Điểm mới cơ bản nhất trong kết quả nghiên cứu là đưa ra kiến thức cần có để hướng dẫn học sinh viết, các biện pháp tiến hành nâng cao chất lượng viếtchữ đẹp, giữ gìn vở sạch cho học sinh
Trang 1S
Ở GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT HUYỆN QUAN SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH VIẾT CHỮ ĐẸP, GIỮ VỞ SẠCH Ở LỚP 1C TRƯỜNG TH&THCS
THỊ TRẤN QUAN SƠN – QUAN SƠN – THANH HÓA
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thu
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường TH&THCS Thị trấn
SKKN môn: Tiếng Việt
THANH HÓA NĂM 2017
Trang 3A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Tiếng Việt và Toán là hai môn học công cụ vô cùng cần thiết cho mọi lứatuổi học sinh, là chìa khóa để học sinh có thể mở cánh cửa bước vào lâu đài trithức Ở cấp Tiểu học, môn Tiếng Việt được học nhiều giờ nhất với yêu cầu làhọc sinh nắm được một công cụ cơ bản để giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày,
để tư duy trong học tập và phát triển toàn diện Vì thế, dạy và học tốt môn TiếngViệt là một yêu cầu quan trọng của cấp Tiểu học
Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì bậc Tiểu học là bậc nền móng Ởđây học sinh được trang bị những kiến thức khoa học ban đầu về tự nhiên và xãhội
Trong các môn học ở Tiểu học hiện nay, mỗi môn học đều có một vị tríquan trọng riêng biệt Song các môn học lại có quan hệ mật thiết với nhau, cùng
hỗ trợ nhau để thực hiện mục tiêu giáo dục
Cùng với môn học khác môn Tiếng Việt là môn học quan trọng với trẻ.Thông qua môn học Tiếng Việt học sinh được rèn luyện 4 kỹ năng cơ bản đó là:nghe, nói, đọc, viết Bốn kỹ năng trên được chương trình “Đổi mới giáo dục”chú trọng phát triển, đồng thời để phát triển học sinh thành con người phát triểntoàn diện
Để phát triển một trong 4 kỹ năng trên thì phân môn Tập viết là một phânmôn quan trọng Thông qua phân môn tập viết học sinh được làm quen, đượctrang bị những kiến thức cơ bản về chữ viết và kĩ thuật viết chữ Tập viết trang
bị cho học sinh bộ chữ cái Tiếng Việt và những yêu cầu kĩ thuật để sử dụng bộchữ cái đó trong học tập và giao tiếp Với ý nghĩa này Tập viết không những cóquan hệ mật thiết tới chất lượng các môn học khác mà còn góp phần rèn luyệnmột trong những khả năng hàng đầu của việc học Tiếng Việt trong nhà trường,khả năng viết chữ Nếu viết chữ đúng mẫu, rõ ràng, tốc độ nhanh thì học sinh cókhả năng ghi bài tốt Nhờ vậy kết quả học tập sẽ cao hơn Nếu viết xấu, tốc độchậm thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả học tập
Chữ viết và dạy viết được cả xã hội quan tâm Nhiều thế hệ thầy cô giáo
đã trăn trở, góp công, góp sức để cải tiến kiểu chữ, nội dung cũng như phươngpháp dạy học viết chữ Tuy vậy, vẫn còn nhiều học sinh viết chưa đẹp viết chậm.Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới các môn học khác Xuất phát từ vấn đề trên
tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh viết chữ đẹp - giữ vở sạch lớp 1C trường TH&THCS Thị trấn Quan Sơn - Quan Sơn - Thanh Hóa”.
2 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài “Giúp học sinh lớp 1 viết chữ đẹp- giữ vở sạch” là đểtìm ra những giải pháp hữu hiệu giúp học sinh viết chữ đẹp, giữ vở sạch
3 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 1C trường TH&THCS Thị trấn Quan Sơn Quan Sơn Thanh Hóa
-4 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 4+ Phương pháp đàm thoại (thuyết trình).
