1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 làm tốt bài văn tả người

23 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do chọn chọn sáng kiến kinh nghiệm: Tập làm văn là phân môn rất quan trọng trong chương trình dạy học Tiểu học, nó không chỉ giúp cho học sinh hình thành các kĩ năng: Nghe , nói, đọc

Trang 1

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến 032.3 Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 04Biện pháp 1: Dạy Tập làm văn qua các môn học khác 04Biện pháp 2: Rèn kĩ năng sử dụng văn tham khảo trong dạy học tập làm văn 13

Biện pháp 4: Rèn luyện thao tác kĩ năng làm một bài văn 17

1 MỞ ĐẦU:

1.1 Lí do chọn chọn sáng kiến kinh nghiệm:

Tập làm văn là phân môn rất quan trọng trong chương trình dạy học Tiểu học,

nó không chỉ giúp cho học sinh hình thành các kĩ năng: Nghe , nói, đọc, viết mà

Trang 2

còn rèn cho học sinh khả năng giao tiếp, quan sát, phân tích tổng hợp và đặc biệtcòn hình thành cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp của con người mới hiệnđại và năng động Dạy Tập làm văn là dạy học sinh cách nhìn nhận cuộc sốngxung quanh trong thực tế vốn có của nó với cảm xúc thực của các em Đồng thờicũng dạy các em cách ghi lại sự nhìn nhận ấy qua các văn bản còn gọi là đoạnvăn, bài văn một cách chính xác về đối tượng, về ngữ pháp Tiếng Việt.

Tập làm văn lớp 5 gồm nhiều nội dung, một trong những nội dung chính của

chương trình tập làm văn 5 là văn miêu tả nó có hệ thống xây dựng lí thuyếtriêng cho từng thể loại như: Tả người, tả cảnh vật, tả đồ vật, tả cây cối, tả convật và ở từng thể loại đòi hỏi giáo viên phải có những cách rèn khác nhau đểđạt được những kĩ năng cần thiết Một bài văn hay, có giá trị không phải chỉ ởchỗ trình bày mạch lạc, dễ hiểu mà quan trọng hơn đó là sức truyền cảm Để viếtđược bài văn hay các em cần rèn luyện năng lực quan sát, năng lực thu thậpthông tin, năng lực tưởng tượng, năng lực phân tích tổng hợp và các khả năngbiểu đạt, bố cục, tạo phong cách Làm thế nào để cho học sinh làm văn hay và

có hiệu quả là cả một vấn đề rất khó khăn, cần phải suy nghĩ và dày công nghiêncứu của những người làm công tác giáo dục

Trong thực tế giảng dạy tập làm văn phần Tả người, bản thân người giáo viên

là người hướng dẫn đôi khi cũng cảm thấy còn lúng túng, bí từ và không biếtphải hướng dẫn thế nào để học sinh có thể viết được bài hay, có hình ảnh, cócảm xúc Một số tài liệu như sách giáo khoa, sách giáo viên, sách thiết kế thìhướng dẫn chung chung, còn một số sách khác như văn mẫu lại chỉ có các bàivăn đã viết sẵn mà không có một sự hướng dẫn nào để định hướng cho giáo viêncũng như học sinh Do vậy tôi luôn luôn trăn trở suy nghĩ làm thế nào để chohọc sinh thích làm văn, viết văn chân thật, có cảm xúc và sinh động Để nângcao chất lượng bài dạy và giúp các em rèn luyện kĩ năng sản sinh văn bản, tạođiều kiện cho học sinh tự tìm và tự thể hiện những ý kiến, suy nghĩ của mìnhmột cách độc lập, chủ động không máy móc, rập khuôn Để bạn bè và đồng

nghiệp cùng tham khảo và suy nghĩ, tôi mạnh dạn đề xuất: “Một số biện pháp

Trang 3

giúp học sinh lớp 5 làm tốt bài văn Tả người", để bạn bè đồng nghiệp cùng

tham khảo và suy nghĩ

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Một số biện pháp rèn kĩ năng làm bài văn tả người cho học sinh lớp 5B

trường Tiểu học Thiệu Dương thành phố Thanh Hóa

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp hỏi đáp

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm

- Tìm hiểu những ưu điểm và hạn chế trong quá trình dạy và học của giáo viên

Trang 4

Tập làm văn là một phân môn mang tính tổng hợp và sáng tạo cao Hệ thốngcác kiến thức, kĩ năng từ các phân Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ vàcâu, là tiền đề để giúp học sinh viết được một bài Tập làm văn hiệu quả.

