Lí do chọn đề tài: Mục tiêu cơ bản của phân môn Tiếng Việt trong Trường Tiểu học đó là: phát triển kĩ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh trên cơ sở những tri thức căn bản, nhằm từng bư
Trang 11 Mở đầu.
1.1 Lí do chọn đề tài:
Mục tiêu cơ bản của phân môn Tiếng Việt trong Trường Tiểu học đó là: phát triển kĩ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh trên cơ sở những tri thức căn bản, nhằm từng bước giúp các em làm chủ được ngôn ngữ để học tập, giao tiếp một cách đúng đắn Góp phần bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng giàu đẹp của Tiếng Việt
Hiện nay dạy học tiếng Việt nói chung và dạy học phân môn Tập làm văn nói riêng luôn được sự quan tâm của các thầy cô giáo song cũng còn không ít những khó khăn vướng mắc ở tất cả các khối lớp từ lớp 2 đến lớp 5 Bởi phân môn Tập làm văn yêu cầu người học có sự tích hợp sáng tạo Vì một bài văn là
sự suy nghĩ, tư duy của một cá nhân không có sự lặp lại Do đó đòi hòi cả giáo viên và học sinh phải say mê nghiên cứu, tìm hiểu tiếp thu kiến thức cả bằng trí
óc lẫn tâm hồn thì mới dạy và học tốt được Mỗi bài Tập làm văn là sự tổng hợp kiến thức của các phân môn như Tập đọc, Luyện từ, câu, Chính tả, vốn hiểu biết, vốn sống của các em và còn phải có kĩ năng diễn đạt trọn ý thành câu Ở lớp 3, học sinh tiếp tục được trang bị một số hiểu biết về kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hàng ngày Tiếp tục rèn luyện kĩ năng kể chuyện và miêu tả, nghe ghi nhớ thông qua các bài tập nghe kể Học sinh được rèn luyện thông qua các kiểu bài tập đó là: Bài tập nghe kể, bài tập nói, bài tập viết Trong 3 kiểu bài tập thì bài tập viết học sinh còn vướng mắc, hạn chế rất nhiều Do vốn ngôn ngữ còn hạn chế, viết câu còn rời rạc, chưa đủ ý, chưa có hình ảnh, từ ngữ dùng chưa chính xác, diễn đạt ý còn lủng củng rườm rà, tính sáng tạo chưa cao Một bộ phận giáo viên chưa biết cách hướng dẫn các em biết tiếp cận với yêu cầu của bài học nên kết quả bài làm của học sinh còn gượng ép, khô khan, nghèo hình ảnh
Xuất phát từ lí do trên tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “ Kinh nghiệm dạy học sinh tháo gỡ một số bài khó về dạng bài: Nói, viết về một chủ đề trong phân môn Tập làm văn ở lớp 3” làm đề tài nghiên cứu trong quá trình dạy học
của mình Nếu đề tài áp dụng được tốt sẽ giúp tôi trong quá trình dạy học được tốt hơn đồng thời cũng góp phần vào việc nâng cao dạy học Tiếng Việt trong nhà trường
1.2 Mục đích nghiên cứu:
- Giúp học sinh phát hiện ra dạng bài Tích hợp nội dung các phân môn như : Luyện từ câu, tập đọc, chính tả, kĩ năng sống trong khi làm bài
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh lớp 3A2 - Trường Tiểu học Kiên Thọ 1- Ngọc lặc -Thanh Hóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