+Phương pháp luyện tập thực hành
+ Phương pháp kiểm tra, đánh giá HS
+ Phương pháp thống kê
5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
Điểm mới cơ bản nhất trong kết quả nghiên cứu là đưa ra kiến thức cần có
để hướng dẫn học sinh viết, các biện pháp tiến hành nâng cao chất lượng viếtchữ đẹp, giữ gìn vở sạch cho học sinh lớp 1 Để từ đó giúp các em viết bàinhanh hơn, đẹp hơn, giữ vở sạch hơn
Trang 5nói: “Chữ viết là biểu hiện của nết người” Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn
thận là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng đối với mìnhcũng như đối với thầy và bạn đọc bài vở của mình Đối với hiện nay vấn đề viếtđúng, viết đẹp chữ Việt đang được mọi người quan tâm, nhất là đối với học sinhlớp 1, lớp học nền móng trong hệ thống giáo dục phổ thông Vì thế vấn đề dạychữ viết cho các em cần được xây dựng một cách chính xác, công phu và tỉ mỉ
Nó đòi hỏi người giáo viên phải nhiệt tình, cẩn thận và chu đáo trong mọi thaotác
Phân môn tập viết trong nhà trường có nhiệm vụ giúp học sinh nắm vữngcác quy tắc và hình thành kỹ năng viết, giúp hoc sinh hình thành năng lực vàthói quen viết đúng, viết đẹp Ngoài ra còn rèn cho học sinh một số phẩm chấtnhư tính cẩn thận, óc thẩm mỹ, bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý tiếng việt
Phân môn tập viết có nhiệm vụ củng cố và hoàn thiện tri thức cơ bản về
hệ thống chữ viết và hệ thống ngữ âm tiếng việt Cung cấp cơ bản về hệ thốngquy tắc chuẩn, các quy tắc nhân biết và thể hiện chức năng của chữ viết…
Đặc biệt là viết đúng mẫu theo Quyết định số: 31/2002/QĐ-BGD ngày14/6/2002 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Ngay từ bậc Tiểu học, việc dạy học sinhviết, viết đẹp là một vấn đề hết sức quan trọng góp phần hình thành cho các emnhững biểu tượng ban đầu về chữ Việt Tập viết ở Tiểu học truyền thụ cho họcsinh những kiến thức cơ bản về viết và kỹ thuật viết chữ Trong các tiết Tập viết,học sinh nắm bắt được những tri thức cơ bản về cấu tạo bộ chữ cái Tiếng Việt,ghi âm Tiếng Việt, sự thể hiện bộ chữ cái này trên bảng, trên vở Đồng thời đượchướng dẫn yêu cầu kỹ thuật, viết nét chữ, chữ cái từ và câu Đối với lớp 1, việcdạy tập viết được phối hợp nhịp nhàng với dạy học vần Học sinh luyện tập viếtchữ dưới hai hình thức chủ yếu, luyện tập viết chữ trong các tiết học âm, vần vàtập viết trong các tiết Tập viết
Trong những năm học gần đây, phong trào “Vở sạch - Chữ đẹp” đangđược các nhà trường quan tâm, chú trọng Do đó tôi quyết định đi sâu tìm hiểuviệc dạy và học tập viết ở lớp một để thấy được hạn chế trong kiến thức của các
em Từ đó chọn cho mình một phương pháp dạy cho phù hợp với từng đối tượnghọc sinh Việc suy nghĩ tìm ra, vận dụng những phương pháp dạy tập viết ở lớp
1 để rèn luyện chữ viết cho các em viết đúng, viết đẹp là góp phần vào việc gìngiữ sự trong sáng của Tiếng Việt làm cho Tiếng Việt ngày càng trong sáng vàđậm đà bản sắc dân tộc và đó cũng là mục tiêu hướng tới của việc dạy học mônTiếng Việt ở trường Tiểu học
Trang 6Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã chọn nội dung nghiên cứu: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 1C viết chữ đẹp giữ vở sạch”.