Theo quan điểm tích hợp, các phân môn được tập hợp lại xung quanh trục chủđiểm và các bài đọc Nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng gắn bóchặt chẽ với nhau Như vậy, muốn dạy- học có hiệu quả Tập làm văn miêu tả (tảcảnh, tả người) nhất thiết người giáo viên phải dạy tốt Tập đọc, Kể chuyện,Chính tả, Luyện từ và câu.Vì trong các bài đọc, trong câu chuyện, trong các bàitập luyện từ- câu thường xuất hiện các đoạn văn, khổ thơ có nội dung miêu tả rất

rõ về cảnh vật, thiên nhiên, con người,

Bài Tập làm văn nếu không sáng tạo sẽ trở thành một bài văn khô cứng, gópnhặt của người khác, nội dung bài văn sẽ không hồn nhiên, trong sáng, mới mẻnhư tâm hồn của các tác giả nhỏ tuổi

Chất lượng Tập làm văn là chất lượng của cảm thụ văn học, của các kĩ năngnghe, nói, đọc, viết tiếng mẹ đẻ Cho nên, thầy và trò phải soạn giảng và học tậptích cực, nghiêm túc, hiệu quả, mới mong nâng cao một cách bền vững chấtlượng môn Tiếng Việt ở lớp cuối cấp Tiểu học

Dạy Tập làm văn lớp 5 phải đảm bảo mục tiêu yêu cầu cần đạt về kiến thức,

kĩ năng của Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học theo Chuẩn kiếnthức, kĩ năng của từng môn học và phù hợp trình độ của từng học sinh trong lớp Tôi tin rằng nội dung này nếu được áp dụng và vận dụng hợp lý sẽ đem lạihiệu quả cao cho việc dạy phân môn Tập làm văn, góp phần nâng cao chất lượngmôn Tiếng Việt lớp 5

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến:

a Thực trạng:

Năm 2016 – 2017, tôi được phân công phụ trách lớp 5B với 32 học sinh Hầu

hết 32 học sinh của lớp 5B tôi chủ nhiệm còn rất hạn chế khi làm bài Tập làmvăn nhất là văn tả người Học sinh lớp 5 dù khá quen với văn miêu tả song bâygiờ các em mới bắt đầu thực hiện làm bài văn tả người Trong quá trình giảngdạy thực tế của học sinh lớp 5B, tôi nhận thấy hầu hết các bài văn tả người của

Trang 5

các em còn viết lan man, chưa tập trung tả những nét đặc trưng của nhân vật.Lời văn của các em còn nghèo nàn, thiếu hình ảnh, sử dụng các từ ngữ miêu tảchưa phù hợp với đặc điểm hình dáng và tính cách của nhân vật, làm cho nhânvật trở nên méo mó, thiếu tính chân thật trong bài viết của các em Phần đôngcác em viết mở bài theo kiểu trực tiếp nêu chưa hấp dẫn người đọc và phần kếtbài các em thường viết theo kiểu không mở rộng nêu chưa thể hiện hết cảm xúccủa người viết đối với nhân vật được miêu tả Giáo viên giảng dạy thường chútrọng lý thuyết coi nhẹ kỹ năng thực hành Vì vậy các em ít được khai thác

và tính sáng tạo trong bài viết Dẫn đến kết quả làm bài của các em chưacao

b Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên:

Qua thực tế khảo sát (tuần 16 năm học 2016 - 2017 với đề bài văn "tả người"

