[1] Là một trong những phân môn chính trong chương trình Tiếng Việt của bậc tiểu học, Tập làm văn rất quan trọng vì nó sử dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức và kĩ năng
Trang 1MỤC LỤC
2.1 Cơ sở lí luận của dạy - học tập làm văn tả người 2 2.2 Thực trạng của việc dạy - học tập làm văn tả người 4
2.3.1 Nghiên cứu chương trình tập làm văn lớp 5 6 2.3.2 Hướng dẫn học sinh cách làm bài, rèn các kỹ năng khi làm
1 MỞ ĐẦU
Trang 21.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Ở nhà trường tiểu học, mỗi môn học, mỗi hoạt động giáo dục đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách cho học sinh
Tiếng Việt là môn học có ý nghĩa quan trọng ở tiểu học, vì dạy Tiếng Việt
là dạy tiếng mẹ đẻ, nó đóng vai trò to lớn trong việc hình thành những phẩm chất quan trọng nhất của con người và trong việc thực hiện những nhiệm vụ của
hệ thống giáo dục quốc dân K.A.Usinxki đã viết: “Trẻ em đi vào trong đời sống tinh thần của mọi người xung quanh nó duy nhất thông qua tiếng mẹ đẻ và ngược lại, thế giới bao quanh đứa trẻ được phản ánh trong nó thông qua chính công cụ này” Chính vì vậy, tiếng mẹ đẻ là môn học trung tâm ở trường tiểu học [3]
Đối với học sinh lớp 5, lớp cuối cấp tiểu học, môn Tiếng Việt hoàn thành mục tiêu đặt ra ở toàn cấp là: Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) Đây là những kĩ năng không thể thiếu để học sinh có thể học tập, giao tiếp Thông qua việc dạy học tiếng Việt, góp phần các thao tác của tư duy Dạy Tiếng Việt ở tiểu học cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá và văn học của Việt Nam và nước ngoài Qua đó bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa [1]
Là một trong những phân môn chính trong chương trình Tiếng Việt của bậc tiểu học, Tập làm văn rất quan trọng vì nó sử dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức và kĩ năng tiếng Việt mà các phân môn Tiếng Việt khác
đã hình thành Phân môn Tập làm văn đã thực hiện mục tiêu cuối cùng, quan trọng nhất của việc dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy học sinh sử dụng được tiếng Việt
để giao tiếp, tư duy, học tập Nó góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu chung của bậc học
Phân môn Tập làm văn ở lớp 5, trong đó phần tập làm văn tả người là một nội dung mới và chiếm số tiết tương đối nhiều, đối tượng tả là những người thật gần gũi hoặc những người mà các em mới gặp nhưng có ấn tượng sâu sắc về người ấy Tuy vậy, trong thực tế dạy học, tôi nhận thấy rằng, có tình trạng học sinh thiếu sự say mê, có em “ngại” học phân môn này dẫn đến có những bài văn chưa đạt yêu cầu, ít bài văn hay; khả năng cảm thụ, thể hiện tình cảm của bản thân qua bài viết còn hạn chế Một số học sinh còn phụ thuộc nhiều vào văn mẫu dẫn đến giảm sự sáng tạo của học sinh Bên cạnh đó, còn có phụ huynh học sinh còn xem nhẹ việc rèn kĩ năng làm văn cho con em mình, chưa khuyến khích, tạo điều kiện cho con học tập Giáo viên đôi lúc còn lúng túng, chưa tìm
ra được phương pháp tối ưu để việc dạy - học tập làm văn đạt hiệu quả Những điều đó đã ảnh hưởng không tốt đến việc dạy và học tập làm văn nói chung, phần tả người nói riêng
Trang 3Để giúp các em có những hình ảnh đẹp về những người thân yêu trong kí
ức tuổi thơ cũng như giúp các em thể hiện tình cảm yêu thương, lòng biết ơn của mình đối với những người mang lại cho mình nhiều điều tốt đẹp trong cuộc sống, cùng với ham muốn học hỏi, muốn có cơ hội để tích luỹ thêm kinh nghiệm
cho bản thân, nên tôi chọn đề tài : “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy
-học tập làm văn tả người cho -học sinh lớp 5”.
