỷu -> khúc khỉu,…

+ Lẫn lộn giữa au và âu:

Ví dụ: giống nhau -> giống nhâu

(Lỗi này thường xảy ra đối với học sinh dân tộc Mường)

c) Lỗi về dấu thanh:

+ Lẫn lộn giữa thanh hỏi và thanh ngã

Ví dụ: sửa xe -> sữa xe, giữ gìn -> giử gìn, dỗ dành -> dổ dành

d) Lỗi về âm cuối i/y:

Ví dụ: tay chân -> tai chân, may vá -> mai vá, ngày đêm -> ngài đêm Ngoài việc kiểm tra vở học sinh các lớp 4, tôi còn tiến hành khảo sát chất lượng viết chính tả của học sinh lớp mình phụ trách với đề bài: Nghe - viết bài:

Mười năm cõng bạn đi học.

Sau khi chấm điểm, tổng hợp tôi thu được kết quả như sau:

Tiêu chí đánh giá Sĩ số Viết đúng chính tả Viết sai chính tả

Trang 6

* Nguyên nhân dẫn đến thực trạng:

+ Về giáo viên:

- Một số ít giáo viên còn hạn chế về trình độ chuyên môn, nắm kiến thức

về chính tả chưa thật sâu, chưa coi trọng nhiều đến việc rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh

- Chưa chịu khó tìm hiểu, nghiên cứu, tìm ra các biện pháp sửa lỗi chính

tả cho học sinh một cách có hiệu quả

- Chưa chú ý nhiều đến đặc điểm phương ngữ vùng miền (miền Bắc), tiếng địa phương ( tiếng dân tộc)

- Vẫn còn một số ít giáo viên viết chưa đẹp, phát âm chưa thật chuẩn ( tiếng địa phương), chữ viết không đúng mẫu nên không nêu gương được cho học sinh

+ Về học sinh:

- Do chưa nắm chắc các quy tắc chính tả ở một số trường hợp cơ bản ( k/c/q, ch/tr và r/d/gi, s/x ) nên các em viết tùy tiện, nghĩ sao viết vậy

- Một số học sinh đọc chậm, phát âm chưa chuẩn Vì thế các em không nhớ chữ ghi âm, tiếng và từ dẫn đến không nhớ cách viết từ đó như thế nào

- Do chưa hiểu hết nghĩa của từ Vốn từ ngữ tích lũy còn rất hạn chế nên hay viết lẫn lộn các âm đầu, âm cuối, vần và thanh

- Do phát âm phương ngữ (miền bắc), phát âm tiếng địa phương (tiếng dân tộc)

2.3 Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

Xuất phát từ thực trạng trên, tôi đã phân tích, tìm tòi và mạnh dạn đưa ra một số biện pháp nhằm khắc phục lỗi chính tả cho học sinh như sau:

2.3.1 Biện pháp 1: Nâng cao kiến thức chuyên môn của giáo viên

- Tìm đọc các tài liệu liên quan đến việc dạy chính tả như: “ Dạy học

Chính tả”, “Từ điển chính tả”, “Sổ tay chính tả”

- Thường xuyên rèn luyện chữ viết của bản thân, mẫu mực về chữ viết ở bảng lớp, ở lời phê để làm gương cho học sinh học tập và noi theo Chú ý cách phát âm chuẩn

- Hướng dẫn học sinh viết các từ khó, dễ lẫn cần phải hướng dẫn cụ thể, chi tiết để học sinh thấy rõ cách viết tiếng, từ khó đó

- Chấm và sửa lỗi chính tả cho học sinh thường xuyên và chỉ rõ cách khắc phục các lỗi đó cho học sinh

- Thống kê cụ thể những lỗi học sinh thường mắc phải, trên cơ sở đó có

kế hoạch phụ đạo thích hợp với từng đối tượng

- Xác định chính xác các lỗi chính tả học sinh thường mắc phải, để từ đó lựa chọn bài tập chính tả sao cho phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình

(đối với dạng bài tập lựa chọn)

- Nghiên cứu, tìm tòi các biện pháp, hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp, gây được hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em nhớ lâu, nhớ kỹ các quy tắc chính tả và vận dụng để viết đúng Thường xuyên củng cố và khắc sâu cho học sinh các quy tắc, mẹo luật chính tả qua các bài viết hoặc bài tập

Trang 7

- Chú trọng rèn chính tả cho học sinh trong tất cả các giờ học Động viên, tuyên dương kịp thời những học sinh có tiến bộ về chữ viết, có ý thức giữ vở sạch, viết chữ đẹp để khích lệ tinh thần học tập của các em

2.3.2 B iện pháp 2 : Củng cố cho học sinh những quy tắc chính tả cơ bản:

Trong quá trình dạy học, việc củng cố kiến thức cho học sinh là một công việc rất quan trọng và không thể thiếu của mỗi giáo viên Nhờ củng cố kiến thức

mà học sinh có thể khắc sâu, hệ thống, khái quát những kiến thức đã học Đối với phân môn Chính tả, việc củng cố lại các quy tắc chính tả không những giúp các em nhớ lại kiến thức chính tả mà còn giúp các em vận dụng kiến thức đó để viết chính tả, làm bài tập,… tránh được các lỗi chính tả trong quá trình viết Tùy vào kiến thức từng bài cũng như tùy vào việc mắc lỗi chính tả của học sinh mà trong quá trình dạy học giáo viên củng cố lại các quy tắc chính tả

cơ bản cho học sinh sao cho hợp lý

Ví dụ 1: Khi dạy bài chính tả Mười năm cõng bạn đi học (tuần 2), cũng

như những tiết Chính tả khác, ở bước đọc mẫu đoạn chính tả, tôi chú ý đọc to, rõ ràng, phát âm theo đúng chuẩn kết hợp yêu cầu các em theo dõi từng câu chữ trong sách Sau khi đọc mẫu bài chính tả, tôi cho học sinh đọc thầm đoạn văn, chú ý đọc chậm, đọc kĩ để ghi nhớ cách viết và tìm ra các hiện tượng chính tả khó viết Sau đó tôi cho các em viết những hiện tượng chính tả khó viết vào bảng con Sau mỗi lần viết tôi quan sát, nếu học sinh viết đúng tôi không nhắc lại cách viết, nếu học sinh viết sai, tôi hướng dẫn cụ thể cho các em về cách viết trong từng trường hợp Ví dụ như:

* Từ “ gập ghềnh”:

+ Trước tiên tôi phân tích cấu tạo của chữ: gập = g + âp + thanh nặng; ghềnh = gh + ênh + thanh huyền

+ Sau đó tôi đặt câu hỏi cho học sinh suy nghĩ nhớ lại cách viết g/gh: Tại sao lại viết như vậy? ( Học sinh suy nghĩ trả lời )

+ Cuối cùng tôi củng cố lại quy tắc viết g/gh

- gh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê: ghi nhớ, ghé thăm, ghê gớm,

- g chỉ kết hợp với các nguyên âm a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư, uô, ươ: gai góc, gừng, gươm, guồng nước,

Ngoài ra tôi củng cố thêm cho học sinh về cách viết ngh, ng:

- ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê, ia: nghiên cứu, suy nghĩ,

- ng chỉ kết hợp với các nguyên âm a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư, uô, ươ

* Từ “ khúc khuỷu”:

- Trước tiên tôi cũng phân tích: khuỷu = kh + uyu + thanh hỏi

- Sau đó tôi lưu ý học sinh: Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân.

Ngoài ra tôi lưu ý thêm vần oeo: vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân Vần uya: chỉ xuất hiện trong đêm khuya, giấy pơ- luya, péc-mơ -tuya.