ở lớp 5B do tôi chủ nhiệm và giảng dạy Kết quả đạt mức như sau:

32 em Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ

Để khắc phục thực trạng trên, đòi hỏi cá nhân giáo viên và học sinh đềuphải nỗ lực và kì công, phải nắm chắc được các phương pháp viết của từng bàidạy Từ kinh nghiệm dạy học của mình, tôi xin đưa ra một số biện pháp để giảiquyết các vấn đề được nêu ở trên để học sinh làm tốt bài văn tả người như sau:

2.3 Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

Biện pháp 1: Dạy Tập làm văn qua các phân môn khác.

Tập làm văn mang tính tích hợp cao Nó góp phần quan trọng trong việc thực

hiện mục đích của môn Tiếng việt, phản ánh kết quả giảng dạy và học tập củacác phân môn khác và được xây dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu của nhiềumôn học Tập làm văn có tính chất tổng hợp, có quan hệ chặt chẽ với việc dạyhọc Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu và cả Chính tả Đây là nơi tiếp nhận

và đây cũng là nơi luyện tập ngày càng nhuần nhuyễn các kĩ năng và kiến thứccủa các phân môn trên Bài Tập làm văn trở thành sản phẩm tổng hợp, là nơi

Trang 6

trình bày kết quả đích thực nhất của việc học Tập làm văn Do vậy khi dạy cácphân môn của Tiếng việt, giáo viên cần khơi dạy Tập làm văn cho học sinh.

a Dạy Tập làm văn qua phân môn Luyện từ và câu:

Nếu ở giờ tập đọc, giáo viên đưa ra các ngữ liệu để dạy cho học sinh thấyđược cái hay, cái đẹp trong cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp tu từ

và bước đầu vận dụng nó thì ở tiết luyện từ và câu, giáo viên giúp các em hiểubiết thêm về sự phong phú của từ vựng trong cách tạo từ các lớp theo trật tựhoặc trong mối quan hệ về âm, về ngữ nghĩa Từ đó các em được củng cố nhữnghiểu biết trong cách dùng từ có chọn lọc vừa đảm bảo tính chính xác, vừa có tácdụng biểu cảm nhằm giúp các em có nhiều vốn từ để vận dụng trong khi làm bàivăn Tả người như sau:

a.1 Loại bài tập tìm từ theo chủ đề, đề tài

Dạng 1: Yêu cầu học sinh tìm từ theo chủ đề mở rộng vốn từ:

- Các từ ngữ trong chương trình được sắp xếp theo chủ đề Khi dạy các bài này,giáo viên giúp học sinh hệ thống lại các từ ngữ đó và có thể tăng cường mởrộng thêm

Ví dụ: Các em đã được học bài mở rộng vốn từ : Nhân hậu – Đoàn kết Tuần 3,

lớp 4, do vậy khi dạy bài Tổng kết vốn từ: Bài 1/Tiết 31/ Tuần 16, tôi đưa ra bàitập:

Tìm những từ nói lên lòng nhân hậu và đoàn kết của con người?

( yêu quý, hòa thuận, đầm ấm, gắn bó, thương yêu, đùm bọc, che chở, )

- Hay trong tiết luyện của tuần này tôi đưa thêm cho các em bài tập:

Tìm các từ miêu tả tính tình vui vẻ của một người?

( Vui vẻ,vui sướng, vui thích, vui tính, vui tươi, vui nhộn )

Từ đó, tôi đã giúp các em có vốn từ ngữ về miêu tả đặc điểm tính cách

của người, giúp các em vận dụng vào viết văn Các em dễ dàng viết được như sau:

Bạn Phương là một người vui vẻ, sống chan hòa với mọi người Phương sẵn

Trang 7

sàng giúp đỡ bạn bè lúc khó khăn Ở nhà, đối với ông bà, cha mẹ Phương làngười cháu rất hiếu thảo, đối với em Phương là người chị dịu dàng, luôn nhườngnhịn các em.