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích: Tìm hiểu một số khó khăn của học sinh lớp 5 khi học làm văn tả người, tìm hiểu nguyên nhân của những khó khăn đó và đề ra những giải pháp khắc phục Từ đó nâng cao chất lượng dạy học phân môn này nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được đề tài, tôi đã nghiên cứu cơ sở của việc dạy học nội dung làm văn tả người ở lớp 5 Đồng thời, nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề (thông qua tìm hiểu việc dạy học nội dung làm văn tả người của học sinh lớp 5-Trường tiểu học Hà Phú và kết quả thu được của học sinh)
Trên cơ sở đó giải quyết những vấn đề sau:
- Khảo sát, thống kê những lỗi học sinh thường mắc khi học làm văn tả người
- Chỉ ra nguyên nhân cơ bản dẫn đến những lỗi của học sinh
- Đề xuất một số giải pháp khắc phục hoặc hạn chế bớt những khó khăn của học sinh, nâng cao chất lượng dạy học, khả năng viết văn của học sinh
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Tìm hiểu cơ sở của việc dạy và học làm văn
tả người của học sinh lớp 5
- Phương pháp quan sát: Quan sát quá trình dạy và học làm văn tả người ở lớp 5-Trường tiểu học Hà Phú
- Phương pháp điều tra: Điều tra thực tế việc dạy và học làm văn tả người của giáo viên và học sinh
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Thực hiện thống kê, xử lí các số liệu thu được trong quá trình điều tra
2 NỘI DUNG 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY - HỌC TẬP LÀM VĂN TẢ NGƯỜI.
Tập làm văn là phân môn không thể thiếu được đối với học sinh tiểu học Tập làm văn là công việc đòi hỏi học sinh phải vận dụng các kĩ năng Tiếng Việt, vốn sống, vốn văn học, năng lực cảm thụ văn học của các em đã có được Tập làm văn là công cụ, là chìa khoá, là phương tiện để học sinh tiếp nhận tri thức của loài người Tập làm văn giúp các em hiểu được cái hay, cái đẹp, cái tinh tế của nghệ thuật ngôn từ Học tập làm văn các em đồng thời học được cách nói, cách viết một cách chính xác, trong sáng, có nghệ thuật, góp phần không nhỏ vào việc rèn luyện cách suy nghĩ, diễn đạt cho cả lớp người chủ tương lai của xã hội Dạy tập làm văn không chỉ phát triển ở các em vốn từ ngữ Tiếng Việt phong phú mà còn rèn kĩ năng đọc, viết, cách diễn đạt Từ đó các em sẽ học tốt cả các
Trang 4môn khác bởi đọc đúng mới viết đúng, hiểu đúng mới làm đúng…Vì vậy, để dạy tập làm văn, trước hết phải trau dồi vốn sống của học sinh, phải dạy cho các em biết suy nghĩ, tạo cho các em có cảm xúc, tình cảm rồi mới dạy cho các em cách thể hiện những suy nghĩ, tình cảm đó bằng ngôn ngữ nói và viết
Học sinh tiểu học là lứa tuổi đang hình thành và phát triển những đặc điểm cơ bản về nhân cách, mỗi em là một cá thể riêng nên giáo viên phải chú ý đến từng học sinh đặc biệt là khẩu ngữ của các em, rèn và phát triển từ các trực quan sinh động, cụ thể tiến tới trừu tượng hóa từng bước phát triển ngôn ngữ cho các em
Dạy tập làm văn là dạy một hoạt động: hoạt động lời nói (nói, viết) Hoạt động lời nói là một cấu trúc bao gồm bốn giai đoạn kế tiếp nhau: định hướng, lập chương trình, hiện thực hoá chương trình và kiểm tra Có thể thấy mối quan
hệ này trong sơ đồ sau:
Cấu trúc hoạt động lời nói Hệ thống kĩ năng làm văn
1 Định hướng
1.Kĩ năng xác định đề bài, yêu cầu và giới hạn
đề bài bài viết (kĩ năng tìm hiểu đề)