1.4.1 Nhóm nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các văn kiện, các công văn, văn bản hướng dẫn giảng dạy môn Tiếng Việt, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo
1.4.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Tìm hiểu, khảo sát, thu thập các dữ liệu thực tiễn có liên quan
- Phân tích, tổng hợp, đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu
Trang 22 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận:
2.1.1 Mục tiêu môn học Tiếng Việt ở Tiểu học bao gồm:
a) Về kĩ năng:
Hình thành và phát triển ở học sinh tiểu học các kĩ năng sử dụng tiếng Việt ( đọc nghe, nói, viết) đẻ học tập và giao tiếp trong các môi trường học tập của lứa tuổi
Thông qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản (phân tích tổng hợp, khái quát, hệ thống) và góp phần nâng cao phẩm chất tư duy, năng lực nhận thức
b) Về kiến thức:
Cung cấp cho học sinh kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và tri thức sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp
Cung cấp cho học sinh các hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài
c) Về thái độ:
Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt qua đó hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Ở lớp 3 Mục tiêu trên được cụ thể hóa thành các yêu cầu đối với học sinh về kiến thức kĩ năng là:
* Kĩ năng nghe:
+ Nghe và hiểu được nội dung chính trong lời nói của người đối thoại, những ý kiến thảo luận trong các buổi sinh hoạt lớp, tổ nhóm sinh hoạt đội,
+ Nghe và hiểu được nội dung chính của các tin tức, các lời quảng cáo, giới thiệu, các bài phổ biến kiến thức khoa học thường thức
+ Nghe hiểu và kể được các câu chuyện ngắn, biết nhận xét các nhân vật
và bước đầu biết rút ra ý nghĩa của các câu chuyện đó
* Kĩ năng nói:
+ Biết dùng lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp trong gia đình, trong các buổi họp tổ, họp lớp, họp đội ở nhà trước, những giao tiếp hàng ngày ngoài
xã hội
+ Biết dùng lời nói phù hợp để giới thiệu với người khác về các thành viên trong tổ và các hoạt động của tổ của lớp
+ Biết kể lại một câu chuyện ngắn đã nghe kể hoặc đọc
* Kĩ năng đọc:
+ Đọc đúng chữ, đọc rõ ràng, mạch lạc các đoạn đối thoại, các bài báo, các văn bản hành chính
+ Đọc thầm với tốc độ nhanh hơn lớp 2
+ Nắm được ý chính của một đoạn văn và biết đặt đầu đề cho một đoạn văn, biết nhận xét một số hình ảnh, nhân vật hoặc chi tiết trong bài đọc
+ Học thuộc lòng một số bài văn, thơ nêu trong sách giáo khoa
* Kĩ năng viết:
+ Viết đúng và nhanh các kiểu chữ thường và chữ hoa cỡ nhỏ
Trang 3+ Viết đúng chính tả, chữ rõ ràng và đều nét những đoạn văn ngắn theo các hình thức nghe - viết và nhớ - viết; biết phát hiện và sửa một số lỗi chính tả
+ Biết viết một lá đơn, một tờ khai thông thường theo mẫu, viết một bức thư ngắn để báo tin hoặc thăm hỏi người thân hoặc bè bạn, biết trình bày một phong bì thư, biết kể lại nội dung một bức tranh đã xem, một văn bản đã học