Ví dụ 2: Khi dạy bài chính tả Sầu riêng ( tuần 22), tôi thấy trong bài có

Trang 8

một số từ mà một số học sinh lớp tôi thường hay viết sai như: nhụy viết thành nhụi, kiến viết là ciến Điều này chứng tỏ các em chưa nắm vững các quy tắc

chính tả cơ bản vì vậy khi hướng dẫn học sinh viết từ khó, tôi giúp học sinh củng

cố lại một số quy tắc chính tả c/k/q và quy tắc viết i/y như sau:

+ Quy tắc viết k/c/q

- q chỉ đứng trước âm đệm u: quê quán, quyên góp, cam quýt,…

- k chỉ kết hợp được với các nguyên âm i, e, ê, iê, ia: kim chỉ, thước kẻ,

kể chuyện, kiên quyết, bên kia,….

+ Qui tắc viết âm i, y

- Viết là y khi:

+ Đứng sau âm đệm u: huy, tuy, thúy, nhụy…

+ Đứng sau nguyên âm â: dây

+ Đứng trước ê khi chữ đó không có âm đầu: yêu, yết, yếm, …

+ Đứng một mình đối với từ thuần Việt: y tá, y tế, lương y, y hệt, y phục,.

- Viết là i khi :

+ Đứng trước âm cuối là phụ âm mà phần vần không có âm đệm: kim, tím, tin, thích, xinh,…

+ Đứng trước a khi chữ đó không có âm đệm: lía, kia, chia,…

+ Đứng một mình đối với từ gốc Hán: âm ỉ, ì ạch, lợn ỉ, í ới,…

- Viết i hay y đều đúng trong trường hợp có âm tiết mở: Châu Mĩ/Châu

Mỹ, Địa lí/Địa lý, Bác sĩ/Bác sỹ (giáo viên nên khuyến khích học sinh viết là i )

- Cần phân biệt nghĩa để viết i hoặc y: bàn tay - lỗ tai; ngày mai - may

mắn; khoái chí - cái khoáy âm dương.

Ví dụ 3: Đối với bài chính tả Họa sĩ Tô Ngọc Vân ( tuần 24) , đây là bài

có rất nhiều tên riêng cần viết hoa Khi dạy bài này, ở phần hướng dẫn viết từ khó, tôi phân loại các từ khó theo nhóm và gợi ý hướng dẫn các em cách viết

Cụ thể:

- Tên người, tên địa lí Việt Nam: Tô Ngọc Vân, Điện Biên Phủ: Viết

hoa các chữ cái đầu của mỗi tiếng tạo thành tên riêng

- Tên các cơ quan Việt Nam: Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương:

Viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành tên riêng

- Tên gọi các sự kiện lịch sử: Cách mạng tháng Tám: Viết hoa chữ cái

đầu của tiếng tạo thành sự kiện và tên sự kiện

- Tên các tác phẩm: Ánh mặt trời, Thiếu nữ bên hoa huệ, Thiếu nữ bên

hoa sen : Viết hoa chữ cái đầu của tiếng thứ nhất tạo thành tên tác phẩm.

2.3.3 B iện pháp 3 : Cung cấp cho học sinh các mẹo luật chính tả

Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh Vì vậy trong quá trình dạy học, ngoài việc giúp học sinh củng cố lại các quy tắc chính tả cơ bản thì tôi còn cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật chính tả khác mà trong chương trình không có

Trong quá trình dạy học, tùy vào nội dung kiến thức của từng bài, tôi dành thời gian để cung cấp, lưu ý cho học sinh các mẹo luật chính tả đơn giản có

Trang 9

liên quan đến nội dung bài học như: Mẹo phân biệt ch/tr; s/x; d/r/gi hoặc phân

biệt

các dấu thanh

Ví dụ 1: Khi dạy bài chính tả Người viết truyện thật thà ( tuần 6), ở phần luyện tập, đối với bài tập 3 ( Tìm các từ láy có tiếng chứa âm s, có tiếng chứa