2 Kĩ năng xác định tư tưởng cơ bản của bài viết
2 Lập chương trình nội
dung biểu đạt
3 Kĩ năng tìm ý (thu thập tài liệu cho bài viết)
4 Kĩ năng lập dàn ý (hệ thống hoá, lựa chọn tài liệu)
3 Hiện thực hoá chương
trình
5 Kĩ năng diễn đạt (dùng từ đặt câu) thể hiện chính xác, đúng đắn phong cách bài văn, tư tưởng bài văn
6 Kĩ năng viết đoạn, viết bài theo phong cách khác nhau
4 Kiểm tra 7 Kĩ năng hoàn thiện bài viết (phát hiện và sửa chữa lỗi).
[4]
Cấu trúc này cần được vận dụng triệt để khi xây dựng hệ thống kĩ năng làm văn Ứng với mỗi giai đoạn, người giáo viên cần giúp học sinh hiện thực hoá chương trình qua các bước để tạo ra được bài văn hoàn chỉnh Dạy tập làm văn lớp 5 nhằm giúp các em biết tìm ý, lập dàn ý chi tiết cho một văn bản nói (viết), biết viết chi tiết sáng tạo những đề đã học, biết tả cảnh, tả người, vật …,
có khả năng trao đổi, thảo luận những vấn đề hấp dẫn với lứa tuổi Vậy quá trình lĩnh hội tri thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo nói chung, các đặc điểm tâm lí lứa tuổi của các em, tâm lí học sư phạm nói riêng là cơ sở cho phương pháp xác định nội dung và hình thức tổ chức dạy học nhằm đạt kết quả dạy học cao
Phương pháp dạy Tiếng Việt (nói chung) dạy Tập làm văn (nói riêng) đều dựa trên những cơ sở của ngôn ngữ học nó liên quan mật thiết với một số vấn đề của ngôn ngữ học như: vấn đề chính âm, chính tả, chữ viết, ngữ điệu nghĩa của
từ, của câu, đoạn bài Phương pháp dạy Tập làm văn dựa trên vấn đề của ngôn ngữ học Cảm thụ văn chương bao giờ cũng là một rung động rất riêng của mỗi người Giáo viên nên biết chấp nhận những ý kiến lạ, những cá tính khác, không
Trang 5lấy mình làm mẫu, không áp đặt đối với học sinh…những sản phẩm của các em tuy còn non nớt nhưng những sáng tạo đó cần được tôn trọng và ghi nhận
Trên đây là những cơ sở lí luận để bản thân tôi xây dựng đề tài nghiên cứu cho mình
2.2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY - HỌC TẬP LÀM VĂN TẢ NGƯỜI 2.2.1.Thực trạng.
Được sự phân công của nhà trường, trong hai năm học vừa qua, tôi được trực tiếp phụ trách giảng dạy ở lớp 5 Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy rằng: khi dạy-học tập làm văn, có rất nhiều khó khăn mà cả giáo viên và học sinh đều gặp phải
a Về giáo viên:
*Trong dạy học tập làm văn, giáo viên đôi khi còn chưa khắc phục được thói quen dạy học theo lối cũ, chưa chú ý đầu tư công sức và trí tuệ nhằm tìm ra những biện pháp và hình thức thích hợp cho từng bài dạy; còn giảng nhiều, nói nhiều vì “sợ” học sinh không hiểu… khiến tiết học nặng nề, chưa phát huy tinh thần chủ động, tích cực của học sinh trong quá trình thực hành luyện tập các kĩ năng tiếng Việt
Nguyên nhân: Giáo viên chưa có sự đầu tư đúng mức cho việc nghiên cứu
mục tiêu từng tiết dạy, từng bài dạy Đôi khi, chưa vững vàng về mặt kiến thức, chưa hiểu rõ ý đồ một số bài của sách giáo khoa Vì thế, việc áp dụng các hình thức, phương pháp dạy học còn máy móc
*Giáo viên đôi lúc chưa linh hoạt trong cách “ mở, dẫn dắt” học sinh trong học tập, cách tạo tình huống, xoay chuyển các tình huống học sinh đặt ra Việc tiếp cận đổi mới phương pháp dạy học của một số giáo viên vẫn còn là một thách thức lớn Đa số các đồng chí giáo viên dạy lớp 5 đã có nhiều đổi mới trong dạy học nhưng thực sự vẫn còn nhiều lúng túng khi dạy môn Tiếng Việt đặc biệt là phân môn Tập làm văn