2.1.2 Nhiệm vụ của phân môn Tập Làm Văn ở Tiểu học.
- Rèn luyện các kĩ năng tạo lập văn bản (văn bản nói, và văn bản viết) phù hợp với mục đích giao tiếp, hoàn cảnh, điều kiện giao tiếp theo nhiều loại phong cách văn bản khác nhau góp phần cùng các môn học khác phát triển ngôn ngữ,
mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy lô gích, tư duy trừu tượng cho học sinh Trau dồi thái độ ứng xử có văn hóa, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mỹ và hình thành nhân cách cho học sinh Tô đậm thêm tình cảm yêu mến, gắn bó với
tự nhiên, con người, xã hội làm cho tâm hồn, tình cảm các em thêm phong phú
2.2 Thực trang vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1 Một số khó khăn khi dạy Tập làm văn ở lớp 3:
Ở lớp 3 mỗi tuần học các em có một tiết Tập làm văn Trong giờ Tập làm văn các em sẽ tập nghe, nói, viết để có các kĩ năng nói - viết phục vụ cho cuộc sống hàng ngày, kể những câu chuyện đã nghe, làm quen với các miêu tả ngắn
Qua nhiều năm thực dạy ở lớp 3, và quan sát đồng nghiệp tôi nhận thấy học sinh và cả giáo viên gặp nhiều khó khăn khi dạy- học trong tiết Tập làm văn, đặc biệt là đối với những bài văn kể Nhiều nội dung, yêu cầu chưa gắn với thực tiễn đời sống của từng học sinh, từng khu vực Mặc dù chương trình cũng đã có điều chỉnh như thay đề bài cho phù hợp song các em chưa một lần được nghe, được biết, được quan sát những hoạt động đó thì khó có thể hình dung, tưởng tượng ra khi thực hành
Việc dựa vào câu hỏi gợi ý, có nhiều mặt tích cực song cũng bộc lộ hạn chế ở chỗ các em thường quan tập trả lời câu hỏi chưa đưa mình vào hoàn cảnh
và hoạt động cụ thể theo tranh, theo yêu cầu Do đó học sinh không bộc lộ, lồng ghép được tình cảm, suy nghĩ của bản thân vào trong hoạt động đó Có khi còn
sợ sai yêu cầu khi không trả lời trực tiếp vào câu hỏi
Đa số học sinh đều dựa vào phần gợi ý để làm bài một cách thụ động mà chưa phát huy năng lực tuy duy cá nhân
Một bộ phận học sinh do đọc chưa lưu loát, cảm nhận về bài đọc chưa tốt nên chưa nắm vững yêu cầu của bài học dẫn đến không biết bắt đầu như thế nào, viết câu ra sao, lựa chọn ngôn ngữ hình ảnh như thế nào cho phù hợp
Một số học sinh kĩ năng viết chậm dẫn đến không trình bày kịp thời gian
2.2.2 Thực trạng dạy nội dung phân môn Tập làm văn lớp 3 ở Trường Tiểu học Kiên Thọ 1.
Ở lớp 3 ngoài những dạng văn ứng dụng như: “ Viết đơn, điền vào tờ giấy
in sẵn, tập tổ chức cuộc họp, tập viết thư và phong bì thư, giới thiệu hoạt
động ” thì học sinh chủ yếu tập viết văn nói viết về một chủ đề như: Kể về gia đình, kể về hàng xóm; kể về ngày đầu tiên đi học; kể lại một buổi biểu diễn nghệ thuật; kể về lễ hội kể về một ngày hội; kể về một trận thi đấu thể thao
Mục đích của SGK là giúp học nhớ lại những gì đã chứng kiến để kể lại,
tả lại thành đoạn văn ngắn có tính chân thực
Trang 4Đã có nhiều bài văn kể của học sinh rất hay xong quan sát chúng tôi nhận thấy giáo viên rất vất vả trong quá trình dạy học sinh viết văn kể, nói viết về chủ
đề Một trong những vất vả đó là học sinh thiếu kinh nghiệm thực tế, thiếu trải nghiệm để làm bài theo yêu cầu Còn quá nhiều học sinh chưa bao giờ được tham dự một ngày hội, một lễ hội nào nên thay vì kể lại cảm xúc của mình, học sinh thường lắp ghép các câu văn, đoạn văn theo sự tưởng tượng không thực tế của mình