2 Thực trạng:
* Thuận lợi:
Trường Tiểu học và THCS Thị trấn thuộc địa bàn Thị trấn Quan Sơn Huyện Quan Sơn -Tỉnh Thanh Hóa là trung tâm văn hóa, chính trị của huyệnnên so với các trường trong huyện thì đây là một trường có nhiều thuận lợi hơn
-về nhiều mặt: chính quyền địa phương đã quan tâm và chú trọng cho sự pháttriển giáo dục; đường xá đi lại có phần thuận lợi hơn
Năm học 2016-2017, tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 1C vớitổng số là 22 em học sinh Trong đó chủ yếu là con em gia đình cán bộ côngchức, hộ kinh doanh và một số gia đình làm nông nghiệp nên việc học tập củacác em được gia đình quan tâm, tạo mọi điều kiện trong việc học tập, mua sắm
đồ dùng, sách vở đầy đủ, các em được gia đình đưa đón đi học hàng ngày
* Khó khăn:
Vốn hiểu biết ban đầu của các em còn hạn chế, trình độ học sinh khôngđồng đều nên gặp nhiều khó khăn trong việc kèm cặp các em học tập, đặc biệt làtrong việc dạy viết
- Vở tập viết của học sinh còn mỏng nên rất dễ bị quăn mép, bị nhoè
- Mẫu chữ như các nét cơ bản, tiếng, từ, cụm từ không có mẫu sẵn trong
- Đa số các em chưa có ý thức giữ gìn sách vở
- Một số em viết xấu, nguệch ngoạc không đúng nét
- Các em cầm bút nhưng chưa đúng, cầm sai ngòi bút, cầm bút chặt quá,ngồi chưa đúng tư thế, chưa biết cách để vở đúng
- Đa số phụ huynh chưa nắm được cấu tạo chữ viết theo đúng chươngtrình mới
- Còn một số phụ huynh chưa quan tâm đến việc học của các em
- Góc vở, mép vở quăn do các em thường lấy tay uốn góc vở để nghịch
- Khi viết sai các em thường tẩy xóa nhiều, đến khi dùng bút mực các emlại bôi ra
* Khảo sát đầu năm:
Bước đầu năm học, khi dạy xong một số chữ tôi đã tiến hành khảo sátmức độ viết và trình bày bài của các em, thu được kết quả cụ thể như sau:
Tổng số học sinh Kết quả đầu năm Số lượng Tỷ lệ %
22
Trang 73 Các giải pháp:
* Điều kiện để hoc sinh viết đúng:
a Tư thế ngồi viết:
- Hướng dẫn học sinh rất kỹ về tư thế ngồi viết một cách thoải mái nhất,không gò bó, hai tay phải đặt đúng điểm tựa
- Không được ngồi quá cao, ngồi quá thấp
- Tuyệt đối không quỳ, nằm, ngồi viết tùy tiện
- Ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, vai thăng bằng, đầu hơi cúi và nghiêngsang trái, mắt cách vở khoảng 20 – 30 cm
- Tay trái giữ vở, tay phải cầm bút
- Hai chân để song song cho thoải mái
- Không tỳ ngực vào bàn
b Cách cầm bút
Trang 8Học sinh lớp 1C đang trong giờ tập viết
- Khi viết, khi tô, các ngón tay cầm bút và khuỷu tay di chuyển mềm mại,thoải mái từ trái sang phải
- Không cầm bút viết bằng tay trái
- Các chữ viết (tô) liền mạch, không nhấc bút từng nét, từng chữ cái
- Nhìn mẫu chữ để biết điểm bắt đầu đặt bút, chiều rê bút, điểm dừng bút
và thứ tự viết các nét đều
- Không để ngửa bàn tay quá, không úp quá nghiêng bàn tay về bên trái
- Cầm bút xuôi theo chiều ngồi
- Góc độ bút đăt so với măt giấy khoảng 45 độ
- Tuyệt đối không cầm bút dựng đứng 90 độ
* Luyện cách viết đúng và viết đẹp cho học sinh:
Để thực hiện được thao tác viết chữ, việc đầu tiên là giáo viên cần hướng
dẫn để các em nắm được tên gọi 13 nét cơ bản Khi nắm được tên gọi, độ cao,
độ rộng, điểm đặt bút, điểm dừng bút, quy trình viết, mỗi nét thật sự chính xác
sẽ là cơ sở để giúp học sinh phối hợp các nét tạo thành con chữ một cách thuậntiện, đẹp và chính xác hơn
- Khi hướng dẫn học sinh viết các nét cơ bản, giáo viên cần đưa ra cácnhóm nét để hướng dẫn giúp các em dễ nhớ và có thể tự so sánh, đối chiếu rồinêu tên gọi cũng như quy trình viết các nét tương tự
Có thể phân 13 nét cơ bản thành các nhóm sau:
Nhóm 1: Nhóm các nét thẳng gồm: nét ngang, nét sổ, nét xiên phải, nét
xiên trái
Nhóm 2: Nhóm các nét móc gồm: nét móc ngược, nét móc xuôi, nét móc
hai đầu
Trang 9Nhóm 3: Nhóm các nét cong gồm: nét cong - hở phải, nét cong - hở trái,
nét cong kín
Nhóm 4: Nhóm các nét khuyết gồm: nét khuyết trên, nét khuyết dưới Nhóm 5: Nét thắt.
Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh viết các nét trong nhóm 2 (nhóm các nét
móc) giáo viên hướng dẫn kĩ về tên gọi, điểm đặt bút, điểm dừng bút, độ cao, độrộng, quy trình viết các nét móc ngược, sau đó cho học sinh tự quan sát các nétmóc xuôi để thực hiện các thao tác như các nét móc ngược Hoặc nét móc haiđầu học sinh sẽ biết cách phối hợp hai nét trên Trường hợp học sinh còn vướngmắc chỗ nào giáo viên gợi ý để các em chủ động, tích cực học tập Qua đó giúpcho các em so sánh, khắc sâu, nhớ lâu những nét đã học
Đồng thời với việc dạy nét cơ bản giáo viên cần hướng dẫn các em đường
Bảng chữ cái Tiếng Việt được xếp theo các nhóm đồng dạng như sau:
- Nhóm 1: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét cong là: c, o, ô, ơ, x.
- Nhóm 2: Nhóm các chữ cái nét cơ bản là nét cong phối hợp với nét móc
hoặc nét thẳng là “a, ă, â, d, đ, q”
- Nhóm 3: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét móc (hoặc nét xiên phối
hợp với nét móc) là: “n, m, u, ư, i, t, p”
- Nhóm 4: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét khuyết (hoặc nét khuyết
phối hợp với nét thắt hoặc nét cong phối hợp với nét khuyết hoặc nét khuyếtphối hợp với nét móc) là: “l, k, b, g, h, y, e, ê”
- Nhóm 5: Nhóm các chữ cái có nét xiên, nét thắt phối hợp với nét móc
hoặc nét cong là: “r, s, v”
Kỹ năng viết chữ được luyện ở hai mức độ
Tập viết chữ cái yêu cầu đúng cấu tạo, hình dáng, quy trình viết
Tập viết từ ứng dụng giáo viên phải hướng dẫn học sinh viết liền mạchcác chữ cái Viết dấu phụ, đánh dấu thanh trên hoặc dưới chữ cái
Khi viết chữ cái giáo viên phải phân tích và gợi ý đặt câu hỏi thông quachữ mẫu trên bảng lớp để học sinh nhận biết và phân tích hình dáng cấu tạo củachữ cần dạy Giáo viên gợi ý cho các em chữ gồm mấy nét, là những nét gì? Cácnét đó như thế nào? Sự liên kết phối hợp của các nét ra sao? Điểm đặt bút, điểmdừng bút của chữ ở vị trí nào trên dòng kẻ Muốn cho học sinh viết đúng cỡ chữ,liền mạch các nét của chữ cái, giáo viên phải kiểm tra, hướng dẫn tỉ mỉ để họcsinh nhớ và viết
Trang 10Giáo viên khắc sâu biểu tượng về chữ cho các em bằng nhiều hình thứckết hợp mắt nhìn, tai nghe, tay luyện, điều này giúp các em chủ động phân tíchhình dáng, kích thước và cấu tạo theo mẫu chữ, tìm sự giống nhau và khác nhaucủa các chữ cái đang học và các chữ cái đã học trước đó trong cùng một nhómbằng thao tác so sánh tương đồng Chữ mẫu là hình thức trực quan ở tất cả cácbài tập viết Đây là điều kiện đầu tiên để các em viết đẹp, viết đúng, khi cho họcsinh quan sát chữ mẫu là phải đúng chữ mẫu quy định, rõ ràng và đẹp.
Qua việc quan sát chữ mẫu, giúp các em phân tích hình dáng kích thướccủa các nét chữ cơ bản cấu tạo chữ cái cần viết trong bài học
Giáo viên dẫn dắt học sinh tiếp xúc với các chữ cái sẽ học bằng một hệthống câu hỏi, gợi mở từ việc hỏi về các nét cấu tạo chữ cái, độ cao, kích thướcchữ cái đến việc so sánh nét giống nhau và nét khác biệt giữa các chữ cái đã họcvới chữ cái đang phân tích
Ví dụ: Khi dạy chữ ghi âm (a) giáo viên có thể dặt câu hỏi:
- Chữ (a) gồm mấy nét? Là những nét nào? Độ cao của chữ là mấy li, độ
rộng của chữ là bao nhiêu? nét nào viết trước, nét nào viết sau?
- Chữ (a) giống chữ (o) đã học ở những nét nào?
Đối với các câu hỏi khó, giáo viên cần định hướng trả lời cho các em để
các em hiểu và viết.