Nguyên nhân: Giáo viên chưa có nhiều “chất văn”, kiến thức Tiếng Việt
đôi lúc chưa chắc chắn Phân môn Tập làm văn là một phân môn khó dạy nhất
so với các phân môn khác của môn Tiếng Việt Giáo viên còn chưa mạnh dạn, linh hoạt trong đổi mới phương pháp; chưa có sự chuẩn bị chu đáo để hướng dẫn học sinh làm bài tập nên thường chữa bài theo kiểu chung chung, máy móc, chưa khơi dậy được tình yêu văn chương ở học sinh
b Về học sinh:
* Làm bài tập làm văn đối với nhiều học sinh là việc làmkhó vì vậy nhiều
em rất ngại học nên làm bài rất lâu, hết tiết làm bài mà vẫn chưa xong nên chưa
đủ bố cục của bài văn Hoặc một số em lại đếm dòng để kết bài do vậy bài làm còn rất sơ sài, chưa nổi bật trọng tâm
Nguyên nhân: Học sinh chưa có thói quen quan sát, lập dàn ý, thậm chí
còn khi viết bài vào vở nghĩ được câu gì viết câu ấy làm cho bài tả lộn xộn Học sinh còn làm bài một cách thụ động, chưa tự giác, tích cực, làm bài không theo trình tự của bài làm nên bài làm còn mang tính liệt kê tất cả các bộ phận về hình dáng của người đang tả
Trang 6* Học sinh sử dụng từ ngữ chưa chính xác, dùng từ đặt câu chưa phù hợp với văn cảnh, những hình ảnh so sánh, nhân hoá chưa đúng Bài làm thiếu cảm xúc theo đặc điểm lứa tuổi của học sinh do đó bài văn thường sáo rỗng hoặc rập khuôn, phụ thuộc vào văn mẫu Một số học sinh miêu tả hời hợt, chung chung không có sắc thái riêng biệt nào của đối tượng được tả, ví dụ khi tả về mẹ, cô giáo, cô ca sĩ phần tả về hình dáng các em viết giống nhau
Nguyên nhân: Vốn từ còn nghèo nàn, ngại suy nghĩ, chưa dành nhiều thời
gian để quan sát trước khi tả nên chưa tìm ra được những đặc điểm riêng biệt của người đang tả cũng như chưa tìm được ý, chưa huy động được vốn từ qua các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Kể chuyện… nên không có những hình ảnh so sánh, nhân hoá làm cho bài văn khô khan, rời rạc, thiếu cảm xúc, không lôgíc, không có sự liên kết giữa các đoạn
*Nhiều em còn viết sai lỗi chính tả, khi làm bài còn sa vào liệt kê, kể lể, diễn đạt còn lủng củng Còn tình trạng viết câu văn chưa đúng, dùng dấu câu chưa đúng chỗ Có những em cả bài văn dài chỉ có mấy câu, chưa có sự liên kết câu, liên kết đoạn văn làm cho người đọc thấy khó hiểu, thậm chí còn tạo nên những tình huống gây cười cho người đọc
Nguyên nhân: Học sinh sai lỗi chính tả do tiếng địa phương hoặc nói
ngọng Điều kiện sống của các em có nhiều khó khăn do bố mẹ thường xuyên đi làm ăn xa không có nhà nên không có điều kiện quan tâm đến việc học của các
em Việc diễn đạt ngôn ngữ còn nhiều hạn chế, tiếp thu kiến thức còn chậm, học sinh còn nghèo vốn từ ngữ Các em chưa chịu khó đọc thêm sách báo trong thư viện để bổ sung thêm vốn từ ngữ cho mình, chữ viết chưa cẩn thận
2.2.2 Kết quả của thực trạng trên.
Qua bài kiểm tra ở lớp của lớp 5 năm học 2015 – 2016 với đề bài: “Em hãy tả một người mà em yêu quý” Kết quả như sau:
Nội dung đánh giá Số lượng(26 em) Tỉ lệ Đúng thể loại, bố cục ba phần rõ rệt 20 76,9 %
Tả được đặc điểm nổi bật về ngoại hình, tính tình,
hoạt động; trình tự miêu tả hợp lí
Bài văn thể hiện tình cảm, cảm xúc của người viết 10 38,4 % Câu văn có hình ảnh và sử dụng các biện pháp nghệ
thuật đã học
Viết câu, dùng từ ngữ đúng ngữ pháp; chữ viết đúng
kích cỡ
Khi điều tra sự lựa chọn của học sinh về thích học một trong hai môn Toán hoặc Tiếng Việt của lớp 5A năm học 2016 – 2017 trường Tiểu học Hà Phú có kết quả như sau:
Trang 7Số học sinh
Số học sinh thích học môn Toán
Số học sinh thích học môn
Tiếng Việt
2.3 CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
2.3.1 Nghiên cứu chương trình Tập làm văn lớp 5.
Qua tìm hiểu, tôi hiểu rõ được phân môn Tập làm văn ở lớp 5 được học trong 35 tuần, mỗi tuần 2 tiết Nội dung chương trình gồm các kiểu bài sau:
* Nói, viết phục vụ cuộc sống hàng ngày (văn bản thông thường): viết báo cáo thống kê, viết đơn, thuyết trình, tranh luận, làm biên bản cuộc họp, lập chương trình hành động
* Tả cảnh
* Tả người
* Ngoài ra, chương trình còn có loại bài luyện viết lời hội thoại và những bài
ôn tập và kể chuyện đã được học ở lớp 4
Tổng số tiết trong năm học là 70 tiết trong đó 62 tiết dạy các dạng bài, còn lại 4 tuần ôn tập giữa học kì và cuối học kì
Các nội dung cụ thể:
[1]
(* Theo nội dung chương trình tập làm văn của SGK hiện hành, phần tả người gồm 15 tiết Theo điều chỉnh nội dung dạy học giáo dục tiểu học, tiết tập
làm văn “Làm biên bản một vụ việc” không dạy nên thay vào đó là tiết tập làm
văn tả người, nâng tổng số tiết phần tả người lên 16 tiết)
Chương trình Tập làm văn lớp 5 ngoài phần thực hành còn có cả phần lí thuyết Đó là lí thuyết về văn tả người, tả cảnh Trong chương trình phân môn Tập làm văn lớp 5 số tiết dành cho nội dung tả cảnh và tả người chiếm khá nhiều Các tiết Tập làm văn tả người được học từ tuần 12 đan xen các loại bài
khác đến tuần 21
Trang 8Từ việc nghiên cứu, nắm vững chương trình, giáo viên nghiên cứu kĩ bài trước khi lên lớp Đồng thời, tìm hiểu, bổ sung thêm kiến thức, phương pháp phục vụ dạy môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Tập làm văn nói riêng
2.3.2 Hướng dẫn học sinh cách làm bài, rèn các kĩ năng khi làm văn
Đây chính là việc hiện thực hoá các giai đoạn của cấu trúc hoạt động lời nói đã trình bày ở phần cơ sở lí luận, mỗi giai đoạn được ứng với mỗi kĩ năng
cụ thể sau:
2.3.2.1 Tìm hiểu, phân tích đề bài.
Đây là khâu rất quan trọng đối với giáo viên và học sinh Bởi vì, nếu xác định đúng, các em sẽ biết được mục đích của bài viết là gì, sẽ không bị “lạc đề” hay nói cách khác là xác định đúng con đường mình sẽ đi
Khi tìm hiểu, phân tích đề, tôi thường tiến hành qua các bước:
- Học sinh đọc kĩ đề bài
- Phân tích đề bài bằng cách đặt câu hỏi (Bài văn thuộc thể loại gì? Nội dung bài văn là gì? Trọng tâm bài là gì?)
Giáo viên cần cho học sinh hiểu được: Tả người là ghi lại những đặc điểm riêng về hình dáng, hoạt động và tính tình của một người mà em đã nhìn thấy Tuy nhiên trọng tâm tả của tuỳ thuộc vào yêu cầu của đề bài, chẳng hạn như: “ Tả một em bé đang tuổi tập nói, tập đi” thì trọng tâm tả ở đây là hoạt động của em bé…Xác định đúng là cơ sở ban đầu giúp các em hoàn thành tốt bài văn của mình