Một bộ phận giáo viên còn chưa linh hoạt trong việc truyền tải nội dung, gợi ý cho học sinh cách viết câu, sử dụng hình ảnh cho phù hợp Chưa chuẩn bị
đồ dùng chu đáo khi lên lớp (Ở đây là cả đồ dùng dạy học như tranh ảnh minh họa, máy chiếu, vật thật và cả ngôn ngữ của giáo viên nữa, bởi giáo viên có chuẩn bị ngôn ngữ thì khi gợi ý, hướng dẫn hoặc đọc một câu văn mẫu cho học sinh sẽ hay hơn gần gũi dễ hiểu hơn đối với các em)
Khi tổ chức các hoạt động giáo viên chưa phân định hoạt động nào là trọng tâm Hình thức tổ chức dạy học còn nghèo nàn, chưa có sự lồng ghép tích hợp của các môn học
Việc tổ chức các giờ dạy trong phân môn Tập làm văn mẫu trong nhà trường ít nên giáo viên ít có cơ hội học tập kinh nghiệm lẫn nhau
Học sinh phần lớn là người dân tộc Mường, giao tiếp chủ yếu của các em
là tiếng Mường do đó ngôn ngữ còn hạn chế, tư duy lô gích chưa cao, chưa nắm vững cách viết câu cho hoàn chỉnh, câu có hình ảnh, sắp xếp câu cho hợp lí, không mô tả được những gì đã quan sát được từ thực tế thành đoạn văn
Bên cạnh đó, phân môn Tập làm văn cũng là một phân môn khó Đặc điểm tâm sinh lý của các em là ngại viết, chưa có kĩ năng quan sát và ghi chép Các em còn rất ham chơi, ít em có sự chuẩn bị bài vở ở nhà trước khi đến lớp Chính vì thế, khi dạy tiết Tập làm văn ở lớp 3A2, tôi gặp khó khăn là học
ít phát biểu, các em chỉ trả lời câu hỏi mà không nói được thành đoạn, đoạn văn của các em viết còn lủng củng, chưa có câu mở đoạn, một số em viết lạc đề, Tôi nhận thấy các em ngại học Tập làm văn
2.2.3 Kết quả khảo sát:
Đây là một trong những bài làm của học sinh đầu năm hoc
Trang 5Qua khảo sát chất lượng đầu năm, năm học 2018 - 2019 ở phân mônTập làm văn ở lớp 3A2 cho thấy:
Thời điểm Số HS Tổng Hoàn thành tốt Hoàn thành chưa hoàn thành
Số HS Tỉ lệ Số HS Tỉ lệ Số HS Tỉ lệ Tháng
2.2.4 Nguyên nhân của những thực trạng trên:
- Kĩ năng đọc hiểu thông qua các bài tập đọc, kĩ năng vận dụng của học sinh còn hạn chế
- Sử dụng ngôn ngữ khô khan, không có hình ảnh, sắp xếp câu chưa phù hợp, câu văn còn cụt, què, không có cảm xúc
- Giáo viên còn hạn chế trong cách diễn đạt, ngôn ngữ chưa trau chuốt, còn “ bí từ khi giảng bài cho học sinh, thụ động vào SGV
- Giáo viên chưa có kế hoạch nghiên cứu bài học xuyên suốt trong năm học Chưa có những bước đệm chuẩn bị cho những bài khó ở các tuần trước đó
Với nguyên nhân và kết quả như trên tôi nhận thấy rằng hoàn cảnh, điều kiện cũng như đặc điểm ngôn ngôn ngữ của học sinh đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy học Bên cạnh đó chương trình Sách giáo khoa không phân biệt vùng miền đòi hỏi người giáo viên trong công tác dạy học phải có biện pháp tháo gỡ giúp học sinh đạt được mục tiêu của chương trình và quan trọng hơn giúp học sinh viết được những điều các em nghĩ, quan sát, nghe, nhìn thấy một cách có bài bản, sâu sắc
2.3 Các biện pháp thực hiện dạy học một số bài văn nói, kể trong phân môn Tập làm văn lớp 3.
Biện pháp1: Bồi dưỡng vốn sống, hứng thú học tâp cho học sinh.