Dạng 2: Yêu cầu học sinh mở rộng vốn từ dựa trên kiến thức từ loại.

Khi dạy về từ loại, đối với các bài tập: Danh từ - Động từ - Tính từ giáo

viên có thể đưa ra các bài tập để phục vụ trực tiếp cho bài Tập làm văn củacác em

Ví dụ:

* Tìm những từ chỉ hoạt động:

- Hoạt động của thầy cô giáo: giảng bài, soạn bài, hướng dẫn, dạy bảo,

- Hoạt động học tập của học sinh: học bài, viết bài, đọc bài, nghe giảng,

- Hoạt động nấu ăn của mẹ: Sửa soạn, cặm cụi, tất bật xào, nấu,

* Tìm những từ chỉ hoạt động về:

- Tính tình của một bạn học sinh ngoan: ngoan ngoãn, dịu dàng thân thiện,

- Hình dáng của một em bé: hồn nhiên, ngây thơ, nhí nhảnh, mũm mĩm,

Ngoài các yêu cầu tìm danh từ, động từ, tính từ giáo viên cũng cần chú ý dạy

học sinh bài tập thay thế các danh từ bằng các đại từ chỉ ngôi thích hợp để câuvăn không bị lặp từ Việc dạy học sinh xác định cách dùng từ đúng với từ loại,tiểu loại của chúng bằng cách xây dựng các bài tập dựa trên ngữ liệu là các lỗidùng từ sai của học sinh và để học sinh tự sửa, giúp các em rút ra được cáchdùng từ thế nào cho đúng

Ví dụ: Sửa đoạn văn sau bằng cách dùng đại từ thay thế.

Bàn tay mềm mại của cô giáo viết ra những dòng chữ thật đều và đẹp Viết

xong, cô giáo ngắm nhìn bài viết của mình rồi ngắm nhìn chúng em mỉm cười

Cô giáo như muốn khuyến khích chúng em hãy viết đẹp giống như mình

- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc lại đoạn văn nhiều lần

- Tìm các từ bị lặp lại trong đoạn văn: cô giáo, chúng em.

- Hãy tìm các đại từ chỉ người hoặc các từ đồng nghĩa với các từ đó để thay thế

*Học sinh đã tìm và sửa lại như sau:

Trang 8

Dạng 3: Yêu cầu học sinh mở rộng vốn từ dựa trên kiến thức cấu tạo từ.

Ví dụ: Khi dạy bài tiết luyện tập làm bài văn Tả người tuần 17, tôi đưa loại bài

tập dựa trên kiến thức từ loại mà các em đã học ở lớp 4 Cụ thể là các bài tậpsau:

1)Tìm những tiếng ghép với tiếng hiền để tạo thành từ ghép chỉ tính nết của

người? (hiền lành, hiền hậu, hiền từ, hiền thục )

2)Tìm những từ chứa tiếng"xinh” để tả hình dáng của người?

(xinh xinh, xinh xắn, nhỏ xinh )

3) Tìm nghững từ ghép, từ láy chỉ các hoạt động của người?

(nhanh nhẹn, hoạt bát, cần mẫn, chăm chỉ, thức khuya, dậy sớm, xốc vác )

a.2 Loại bài tập củng cố Kiểm tra về nghĩa của từ.

Khi được luyện tập trên những bài này, học sinh nắm chắc được nghĩa của

từ và hiểu rằng trong nhiều trường hợp, để diễn đạt một điều gì đó thì khôngphải chỉ có duy nhất một từ mà còn bao nhiêu từ khác gần nghĩa, đồng nghĩa

có thể thay thế cho nó Từ đó mà bài văn của các em có cách diễn đạt phongphú hơn

Bài 1 Cho các từ sau:

Cao lớn, trung thực, lười nhác, giả dối, nhỏ bé, chăm chỉ, sần sùi, trắng trẻo,

mịn màng, lực lưỡng, mảnh khảnh, đen đủi, mập mạp, còm nhom, gian giảo, nhút nhát, bạo dạn, chất phác, nhu nhược, hèn yếu, anh dũng, siêng năng,