- Viết dấu phụ:
Dấu ở các chữ ă, â, ê, ô đặt ở vị trí trên đầu các chữ cái Điểm cao nhấtcủa dấu không quá 1/3 đơn vị, điểm thấp nhất không chạm vào đầu các chữ cái(cách đầu chữ cái một khe hở), chiều ngang của dấu bằng 1/3 đơn vị chữ
- Viết dấu thanh:
Các dấu: dấu sắc, dấu huyền, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng Hướng dẫn họcsinh là điểm đặt bút và dừng bút cùng nằm trên một li ngang, chiều rộng 1/3 ô.Quy trình viết dấu thanh được thực hiện sau khi viết dấu phụ Nghĩa là cả dấuthanh và cả dấu phụ đều được thực hiện ngoài vùng liên kết, nhưng dấu phụđược thực hiện trước dấu thanh
* Hướng dẫn học sinh kĩ thuật viết:
- Khi viết các chữ cái thì phải hướng dẫn cho học sinh nắm được cấu tạocủa chữ đó về độ cao, chiều rộng của chữ, gồm có mấy nét và cách viết; điểmđặt bút, nét nối, nét lượn, điểm kết thúc
Đối với những chữ một nét, hướng dẫn cho học sinh phân tích cấu tạo, độcao, chiều rộng của chữ sau đó hướng dẫn quy trình
Đối với những chữ gồm nhiều nét cần hướng dẫn cho học sinh phối hợpcác nét theo các trường hợp: Nối thuận lợi, nối không thuận lợi giữa các nét.Trường hợp nối thuận lợi giữa các điểm kết thúc của nét này thuận với điểm bắtđầu của nét tiếp theo cần hướng dẫn các em viết liền chứ không nhấc bút
Ví dụ: Chữ “h”
Trang 11Giáo viên hướng dẫn học sinh tập viết chữ “b”
Cấu tạo: độ cao 5 ô li nhỏ, chiều ngang rộng nhất là 3 ô li nhỏ; chữ gồmnét khuyết trên và một nét thắt
Cách viết: Điểm bắt đầu từ dòng kẻ ngang thứ hai tính từ dưới lên: viếtnét khuyết trên từ điểm dừng bút ở đường kẻ ngang thứ 2 tính từ dưới lên củanét khuyết trên kéo liền lên viết nét thắt, điểm dừng bút đường kẻ ngang 2
Ví dụ: Chữ “a”
Giáo viên đang hướng dẫn học sinh tập viết chữ “a”
Trường hợp nối không thuận lợi giữa điểm kết thúc của nét này với điểmbắt đầu của nét tiếp theo cần hướng dẫn các em lia bút đến điểm bắt đầu của néttiếp theo
Trang 12Cấu tạo: Độ cao 2 ô li, chiều ngang rộng nhất là 2 ô li rưỡi; gồm 2 nét:
nét cong kín và một nét móc ngược
Cách viết: Điểm bắt đầu từ dưới dòng kẻ ngang số ba viết nét khuyết trên
từ điểm dừng bút của nét khuyết trên kéo liền lên viết nét móc hai đầu, điểmdừng bút đường kẻ ngang số 2 tính từ dưới lên
Đối với chữ ghi tiếng, để đảm bảo tốc độ viết, người ta không thể viết rờirạc từng chữ mà phải di chuyển dụng cụ viết đưa nét liên tục theo kĩ thuật viếtliền mạch hoặc lia bút Viết xong chữ cái đứng trước, viết tiếp chữ cái tiếp theo(không nhấc bút khi viết) Đánh dấu ghi thanh cuối cùng Đối với dòng ứngdụng, giáo viên cũng phải hướng dẫn tương tự như vậy Vì vậy ngay từ khi họcsinh viết ghi vần, giáo viên cần hướng dẫn các em thao tác thành thói quen viếtliền nét (đối với trường hợp nối thuận lợi), lia bút hay kéo nét phụ (với trườnghợp nối không thuận)
- Trong các trường hợp viết nối thuận lợi Đây là trường hợp các chữ cáiđứng trước và đứng sau đều có nét liên kết (gọi là nét liên kết hai đầu) khi viếtgiáo viên phải chú ý hướng dẫn học sinh chỉ cần đưa tiếp nét bút từ điểm dừngbút của chữ cái đứng trước nối sang điểm đặt bút của chữ cái đứng sau một cáchthuận lợi theo hướng dịch chuyển của nét bút từ trái sang phải
Trong trường hợp viết nối không thuận lợi Đó là những trường hợp nốicác chữ mà ở vị trí liên kết không thể viết các nét nối từ nét cuối của chữ cáiđứng trước với điểm bắt đầu của chữ cái đứng sau
Ví dụ: viết chữ ghi vần uân (u sang â )
Giáo viên kiểm tra học sinh chữ viết trên bảng con của học sinh lớp 1C