âm x, có tiếng chứa thanh hỏi, có tiếng chứa thanh ngã), trước tiên tôi cho học

sinh làm việc theo nhóm đôi, thảo luận tìm và viết ra các từ theo yêu cầu Sau đó tôi cho các nhóm trình bày Cả lớp nhận xét, chốt lại các từ viết đúng

Để học sinh nắm vững hơn về cách viết s/x, thanh hỏi, thanh ngã, tôi

cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo chính tả như sau:

* Mẹo phân biệt s/ x

+ Mẹo láy âm:

- s và x không cùng xuất hiện trong một từ láy âm Do vậy chỉ có trường hợp láy x – x hoặc s – s ( trừ trường hợp ngoài lệ: xuất sắc)

Ví dụ: + xuề xòa, xoay xở, xoành xoạch, xoèn xoẹt, xí xóa, xôn xao, xàm

xỡ, xấp xỉ, xao xuyến, xum xuê, xấu xí, …

+ sắc sảo, sục sạo, sung sướng, sành sỏi, sát sao, sỗ sàng, sáng sủa, sáng suốt, sạch sẽ,…

- Chỉ có tiếng có âm đầu x mới láy với tiếng có âm đầu khác, còn tiếng có

âm đầu s không có khả năng này.

Ví dụ: lao xao, liêu xiêu, loăn xoăn, lòa xòa, liểng xiểng, lộn xộn, xoi mói, xích mích,…

* Mẹo viết đúng dấu hỏi, dấu ngã đối với từ láy.

+ Đối với từ láy âm:

- Đa số âm tiết có thanh sắc đi với âm tiết có thanh hỏi

Ví dụ: Bé bỏng, bóng bẩy, bướng bỉnh, cáu kỉnh, cứng cỏi, gắt gỏng, kháu khỉnh, hắt hủi, hóm hỉnh, hiểm hóc, hớn hở, lấp lửng, láu lỉnh, lém lỉnh, mát mẻ, mới mẻ, nức nở, nhảm nhí, phấp phỏng, rải rác, tấp tểnh, tỉnh táo, thẳng thắn,…

- Đa số âm tiết có thanh ngang đi với âm tiết có thanh hỏi

Ví dụ: Bảnh bao, bỏ bê, da dẻ, dai dẳng, đon đả, gây gổ, hả hê, hở hang,

lẻ loi, leo lẻo, mỏng manh, mở mang, nể nang, nham nhở, nhỏ nhoi, thong thả, thơ thẩn, rủ rê, …

( Một số trường hợp ngoại lệ: Âm tiết có thanh ngang đi với âm tiết có thanh ngã: khe khẽ, lam lũ, ngoan ngoãn, se sẽ, trơ trẽn, ve vãn.)

- Đa số âm tiết có thanh huyền đi với âm tiết có thanh ngã

Ví dụ: Bão bùng, bẽ bàng, buồn bã, còm cõi, dễ dàng, đẫy đà, hãi hùng, hỗn hào, hững hờ, kĩ càng, lỡ làng, lững lờ, mỡ màng, ngỡ ngàng, phè phỡn, phũ phàng, rõ ràng, rầu rĩ, rũ rượi, sàm sỡ, sỗ sàng, sững sờ, sừng sững, tầm tã, tròn trĩnh, vững vàng, vỗ về, vờ vĩnh, …

( Một số trường hợp ngoại lệ: Âm tiết có thanh huyền đi với âm tiết có

thanh hỏi: Bền bỉ, chàng hảng, chồm hổm, chèo bẻo, mình mẩy, niềm nở, ….)