2.3.2.2 Quan sát và chọn lọc chi tiết.
Muốn quan sát có hiệu quả, giáo viên giúp học sinh biết đặt ra mục đích quan sát, có cách cảm nhận riêng của mình Đồng thời, quan sát phải có lựa chọn, quan sát phải gắn với tìm ý và tìm từ ngữ diễn tả Chính vì thế, với mỗi đề bài, tôi đã đưa ra một hệ thống câu hỏi gợi ý các nội dung quan sát và các ý cần xác lập Để làm tốt dạng văn tả người, tôi đã giúp học sinh biết:
- Xác định rõ người sẽ tả là ai
- Quan sát kĩ người sẽ tả để tìm ra những nét riêng biệt của người đó Mỗi lứa tuổi, con người có những đặc điểm về hình dáng và tính tình khác nhau (người già thì tóc bạc, da nhăn; người trẻ thì mái tóc mượt mà, làn da căng tràn sức sống, ) Mỗi người một hoàn cảnh sống, một trình độ văn hoá khác nhau Tất cả những thứ ấy đều có ảnh hưởng đến sinh hoạt toàn diện của họ
- Lựa chọn những từ ngữ thích hợp (nhất là các động từ, tính từ ) để vừa nêu được những nét riêng biệt, nổi bật nhất của người được tả, vừa bộc lộ được thái độ, tình cảm của mình đối với người đó
Ngay từ những tiết đầu tiên học về văn tả người trong các tiết Quan sát
và chọn lọc chi tiết tôi đã hướng dẫn học sinh tìm hiểu những đoạn văn mẫu rất
hay về tả hình dáng, hoạt động của Hạng A Cháng, chị Chấm để tìm những từ ngữ mà tác giả dùng trong đoạn văn Tôi yêu cầu các em quan sát bằng nhiều giác quan: quan sát bằng mắt (tìm ra được những đặc điểm riêng biệt về ngoại hình, hoạt động, tính cách của người ấy); quan sát bằng tai (nhận ra âm thanh
Trang 9của giọng nói), vận dụng vốn sống của bản thân để diễn tả Nhờ cách quan sát này mà các em ghi nhận được nhiều ý làm cho bài văn đa dạng, phong phú
Để giúp các em học sinh còn gặp khó khăn quan sát đúng trọng tâm, tìm được những chi tiết về hình dáng, hoạt động cụ thể tôi dùng các câu hỏi gợi ý hướng dẫn Bên cạnh việc chuẩn bị, dự kiến các câu hỏi hướng dẫn học sinh cách quan sát thì khâu chuẩn bị đồ dùng dạy học tranh ảnh sẵn có (như ảnh chụp của gia đình) hoặc hình ảnh bằng giáo án điện tử …không thể thiếu trong tiết hướng dẫn học sinh quan sát mà còn gây hứng thú quan sát cho các em Ngoài những hình ảnh trong sách giáo khoa tôi còn sưu tầm thêm nhiều ảnh về hình dáng, hoạt động của nhiều người thuộc các lứa tuổi khác nhau như ông, bà; bố,
mẹ, cô giáo, thầy giáo; bạn cùng lứa tuổi; các em nhỏ đang tập đi để các em so sánh sự khác biệt về hình dáng, hoạt động của một người cụ thể theo lứa tuổi Cuối cùng giáo viên và học sinh chốt lại bảng so sánh để các em phân biệt được một số đặc điểm khác nhau về hình dáng người ở các độ tuổi khác nhau để dùng từ ngữ miêu tả đúng:
Ông, bà Bố, mẹ, Bạn cùng tuổi Em nhỏ
Từ ngữ
miêu tả
dáng
người
lưng đã còng
(hơi còng),
dong dỏng,…
- bố, thầy giáo:
người đậm, tầm thước, hơi gầy…
-mẹ, cô: thon thả, dong dỏng, …
Nhỏ nhắn, thanh mảnh, dong dỏng cao,
Lũn chũn, mập mạp,
Từ
ngữ
miêu tả
mái tóc
điểm bạc, bạc
phơ, trắng như
cước, điểm
hoa râm,…
- mẹ, cô: đen, dày, óng mượt, óng ả
đen, mượt, đen nhánh, óng ả, cắt ngắn gọn gàng,
Lơ thơ, thưa, đen óng, mượt mà,…
Từ ngữ
miêu tả
làn da
nhăn nheo,
điểm đồi mồi,
…
da sạm đen, da bánh mật, rám nắng,…
Bánh mật, ngăm ngăm,
…
Trắng hồng, nõn
nà, trắng như trứng gà bóc,…
Từ ngữ
miêu tả
khuôn
mặt
Khuôn mặt
phúc hậu, hiền
từ,…
- mẹ, cô: thanh
tú, trái xoan…
- bố, thầy giáo:
vuông chữ điền, vuông vức,…
Thanh tú, bầu bĩnh, …
Bánh đúc, đầy đặn,…
Từ ngữ
miêu
mắt
Trầm tư, mờ
đục, trầm
lặng,…
Hiền hậu, dịu dàng, trầm tĩnh
Linh lợi, lanh lợi, sáng long lanh, mơ màng
Đen láy, bồ câu, một mí, …
[1]