- Mục đích nội dung của các bài tập thuộc dạng bài: Nói, viết về một chủ
đề nhằm rèn cho HS kĩ năng diễn đạt bằng lời nói, viết Xem xét cách triển khai câu hỏi gợi ý ở mỗi chủ đề chúng ta thấy dạng chủ đề này hầu như là sự kết hợp của nhiều thể loại: miêu tả, tường thuật, thuyết minh, phát biểu cảm nghĩ Theo tôi để giúp các em có vốn hiểu biết cũng như trau rồi từ ngữ, biết chắt lọc và gom từ cho bản thân thì giáo cần phải có các biện pháp:
- Ngay từ đầu năm học, trong từng bài học giáo viên cần hướng dẫn học
sinh cảm nhận vẻ đẹp cảm xúc trong văn học qua từng bài Tập đọc, Chính tả, Luyện từ & Câu, Tập làm văn Luôn xác định phần hướng dẫn cho học sinh là rất quan trọng Hướng dẫn quan sát ngữ liệu, vẻ đẹp, trọng tâm của bài, rèn cách
sử dụng ngôn ngữ cho học sinh
- Giáo viên cần có chủ định trước nhiều tuần khi học đến dạng bài văn kể
để nhắc các em quan sát và ghi nhớ bởi các hoạt động lễ hội, biểu diễn nghệ thuật có thể các em được chứng kiến trước đó rất lâu, đã từng được chứng kiến từng xem trực tiếp hoặc qua các kênh truyền hình nhưng chỉ xem với niềm thích thú, say mê mà không để ý tới, trình tự, nội dung của lễ hội hay buổi biểu diễn nghệ thuật, trận thi đấu thể thao đó Do đó giáo viên cần phải quan sát sinh hoạt
Trang 6của các em để nhắc nhở các em, giúp các em có vốn tư liệu khi vào bài đỡ bỡ ngỡ Bởi vì tư duy của học sinh lớp 3 chưa nhanh, suy nghĩ để tìm ra các từ ngữ phục vụ cho bài học chưa nhiều chưa chính xác nên giáo viên có kế hoạch giáo dục ngay từ đầu năm học sẽ giúp các em củng cố thêm về ngôn ngữ, tư duy và cách diễn đạt mạch lạc hơn
Xây dựng tủ sách của lớp và hướng dẫn các em cách đọc sách, đọc không chỉ để giải trí mà đọc phải có suy nghĩ, liên hệ, rút ra những bài học bổ ích Tôi
đã tổ chức cho HS của mình đọc sách vào 2 buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ trong mỗi tuần và dành một thời lượng nhất định vào các buổi sinh hoạt CLB em yêu tiếng Việt Sau khi học sinh đọc xong, tôi đã tổ chức cho HS trao đổi về cuốn sách, các thông tin đã đọc được
Biện pháp 2: Ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình dạy học
Khi dạy dạng bài Kể hay nói về một chủ đề thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy là rất cần thiết
Được áp dụng công nghệ thông tin như vậy sẽ tích cực hóa được hoạt động nhận thức của học sinh, thu hút được sự chú ý xây dựng bài, dễ dàng lĩnh hội tri thức mới Lúc này, học sinh thật sự là chủ thể hóa của hoạt động nhận thức Học sinh được mở rộng hiểu biết Từ đó các em nắm bắt được kiến thức mới Không những thế, một giờ học có ứng dụng công nghệ thông tin sẽ tăng cường việc học tập và lĩnh hội tri thức theo từng cá thể, phối hợp với học tập tương tác nhóm và giúp hoàn thiện tốt hơn kỹ năng làm văn của học sinh
Tuy nhiên, để mang lại cho học sinh một tiết học như vậy, giáo viên phải
nỗ lực rất nhiều trong việc chuẩn bị bài soạn, việc thiết kế các bài lên lớp sao cho phong phú, sinh động, lôgic, sáng tạo, tận dụng được tối đa các trang thiết bị hiện đại mà nhà trường sẵn có
Biện pháp 3: Đề xuất cách dạy một số bài trong phân môn Tập làm văn 2.1 Một số ví dụ về cách tháo gỡ các bài Tập làm văn kể bằng một đoạn văn ngắn về người thân, lễ hội, hoạt động nghệ thuật, thể dục thể thao
Bài 1 : Kể về người lao động trí óc ( Tuần 22).