- Đa số âm tiết có thanh nặng đi với âm tiết có thanh ngã

Trang 10

Ví dụ: Bụ bẫm, chễm chệ, chững chạc, chặt chẽ, chập chững, doạ dẫm, dựa dẫm, đẹp đẽ, đĩnh đạc, gạ gẫm, gãy gọn, gỡ gạc, gần gũi, giãy giụa, gọn ghẽ, khập khiễng, lạnh lẽo, lặng lẽ, lạc lõng, nhễ nhại, nhẵn nhụi, ngặt nghẽo, ngỗ ngược, õng ẹo, rộn rã, rũ rượi, sạch sẽ, vạm vỡ, vặt vãnh, vội vã,

( Ngoại lệ: Âm tiết có thanh nặng đi với thanh hỏi: gọn lỏn, nhỏ nhặt, vẻn vẹn, … ).

+ Đối với từ láy vần:

- Thanh hỏi và thanh ngã không cùng xuất hiện trong từ láy đôi Vì vậy chỉ có trường hợp cả hai tiếng đều là thanh hỏi hoặc đều là thanh ngã

Ví dụ: lả tả, lải nhải, lảng vảng, lẩn thẩn, lẩy bẩy, lổm ngổm, lởm chởm, lởn vởn, lủng củng, tẩn mẩn, tủn mủn, xởi lởi, đủng đỉnh, hể hả, …

lỗ chỗ, lã chã, lẽo đẽo, lững thững, nhõng nhẽo, …

Ví dụ 2: Khi dạy bài chính tả Cánh diều tuổi thơ ( tuần 15), ở phần

luyện tập, đối với bài tập 2, tôi lựa chọn câu a ( tìm tên các đồ chơi hoặc trò

chơi chứa tiếng bắt đầu bằng tr hoặc bắt đầu bằng ch ) cho học sinh làm

Trước tiên tôi cho học sinh tìm hiểu yêu cầu đề Sau đó tôi hướng dẫn học

sinh làm bài dưới hình thức chơi trò chơi “ Thi tiếp sức” Sau khi nhận xét kết

quả bài làm của học sinh và tổng kết trò chơi tôi cung cấp thêm cho học sinh các

mẹo viết chính tả ch/tr như sau:

* Mẹo từ vựng:

- Đa số các danh từ chỉ quan hệ thân thuộc của những người trong gia đình, các danh từ chỉ tên các đồ vật trong nhà, các danh từ chỉ tên con vật; các từ

có ý nghĩa phủ định đều viết là ch Ví dụ:

+ Danh từ chỉ quan hệ thân thuộc của những người trong gia đình: cháu, chắt, chút, chít, cha, chú, chồng, chị, …

+ Danh từ chỉ tên các đồ vật trong nhà: cái chổi, cái chén, cái chăn, cái chiếu, cái chõng, cái chai, cái chum, cái chạn, cái chuông, cái chiêng, cái

chĩnh,… ( ngoại trừ cái tráp là đồ vật ít dùng).

+ Danh từ chỉ tên các con vật: chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chèo bẻo, chìa vôi, chồn, chó, chuột,….

+ Các từ có ý nghĩa phủ định đều viết là ch: chẳng, chưa, chớ, chả,…

* Mẹo kết hợp:

- Chữ tr không bao đứng trước vần có oa, oă, oe, uê Do đó nếu gặp các dạng này ta chọn ch để viết chứ không chọn tr.

Ví dụ: sáng choang, áo choàng, choáng váng, chập choạng, loắt

choắt, chích choè, chí chóe, chuệch choạc, chuếnh choáng, …

Ví dụ 3: Khi dạy bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính (tuần 27), ở bài tập 2 ( tìm 3 trường hợp viết với s, không viết với x ; 3 trường hợp viết với x không viết với s), tôi tổ chức cho các em làm việc theo nhóm 6 trong thời gian 5

phút Cách làm như sau:

- Trước tiên tôi cho học sinh tìm hiểu đề, sau đó tôi chia nhóm và hướng dẫn cách làm việc theo nhóm

Ngày đăng: 17/10/2019, 11:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w