2.3.2.3 Lập dàn ý chi tiết.
Sau khi hướng dẫn học sinh nắm chắc yêu cầu đề bài, quan sát và chọn lọc chi tiết, tôi lưu ý các em không được vội vàng viết ngay bài làm, vì như thế ý tưởng sẽ lộn xộn, khó sắp xếp Cần lập một dàn ý chi tiết gồm ba phần: mở bài, thân bài, kết bài Trong dàn ý đó, ta cần sắp xếp các ý cho có thứ tự, điều gì
Trang 10đáng nói trước, điều gì nên để sau Tránh những ý nhắc đi nhắc lại Phần mở bài
có những ý gì? thân bài có mấy đoạn? đoạn nào trọng tâm? (Trong những ý lớn
có những ý nhỏ nào?) Phần kết bài nên có những ý gì? Ghi nhanh xong dàn bài, đọc lại để sửa hoặc thêm những ý cần thiết, bỏ những ý thừa
Trước hết tôi hướng dẫn các em nắm vững dàn ý chung cho bài văn tả người được học ở bài “Cấu tạo của bài văn tả người” (tuần 12) Đây là một trong những tiết có nội dung lí thuyết trong chương trình tập làm văn lớp 5 Tôi đã sử dụng các câu hỏi để dẫn dắt, gợi mở để học sinh phát hiện ra các tri thức cần phải ghi nhớ Học sinh không phải học thuộc lòng mà ghi nhớ trên cơ sở những hiểu biết chắc chắn để vận dụng làm các bài tập cụ thể
Học sinh nắm được cấu tạo chung của bài văn tả người:
*Mở bài:
Giới thiệu người sẽ tả: Em được gặp người ấy ở đâu/ Trong thời gian nào? Cảm xúc ban đầu của em về người đó như thế nào?
*Thân bài:
- Tả hình dáng:
+Tả bao quát về tuổi tác (già hay trẻ), tầm vóc (cao lớn hay nhỏ nhắn), dáng điệu (duyên dáng, nhanh nhẹn hay chậm chạp), nghề nghiệp (bác sĩ, công nhân, ), cách ăn mặc,
+Tả chi tiết: Những nét nổi bật nhất (khuôn mặt, mái tóc, đôi mắt, cái miệng, làn da, chân tay, )
- Tả tính tình- hoạt động:
+Tính tình của người đó như thế nào? (chất phác, vui nhộn hay dễ cáu gắt, ) Giọng nói ra sao? (nhẹ nhàng hay sang sảng), cử chỉ, điệu bộ, Cách cư
xử với người khác (ân cần, chu đáo, ), việc làm bộc lộ rõ rệt đạo đức, tình cảm
và tính nết của người được tả
+Hoạt động: Tả các việc làm cụ thể: người ấy đang làm gì? Cách làm như thế nào?
*Kết bài:
Cảm nghĩ cuối cùng của em về người đó (ấn tượng sâu sắc, ảnh hưởng của người đó đối với bản thân ) [6]
Từ dàn ý chung đó, học sinh sẽ vận dụng làm cho từng đề bài cụ thể Để làm tốt điều này, tôi hướng dẫn cho các em các bước lập dàn ý cho một bài văn:
Bước 1: Chuẩn bị một tờ giấy nháp trắng để nhập toàn bộ nội dung của dàn ý
trên cùng một mặt giấy để tiện theo dõi (không nên ghi dàn ý vào hai mặt của tờ giấy vì như thế sẽ khó quan sát được toàn bộ các ý chính cần có của bài văn)
Bước2: Ghi sẵn 3 phần lớn của bài văn: 1.Mở bài / 2 Thân bài/ 3 Kết bài (Viết
phần một xong để cách khoảng hai, ba dòng rồi mới ghi phần 2; phần 3 ghi xuống cuối tờ nháp, chỉ cần hai, ba dòng là đủ Các khoảng trắng để ta nhập các
ý cần phải có ở mỗi phần vào
Bước 3: Nhớ lại đặc điểm dàn ý chung của thể loại, dựa vào ý chính của đề để
lập một dàn bài chi tiết cho bài văn mình chuẩn bị viết [6]