- Hãy chia các từ trên thành hai nhóm và đặt tên cho mỗi nhóm

- Tìm những cặp từ trái nghĩa trong cùng nhóm

Ở bài tập này giúp học sinh có khả năng lựa chọn một từ trong nhóm từ

cùng nghĩa - gần nghĩa - trái nghĩa để diễn đạt chính xác nội dung của một

Trang 9

câu văn, đoạn văn mà mình định viết Ngoài ra, loại bài tập này không chỉgiúp các em diễn đạt một cách tinh tế nội dung tư tưởng của mình mà còn

cung cấp thêm vốn từ tránh những trường hợp sử dụng từ nhầm lẫn (về

nghĩa và sắc thái biểu cảm).

Bài 2 : Hãy gạch chân dưới những từ dùng chưa phù hợp rồi sửa lại cho đúng

- Cô giáo em có nước da đen sì Giọng nói của cô oang oang

- Hùng chạy đuổi nhau trên sân trường thở hồng hộc

- Bạn Hiếu là người có tấm lòng bác ái

- Bố mẹ em rất được ông bà trọng vọng

Với dạng bài tập này, tôi đã tiến hành làm như sau:

a Phát hiện từ dùng sai.

b Sửa lại cho đúng.

Để giải quyết yêu cầu 1, tôi dẫn dắt để học sinh thấy được đối tượng miêu tả

là ai, thái độ của người viết đối với người định tả thế nào, từ dùng ở hoàn cảnh

đó đúng chưa?

Dựa vào định hướng của cô, học sinh đã xác định được những từ dùng chưa

phù hợp như sau:

- Cô giáo em có nước da đen sì Giọng nói của cô oang oang

- Hùng chạy đuổi nhau trên sân trường thở hồng hộc

- Bạn Hiếu là người có tấm lòng bác ái

- Bố mẹ em rất được ông bà trọng vọng

Để giải quyết yêu cầu 2, giáo viên cần giúp học sinh nhận ra được các từ gạch

chân ở trên dùng chưa thích hợp với đối tượng và văn cảnh tả

- Đối tượng được tả trong câu văn trên là ai ? (Cô giáo, bạn bè, người thân)

- Họ có mối quan hệ với em ra sao? (là thầy cô dạy mình, là bạn bè, là ngườithân, )

- Khi muốn nói về người tốt hoặc người thân, bạn bè, nói về tình cảm của bềtrên với bề dưới mà chúng ta dùng các từ gạch chân như văn cảnh trên đã thể

hiện được sự kính trọng hay tôn trọng chưa? (chưa được).

Trang 10

- Vậy ta phải thay thế chúng như thế nào ? (Tìm các từ có cùng nghĩa, tráinghĩa, để thay thế)

Giáo viên cho học sinh thi đua tìm từ thay thế và tự sửa lại cho phù hợp văn cảnh

Nếu học sinh yếu không tìm được thì giáo viên có thể cung cấp nhóm từ cho học sinh lựa chọn như:

- Đen sì: đen nhẻm, da nâu, da bánh mật, da dám nắng,

- Oang oang: vang vang, ông ổng, thánh thót, trầm ấm, trong trẻo,

- Hồng hộc: hổn hển, phì phò,

- Bác ái: nhân hậu, nhân ái, thương người,

(Giáo viên lưu ý khi học sinh lựa chọn từ bác ái, nhân ái là: dùng từ này không

sai nhưng chỉ nên dùng khi nói về một người quan trọng, một vĩ nhân còn nói vềngười bình thường như chúng ta trong cuộc sống hằng ngày thì không nên)

- Trọng vọng: tin yêu, tin tưởng, đề cao, đánh giá cao,

Qua đó học sinh đã sửa được câu như sau:

- Cô giáo em có nước da bánh mật Giọng nói của cô trầm ấm (thánh thót).

- Hùng vừa thi chạy xong thở hổn hển.

- Bạn Hiếu có tấm lòng nhân hậu (thương người)

- Bố mẹ em rất được ông bà tin tưởng (tin yêu).

Vậy bài tập này nhằm giúp học sinh nhận biết được lỗi dùng từ sai, biết tìm từ

khác để thay thế, sửa chữa khi dùng từ chưa chính xác Ngoài ra bài tập còncung cấp và làm giàu vốn từ cho học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho các em lựachọn khi miêu tả hình dáng, tính nết của một người

a.3 Loại bài tập về từ láy:

Ví dụ: Khi dạy tiết 30 (tuần 15) Bài 3: Tìm các từ ngữ miêu tả hình dáng người

như mái tóc, đôi mắt, khuôn mặt, làn da, vóc người, Tôi còn yêu cầu các em làtìm thêm các từ láy tả hình dáng, giọng nói của người

Tôi thường yêu cầu các em như: Hãy tìm các từ láy miêu tả người ?

- Tả mái tóc: mượt mà, lơ thơ, dày dặn, xơ xác, lưa thưa, óng ả,

Trang 11

- Tả đôi mắt: lay láy, mơ màng, sâu thăm thẳm, đỏ đọc,

Đối với làn da, thân hình , dáng đi, cách làm tương tự.

Sau khi học sinh tìm xong các từ theo yêu cầu, tôi giúp các em thấy được tầm

quan trọng của những từ láy, nhất là các từ gợi hình ảnh, gợi âm thanh đều có sức gợi tả, gợi cảm cao Nếu sử dụng nó trong văn miêu tả nói chung và văn tảngười nói riêng sẽ tăng giá trị biểu đạt cho câu văn, bài văn, làm cho câu văn,bài văn giàu hình ảnh và sinh động hơn

a.4 Loại bài tập về thành ngữ, quán ngữ, tục ngữ:

Ngoài việc cung cấp, làm giàu thêm vốn từ cho các em thì giáo viên cũng cần

quan tâm đến việc dạy thành ngữ, quán ngữ và tục ngữ thông dụng nhằm giúpcho cách diễn đạt của các em trong sáng, nhuần nhuyễn và sinh động, ngôn ngữphong phú mang đậm bản sắc dân tộc Sau khi học sinh học xong bài 2 tiết 30tuần 15 tôi cho thi đố vui trong mục hoạt động tập thể của tiết sinh hoạt lớp hoặcnhững giờ luyện Tiếng Việt, tiết mở rộng vốn từ theo chủ đề nếu thấy thích hợp.Sau đó tôi cho học sinh liên hệ sử dụng một số thành ngữ, tục ngữ, quán ngữtrong văn miêu tả, giúp các em nhận biết là sử dụng trong trường hợp nào để tảngười Làm cho bài văn có ngôn từ đa dạng, xúc tích, phong phú hơn

Dạy Tập làm văn qua đơn vị câu, dấu câu:

Một thực trạng khá phổ biến ở các bài văn của học sinh hiện nay là học sinh

thường viết những câu " què”, câu " cụt” và bài viết không có dấu ngắt câu Cókhi trong cả bài viết các em chỉ ngắt câu để phân biệt ba phần: Mở bài, thân bài,kết bài Vì vậy, trước hết giờ học về câu cần rèn cho học sinh kĩ năng viết câuđúng Có thể thực hiện điều này qua việc cho các em làm các bài tập thực hành

về câu, sửa các viết sai câu và dùng sai dấu trong tiết Trả bài Tập làm văn Một

số bài học sinh viết như sau:

Bài 1: "Mẹ em đẹp lắm mẹ có dáng người nhỏ nhắn nước da trắng hồng đôi bàn

tay dịu dàng của mẹ làm không biết bao nhiêu là việc cho em và gia đình mẹ đẹpngười và cũng đẹp cả nết ”

Bài này học sinh chỉ sai là không chấm câu còn ý và nội dung thì đảm bảo.

Vậy tôi yêu cầu học sinh đọc và xác định:

Ngày đăng: 17/10/2019, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w