a) Nội dung dạy học bao gồm hai vấn đề:
- Kể về một người lao động trí óc mà em biết
- Viết lại những điều em vừa kể thành một đoạn văn từ 7 -10 câu
b) Khó khăn:
- Khi làm bài Tập làm văn kể về người lao động trí óc thì một số học sinh không xác định được người làm công việc gì thì gọi là người lao động trí óc, một số khác chỉ biết được cô giáo, bác sĩ là người lao động trí óc, không biết nhiều về nghề lao động trí óc
- HS chủ yếu dựa vào gợi ý trong SGK và làm bài theo hình thức chỉ trả lời câu hỏi gợi ý, không biết sắp xếp, lựa chọn thêm từ ngữ vào các câu đó để tạo thành một đoạn văn Do vậy đoạn văn các em kể đều không lô gíc, câu văn cụt không diễn đạt được nội dung
- Một số học sinh nêu miệng trôi chảy nhưng không diễn đạt và viết được thành đoạn văn hoàn chỉnh
c) Cách tháo gỡ:
Trang 7Bài tập 1 :
Bước 1: GV cần cho HS xác định rõ những người làm nghề gì thì được gọi là
lao động trí óc Người đó có thể biết qua các bài đã học, qua sách báo, ti vi, cũng có thể biết qua thực tế cuộc sống, là người thân của mình, họ hàng mình, hàng xóm láng giềng Chẳng hạn: Giáo viên, bác sĩ, kĩ sư , kiến trúc sư, nhà văn, nhà thơ,
Giáo viên Kĩ sư
Bác sĩ Nhà thơ Trần Đăng Khoa
Học sinh có thể quan sát nghề nghiệp của từng người qua tranh ảnh minh họa hoặc một đoạn vidio ngắn (do giáo viên chuẩn bị) để các em có tư liệu cho bài làm của mình.Tiếp đó, giáo viên hướng cho học sinh lựa chọn đối tượng sẽ
kể là ai? Có thể chọn kể về một người lao động trí óc em đã học hoặc được biết qua báo chí, ti vi hoặc người đó ở chính gia đình mình, miễn sao học sinh phải ấn tượng sâu sắc về người đó, thấy thích thú khi kể về người đó
Bước 2:
HS thảo luận trong nhóm về câu hỏi gợi ý (nên thảo luận nhóm đôi) Chủ
động đưa vào hệ thống câu hỏi gợi ý một số câu hỏi khác, trong mỗi câu hỏi đều yêu cầu học sinh trả lời đủ ý, diễn tả đúng hành động, việc làm của nhân vật đó Cần đưa ra được thái độ của em và mọi người xung quanh đối với người định
kể Chẳng hạn: giáo viên có thể cho học sinh thảo luận hệ thống câu hỏi sau:
+Người đó tên là gì? Làm nghề gì?
+ Người đó ở đâu, có quan hệ với em như thế nào?
+ Công việc hàng ngày của người đó là gì?
+ Công việc ấy quan trọng và cần thiết như thế nào? Mức độ cần cù thông minh sáng tạo của người đó?
+ Kết quả của những công việc đã làm?
+ Em có thích làm công việc như người đó không?
Trang 8+ Em có tình cảm như thế nào với người đó và công việc của họ?
- GV quan sát từng nhóm về nội dung thảo luận của các em và điều chỉnh, sửa lỗi chung cho cả lớp cùng nghe (chú ý từng câu trả lời sao cho gọn ý Mỗi câu hỏi có thể nói từ một, hai câu tùy theo cách kể của các em)
Bước 3:
Mặc dù chưa yêu cầu các em viết thành một bài văn có bố cục chặt chẽ song giáo viên cần lưu ý học sinh: Dựa vào những câu hỏi ngắn chi tiết, các em hãy liên kết thành một đoạn văn liền mạch, rõ ràng về ý Các câu văn phải gắn kết với nhau, có cảm xúc, có hình ảnh Câu văn viết phải đúng ngữ pháp, tránh tình trạng liệt kê kiểu trả lời từng câu hỏi SGK
Trình bày đoạn văn phải đúng quy định Chữ đầu đoạn văn phải lùi vào một ô, viết hoa chữ cái đầu
Đối với học sinh nắm bài quá chậm giáo viên có thể gợi dẫn cho học sinh một vài câu mẫu để các em biết chuyển từ văn miệng sang viết
- Hoàn thành bài cần đọc lại để kiểm tra chính tả, dấu câu cho chính xác
- Viết bài văn hoàn chỉnh
d) Kết quả:
Với sự hướng dẫn từng bước như trên, tôi đã giúp các em có thói quen đọc kĩ yêu cầu đề bài Biết lựa chọn ngôn ngữ phù hợp, biết tìm hình ảnh đẹp, sắp xếp câu hợp lí Nhiều em đã viết được những câu văn đẹp như: " Với cô em mãi là đứa học trò thơ ngây ngày nào "; " Bác Lan là người thầy thuốc của nhân dân "; " Dù còn trẻ nhưng anh Sơn là vị cứu tinh của bà con nông dân trong việc nghiên cứu thuốc trừ sâu cho lúa nếp nương "; " Cô chính là người mẹ hiền thứ hai của chúng em ở trường " và đây là một trong những bài văn hay được các em viết như sau:
Trang 9Bài 2: Kể lại một buổi biểu diễn nghệ thuật mà em đã được xem ( Tuần 23).
(Có thể thay đề bài cho phù hợp với đối tượng học sinh)
a) Nội dung dạy học bao gồm hai vấn đề:
- Rèn luyện kĩ năng nói: Biết kể lại rõ ràng, tự nhiên, có thứ tự một buổi biểu diễn nghệ thuật
- Rèn luyện kĩ năng viết: Dựa vào những điều vừa kể, viết được một đoạn văn khoảng 7 – 10 câu kể lại một buổi biểu diễn nghệ thuật
b) Khó khăn:
- Một bộ phận các em chưa bao giờ được đi xem một buổi biểu diễn nghệ thuật nên không hình dung được để kể
- HS chỉ biết liệt kê các tiết mục trong buổi biểu diễn mà không biết chú trong vào tiết mục đặc sắc
- Chưa biết cách kể theo đúng trình tự của buổi biểu diễn
- Ngôn ngữ dùng để kể lại còn hạn chế
- Nếu thay đề bài bằng một nội dung cụ thể như buổi văn nghệ trong nhà trường, trong làng, xã, thì một bộ phận học sinh lại muốn được kể những buổi biểu diễn khác mà các em được tham dự cùng với gia đình hoặc xem trên vi ti, còn nếu để đề bài mở thì một số em không xác định rõ được như thế nào là buổi biểu diễn nghệ thuật
c) Cách tháo gỡ:
- Trước hết giáo viên cần giúp cho học sinh hiểu: các môn nghệ thuật gắn liền với sân khấu có kịch nói, ca kịch, chèo, tuồng, cải lương, múa rối cạn, múa rối nước, xiếc, múa, hát, Sân khấu có thể có quy mô như một nhà hát lớn, một rạp hát, rạp múa rối; có thể là một nhà hát hay một nơi nào đó, dùng bục, phông, màn - để dựng nên Người biểu diễn có thể là những diễn viên, những nghệ sĩ chuyên nghiệp, có thể là lực lượng nghiệp dư, văn nghệ quần chúng
Múa rối nước Xiếc
- Giáo viên cần định hướng cho học sinh kể lại một buổi nghệ thuật cụ thể
và gợi cho các em nhớ lại xem mình đã đi xem buổi biểu diễn nghệ thuật nào chưa? (Thi văn nghệ ở trường cũng là một buổi biểu diễn nghệ thuật)
- HS cùng kể về một buổi biểu diễn giống nhau theo gợi ý:
Trang 10+ Đó là buổi biểu diễn nghệ thuật gì? ở đâu? em được xem trực tiếp hay xem qua ti vi?
+ Em đi xem cùng với ai? Quang cảnh của nơi biểu diễn? Buổi biểu diễn gồm những tiết mục gì, thái độ của khán giả khi xem?
+ Em thích tiết mục nào nhất? ( nêu lí do mình thích)? Cảm nhận của em sau khi xem buổi biểu diễn?
- Giáo viên cần chú ý đoạn hội thoại thảo luận của học sinh để chỉnh sửa
cả cách trả lời, cách lựa chọn chi tiết (tiết mục) nổi bật nhất, cách dùng từ cho phù hợp với yêu cầu.(Chẳng hạn nếu là buổi biểu diễn xiếc thì các em cần sử dụng những từ gợi tả như: nhào, lộn, nín thở, thót tim, vỡ òa, dẻo, khéo léo,
Kể về buổi biểu diễn văn nghệ thì cần sử dụng các từ như: giọng hát ngọt ngào, trầm, cao, ấm, vỗ tay, sôi động, sâu lắng, ) Đôi khi sự góp ý của giáo viên chỉ
là rất nhanh khi lướt qua bài nháp của học trò hay là phần nêu miệng của các
em, mà góp ý nào cô cũng nêu chung cho cả lớp cùng nghe để sửa bài của mình
- Khi trình bày bài viết cần nhắc các em nên nhớ lại những điều mình vừa thảo luận với bạn và viết câu phải rõ ràng, đủ ý Sắp xếp câu cho hợp lí sau đó mới viết vào bài
d) Kết quả:
Kể lại một biểu diễn nghệ thuật là một đề bài khó cho học sinh Tuy nhiên với sự gợi mở, hướng dẫn theo các bước trên các em đã hoàn thành tốt các bài văn theo yêu cầu Nhiều câu văn thể hiện sự quan sát tinh tế như: "Sau tiết mục
mở màn của lớp 5A, cả sân khấu như vỡ tung bởi những tràng pháo tay "; " Những ngón tay đan trên những sợi dây đàn từng tiếng, từng tiếng thánh thót, khán giả lặng đi vì xúc động " Và đây là một trong những bài văn xuất sắc của các em:
Bài 3: Kể về lễ hội ( Tuần 25).
a) Nội dung dạy học bao gồm:
+ Dựa vào việc quan sát hai bức ảnh chụp cảnh lễ hội (chơi đu và đua thuyền), HS lựa chọn một trong hai ảnh để tả lại quang cảnh và hoạt động của những người tham gia lễ hội Khi tả phải dựng lại đúng và sinh động quang cảnh
và những hoạt động ấy
B) Khó khăn:
+ 2 bức ảnh quá nhỏ, khó quan sát
+ Không có hệ thống câu hỏi gợi dẫn học sinh
+ Khả năng quan sát và mô tả lại bằng lời những điều các em quan sát được còn hạn chế rất nhiều
+ Chưa xác định được cảnh chính trong tranh mà mình định mô tả
+ Chưa biết tả cảnh lồng với tả người để đoạn văn tả sinh động
+ Hoạt động lễ hội đó không có ở địa phương nên có một số em không xác định được đó gọi là lễ hội gì?
+ Ngôn ngữ diễn đạt nghèo nàn Thiếu tự tin khi trình bày trước lớp
+ Không sắp xếp được từ ngữ để nêu miệng thành ý
c) Cách tháo gỡ:
Bước 1:
Chuẩn bị: