1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 4 thông qua phân môn luyện từ và câu

23 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Dạy Luyện từ và câu ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành và pháttriển cho học sinh một vốn từ phong phú, chính xác theo hướng tích cực hoá.Làm thế nào để hình thành ở học sinh một

Trang 1

1 Mở đầu.

1.1 Lý do chọn đề tài:

- Trong các môn học ở cấp Tiểu học hiện nay, cùng với môn Toán, TiếngViệt là một môn học có vị trí rất quan trọng Nó góp phần đặc biệt vào nhiệm vụhình thành và phát triển nhân cách cho học sinh Trong đó, phân môn Luyện từ

và câu của Tiếng Việt có vai trò đặc biệt quan trọng Bởi nó cung cấp cho họcsinh Tiểu học một vốn từ nhất định, không có vốn từ đầy đủ thì học sinh khôngthể nắm ngôn ngữ như là một phương tiện giao tiếp Việc học từ, hiểu nghĩa từ,

có vốn từ phong phú ở giai đoạn đầu sẽ giúp các em nắm được tiếng “mẹ đẻ”,tạo điều kiện để các em học tốt tất cả các môn học của cấp học, của các cấp tiếptheo và giúp các em phát triển toàn diện

- Dạy Luyện từ và câu ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành và pháttriển cho học sinh một vốn từ phong phú, chính xác theo hướng tích cực hoá.Làm thế nào để hình thành ở học sinh một sự chú ý thường xuyên đến nghĩa của

từ, hiểu nghĩa những từ mới, chính xác hoá nghĩa của những từ đã biết, hiểunhững sắc thái nghĩa khác nhau của từ trong từng văn cảnh Từ đó xây dựngđược một kho từ ngữ phong phú, luôn thường trực và có hệ thống trong trí nhớcủa các em để tạo điều kiện đi vào hoạt động ngôn ngữ được thuận lợi Bên cạnh

đó, môn học còn rèn cho học sinh kỹ năng sử dụng từ trong học tập và tronggiao tiếp, kỹ năng đưa từ vào trong vốn từ các em dùng thường xuyên đồng thờibiết loại ra khỏi vốn từ tích cực đó những từ ngữ không văn hoá Đây chính lànhiệm vụ chủ yếu của việc dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học Tóm lại, nhiệm vụcủa việc rèn Luyện từ và câu ở Tiểu học nói chung là thông qua các hoạt độngthực hành giúp học sinh hệ thống lại những kiến thức về từ và câu mà các em đãtích luỹ trong vốn sống của mình, dần dần hình thành quy tắc dùng từ, đặt câu vàtạo lập văn bản trong giao tiếp Từ đó giúp học sinh nói và viết theo đúng chuẩnmực, phù hợp với mục đích và môi trường giao tiếp, đồng thời góp phần rènluyện tư duy và giáo dục thẩm mĩ cho học sinh

- Mặc dù nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu quan trọng như vậysong việc dạy học hiện nay còn nhiều hạn chế, học sinh chưa có những kiếnthức, kĩ năng đáp ứng yêu cầu đặt ra; vốn từ của các em còn hạn chế, hiểu nghĩa

từ và việc sử dụng từ ngữ còn gặp nhiều khó khăn, kĩ năng dùng từ đặt câu đểdiễn đạt thành câu, trọn ý, thành đoạn, thành bài chưa được mạch lạc, rõ ràng;

đoạn văn, bài văn viết còn rời rạc, thiếu cảm xúc Tình trạng bí từ, đặt câu, xây

dựng đoạn văn, bài văn chưa đạt yêu cầu ở học sinh còn nhiều.

- Ngoài ra, việc nắm bắt, thông hiểu và vận dụng các vấn đề liên quan đếnđổi mới nội dung và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học của một sốgiáo viên cũng chưa thật sâu sắc Từ các vấn đề nêu trên đã dẫn đến thực trạng làtrong những năm học vừa qua, hiệu quả giảng dạy phân môn Luyện từ và câuchưa đạt được theo yêu cầu đặt ra

- Chính vì vậy, đầu năm học 2017 - 2018, tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 4” để làm đề tài nghiên cứu của

mình Đến năm học 2018 - 2019, tôi tiến hành áp dụng những biện pháp đã tìmtòi nghiên cứu vào quá trình giảng dạy của mình Cụ thể là áp dụng vào việcgiảng dạy lớp 4B - Trường Tiểu học Thị Trấn Ngọc Lặc với mong muốn giúp

Trang 2

học sinh yêu thích môn học hơn, có vốn từ phong phú hơn để học tập và giaotiếp tốt, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Luyện từ

và câu nói riêng, các môn học khác nói chung ở trường Tiểu học

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Giúp học sinh có những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và rèn luyện kĩnăng dùng từ, đặt câu (nói, viết), kĩ năng đọc cho học sinh Trang bị kiến thứctiếng Việt cho học sinh

- Giúp học sinh có kĩ năng phát hiện ra dạng bài khi làm bài Học sinh có

kĩ năng tích hợp được nội dung các phân môn như : Luyện từ và câu, tập đọc,chính tả, kĩ năng sống trong khi làm bài

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Các biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 4

- Học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Thị Trấn Ngọc Lặc

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

1.4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận:

- Nghiên cứu các văn kiện, các công văn, văn bản hướng dẫn giảng dạymôn Tiếng Việt, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo

1.4.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Tìm hiểu, khảo sát, thu thập các dữ liệu thực tiễn có liên quan

- Phân tích, tổng hợp, đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:

- Để giúp học sinh "giàu vốn từ", sử dụng linh hoạt vốn từ đó để nói vàviết chính xác, giàu cảm xúc là cả một quá trình (từ lớp 3 đến lớp 4, lớp 5) rènluyện kiên trì, bền bỉ Vốn từ không thể giàu được nếu học sinh chưa có hứngthú học, chưa có ý thức trau dồi ngôn ngữ nói, viết và chưa có phương pháp họctập tốt Theo đó, việc rèn kĩ năng làm giàu vốn từ vừa nhằm mục đích nâng caonăng lực giao tiếp vừa nâng cao ý thức tự rèn luyện ở mỗi học sinh

- Mặt khác, để nói năng lưu loát, diễn đạt rõ ý trọn lời, viết được bài vănhay học sinh cần phải giàu vốn từ, có kĩ năng sử dụng vốn từ sẵn có một cáchthành thạo Sau đó cần có sự chọn lựa từ ngữ một cách sáng tạo, linh hoạt; kếthợp với kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, các biện pháp tu từ để sản sinh ra những vănbản nói và văn bản viết chính xác, đúng nội dung, giàu cảm xúc và thấm đượmtâm hồn tuổi thơ của các em Nhờ có kĩ năng sử dụng, chọn lựa từ trong vốn từ

có sẵn một cách linh hoạt, sáng tạo mà trong văn học, chúng ta gặp một số đoạnvăn của các nhà văn khiến cho tâm hồn ta rung động mãi Chẳng hạn: Tác giả

Vũ Tú Nam đã viết:

"Mặt biển sáng trong như một tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch"

- Trong tác phẩm trên, ta bắt gặp cách dùng từ một cách rất riêng, rất

"thần kì" như vậy Bởi với riêng từ sáng trong, tác giả Vũ Tú Nam đã gợi lên

trước mắt người đọc một mặt biển trong suốt, sáng như gương, tuyệt đẹp!

- Do vậy, làm giàu vốn từ cho các em học sinh là chúng ta đã làm giàu sựnhận thức, mở rộng tầm mắt cho các em, giúp các em thấy vẻ đẹp của TiếngViệt, vẻ đẹp của quê hương đất nước, của con người Việt Nam Từ đó giúp tâmhồn của các em thêm phong phú và phát triển toàn diện

Trang 3

- Nhưng đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học vẫn còn thích chơi hơnthích học, các em học nhanh nhớ song cũng chóng quên Đặc biệt, khi áp đặthoặc bắt buộc các em phải hiểu nghĩa từ, giải nghĩa từ một cách khô khan, cứngnhắc thì các em dễ nhàm chán, dẫn đến không thích học, chán ghét môn học Vìvậy, giáo viên cần tìm tòi, học hỏi để có phương pháp và hình thức tổ chức dạyhọc thích hợp giúp các em học tập một cách tích cực, sáng tạo và chủ độngnhằm đạt kết quả tốt nhất trong mỗi giờ dạy Từ đó, các em yêu thích môn học,

có hứng thú khi học và có ý thức tự làm giàu vốn từ của mình trong môi trườnghọc tập cũng như trong cuộc sống hằng ngày

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.2.1 Thực trạng giáo viên và học sinh của nhà trường về làm giàu vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4

- Qua việc tìm hiểu chương trình, nội dung phân môn Luyện từ và câutrong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, thông qua học hỏi và kiểm nghiệm khi dựgiờ đồng nghiệp, qua các tài liệu tham khảo có liên quan đồng thời thông quathực trạng học tập, tiếp thu môn học ở học sinh khối lớp 4, tôi rút ra một số nhậnxét chung như sau:

a Về giáo viên:

- Các đồng chí giáo viên đều xác định được mục tiêu chính của từng bàiLuyện từ và câu, đó là phát triển vốn từ cho học sinh Tuy nhiên trong các giờ dạy Luyện từ và câu vẫn còn những hạn chế nhất định, cụ thể :

- Việc dạy nghĩa từ chỉ thực hiện cho đủ bước, hình thức giúp học sinhhiểu nghĩa từ chưa phong phú, chủ yếu là giải nghĩa bằng cách định nghĩa từ,chưa phát huy hết tác dụng của đồ dùng trực quan

- Bên cạnh đó, việc giải nghĩa từ của một số giáo viên còn lúng túng, chưa

rõ nghĩa từ dẫn đến học sinh hiểu nghĩa từ còn mơ hồ, thiếu sự chính xác

- Một số giáo viên coi việc làm giàu vốn từ cho học sinh là nhiệm vụ củaphân môn Luyện từ và câu nên chưa thực sự chú ý đến việc kết hợp giải nghĩa từ

và làm giàu vốn từ cho các em ở môn học khác Vì vậy dẫn đến thực trạng ở họcsinh như mục sau đây

b Về học sinh:

- Học sinh chỉ biết vận dụng các từ ngữ được học để làm các bài tập trongsách giáo khoa Việc hiểu nghĩa từ chưa cặn kẽ dẫn đến tình trạng học sinh vậndụng không chính xác vốn từ đã có trong khi nói và viết, nhiều em đưa cả những

từ không thích hợp, thiếu chính xác, thậm chí các em đưa cả những từ ngữkhông văn hoá vào bài viết trong phân môn tập làm văn của mình, vào cả lời nóikhi phát biểu trên lớp

- Việc huy động vốn từ thiếu linh hoạt dẫn đến bài viết của các em quá sơsài, câu văn ngắn, thiếu hình ảnh, lời giải bài toán thiếu chính xác, phát biểu ýkiến chưa diễn đạt hết nội dung mà các em muốn nói Do đó tình trạng bí từ vẫncòn khá phổ biến ở phần nhiều học sinh

c Nguyên nhân của thực trạng trên:

- GV chưa thực sự chú ý đến tầm quan trọng của phân môn Luyện từ vàcâu Coi việc làm giàu vốn từ cho học sinh là nhiệm vụ của các cấp học cao hơn

Trang 4

- Một số giáo viên còn chưa chịu khó trau dồi ngôn ngữ, sử dụng vốn từchưa thật linh hoạt khi giảng dạy, đặc biệt là khi dạy nghĩa từ cho học sinh.

- Hình thức dạy nghĩa từ còn đơn điệu, nặng về giảng giải khô khan màquên đi rằng có nhiều hình thức để các em hiểu nghĩa từ mà không nhất thiếtphải định nghĩa từ đó

- Việc đổi mới phương pháp trong dạy học nói chung và dạy Luyện từ vàcâu nói riêng đã được các giáo viên ở trường Tiểu học thực hiện tương đối tốt.Song đổi mới như thế nào cho có hiệu quả, hình thức tổ chức như thế nào để đạtmục tiêu bài học thì vẫn chưa thể hiện rõ nét và đồng bộ Một số ít giáo viên còn

sa vào giảng nhiều mà dạy - hướng dẫn các em tự chiếm lĩnh tri thức thì còn hạnchế

- Tài liệu tham khảo và đồ dùng dạy học cần thiết cho việc dạy Luyện từ

và câu còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế

- Trình độ học sinh trong một lớp không đồng đều (có học sinh tiếp thunhanh, có học sinh tiếp thu chậm) Mặt khác các em còn nhỏ tuổi, vốn sống còn

ít

- Vốn từ của các em nghèo nàn, do môi trường giao tiếp hạn hẹp, chủ yếugiao tiếp với bạn bè và thầy cô ở trên lớp; về nhà, người lớn trong gia đình bậnbịu công việc, ít có thời gian giao tiếp, tâm sự với con cái Bố mẹ chưa thực sựquan tâm đến việc học tập nói gì đến việc uốn nắn các em cách dùng từ tronggiao tiếp hằng ngày

2.2.2 Đặc điểm tình hình lớp 4B năm học 2018 - 2019:

- Năm học 2018 - 2019, tôi được nhà trường phân công dạy lớp 4B,trường Tiểu học Thị Trấn Lớp gồm 35 học sinh, trong đó: 18 nữ và 17 nam dân tộc: 11, nữ dân tộc: 5, học sinh hộ nghèo: 3, cận nghèo: 01

2.2 3 Những thuận lợi và khó khăn lớp 4B năm học 2018 - 2019:

- Trong quá trình giảng dạy các môn học nói chung và phân môn Luyện từ

và câu nói riêng, tôi đã gặp những thuận lợi và khó khăn như sau:

a) Thuận lợi:

- Đời sống của nhân dân trên địa bàn Thị Trấn ngày một nâng cao, phongtrào xã hội hoá giáo dục được thực hiện có hiệu quả rõ rệt Vì vậy, các gia đình

đã quan tâm, chú trọng đến việc học hành của con em mình

- Nhà trường đã bố trí đủ phòng học (mượn thêm phòng học của trườngTrung học Cơ sở Thị Trấn) để học sinh học 2 buổi / ngày với bàn ghế đủ sốlượng và đạt chuẩn theo qui định Nhà trường luôn tạo điều kiện tốt nhất chogiáo viên sử dụng giáo án điện tử, nâng cao chất lượng giờ dạy Nề nếp dạy vàhọc được thực hiện nghiêm túc, trình độ giáo viên ngày càng được nâng cao.Ban giám hiệu thực sự quan tâm, tạo mọi điều kiện cho các giáo viên đem hếtkhả năng của mình để nâng cao chất lượng dạy và học Đặc biệt, các giáo viêntrong khối tổ thường xuyên học hỏi, trao đổi phương pháp dạy học theo hướngđổi mới để nâng cao chất lượng giảng dạy

- Lớp 4B tôi được phân công giảng dạy có 100% học sinh có phẩm chất tốt

Đa số các em chăm học, có ý thức vươn lên trong học tập Do vậy, giáo viên cóđiều kiện tốt để củng cố kiến thức cơ bản và từng bước nâng cao kiến thức cho cácem

Trang 5

b Khó khăn

- Lớp 4B do tôi chủ nhiệm có 15 em = 42,8 % học sinh là con gia đìnhnông thôn, buôn bán, làm nghề tự do, trong đó có 3 em thuộc hộ nghèo; 01 emthuộc hộ cận nghèo 8 em học sinh ngoài địa bàn, 3 em ở xã Minh Sơn, huyệnNgọc Lặc Đa số bố mẹ các em đi làm từ sáng đến tối mới về Thậm chí một số

em có bố mẹ đi làm ăn xa, việc chăm sóc, nuôi nấng các em đều nhờ vào ông bà

đã già yếu Do vậy, các em thiếu sự quan tâm, kèm cặp của bố mẹ; việc học tậpchủ yếu nhờ vào thầy cô ở trên lớp

- Qua thời gian 2 tuần trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy tình trạng bí từ có

ở nhiều học sinh và phổ biến gần như ở tất cả các môn học Cụ thể như sau: + Việc diễn đạt của các em khi phát biểu ý kiến trong các tiết học chưalưu loát, chưa rõ ý Các em cứ ấp úng mãi mà chưa nói được ý mình muốn nói + Các từ địa phương còn xuất hiện nhiều trong bài viết, trong lời nói củacác em, chẳng hạn: kết luận (kết luộn), sóng nước (sống nước), thắng lợi (t rắnglợi); thanh hỏi, thanh ngã còn lẫn lộn: dĩ nhiên (dỉ nhiên), đảm bảo (đãm bão), + Trong phân môn Luyện từ và câu, khi tìm từ cùng nghĩa hoặc trái nghĩavới từ cho trước, nhiều từ giáo viên ví dụ, các em nói chưa nghe từ đó bao giờ + Thậm chí, đặt lời giải các bài toán có lời văn còn chứa cả từ dùng đểhỏi Hoặc lời giải quá dài mà thiếu ý, lời giải cụt ý,

+ Đặc biệt trong bài Tập làm văn khảo sát chất lượng đầu năm, bài viếtquá ngắn, cách dùng từ chưa chính xác do vốn từ còn nghèo nàn làm cho các câuvăn cụt ngủn, chỉ mang tính chất liệt kê Bài văn thiếu cảm xúc riêng, chủ yếu làvật phải tả có đặc điểm gì các em kể hết theo kiểu tả sinh vật, rất ít hình ảnh sinhđộng, gợi cảm

Bài làm học sinh lớp 4B

Trang 6

Bài làm học sinh lớp 4A

Trang 7

Kết quả khảo sát môn Tiếng Việt đầu năm học 2018 - 2019 đạt như sau:

mà bước tiếp các cấp học khác để rồi bước vào đời một cách vững chắc Mà

môn học có vai trò chính trong việc hình thành và phát triển vốn từ cho học sinh

là phân môn Luyện từ và câu Vì vậy, tôi đã tìm tòi và đã có một số biện pháp

làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 4 chủ yếu qua phân môn Luyện từ và câu nhưsau:

2.3 Các biện pháp thực hiện:

2.3.1 Một số giải pháp.

1 Tạo hứng thú và tâm thế học tập tốt cho học sinh

2 Nghiên cứu, nắm vững cấu trúc, nội dung phân môn Luyện từ và câu lớp 4

Từ đó, lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học phù hợp với từng nội dung,từng dạng bài

3 Xây dựng kế hoạch bài học phù hợp với các đối tượng học sinh

4 Tổ chức dạy thực nghiệm để đối chứng kết quả thực hiện

5 Kiểm tra đánh giá

2.3.2 Biện pháp thực hiện.

Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về vai trò của vốn từ trong học tập, trong giao tiếp cho học sinh

- Mặc dù, mỗi môn học đều có một vai trò nhất định trong việc hình thành

và phát triển vốn từ của trẻ, nhưng theo tôi, môn học có vai trò then chốt để làmgiàu vốn từ và rèn kỹ năng sử dụng vốn từ đã có cho các em chính là môn Tiếng

Việt Phân môn gánh trọng trách này lại chủ yếu là phân môn Luyện từ và câu.

Do vậy, ngay từ đầu năm học, tôi đã nêu rõ vai trò và tầm quan trọng của việclàm giàu vốn từ, việc học Luyện từ và câu cho học sinh, để từ đó giúp các em cóđịnh hướng và động lực học tốt phân môn này

Ví dụ: Trong giờ kể chuyện, tôi luôn cho một học sinh có khả năng diễn

đạt tốt kể mẫu trước lớp và hỏi: Các em cảm thấy thế nào khi nghe bạn kểchuyện? Học sinh nêu ý kiến nhận xét về cách kể của bạn Cuối cùng, tôi kếtluận: Bạn kể hay và hấp dẫn người nghe như vậy là vì bạn có vốn từ phong phú,cách dừng từ giàu cảm xúc và hình ảnh nên ai cũng muốn nghe bạn kể

- Bên cạnh đó, tôi còn kết hợp với phụ huynh học sinh để phụ huynh giúpcác em vận dụng vốn từ trong giao tiếp hằng ngày Việc này tôi tiến hành ngaytrong buổi họp phụ huynh đầu năm bằng cách: nhận xét ưu điểm, nhược điểmcủa từng em (nhấn mạnh việc phát biểu trên lớp và tình trạng bí từ của học sinh)

Trang 8

và đề nghị phụ huynh cho các em đi mua rau, quả, … ở ngoài quán, ngoài chợhoặc đi mượn, trả đồ trong hàng xóm nhằm rèn tính mạnh rạn, tự tin trong giaotiếp và thông qua đó rèn kỹ năng sử dụng vốn từ cho các em

- Mặt khác, tôi cũng đề nghị phụ huynh cần mua đầy đủ sách vở và đồdùng học tập cho các em, bố trí cho học sinh một góc học tập riêng và nênthưởng cho sự tiến bộ trong học tập của các em bằng món quà bổ ích, đó lànhững cuốn truyện thiếu nhi (Lá cờ thêu sau chữ vàng, Dế Mèn phiêu lưu kí,Chú Đất Nung, …) nhằm cung cấp thêm vốn từ cho các em

Biện pháp 2: Nghiên cứu, nắm vững cấu trúc, nội dung của phân môn Luyện từ và câu Lớp 4 để lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học cụ thể phù hợp cho từng bài.

1 Nội dung kiến thức phân môn Luyện từ và câu lớp 4.

a Mở rộng vốn từ:

- Dạy gắn với 8 chủ điểm chung của môn Tiếng Việt: Thương người như

thể thương thân, Măng mọc thẳng, Trên đôi cánh ước mơ, Có chí thì nên, Tiếng sáo diều, Người ta là hoa đất, Những người quả cảm, Khám phá thế giới Thông

qua các bài tập: Tìm từ ngữ theo chủ điểm, hiểu nghĩa các thành ngữ, tục ngữtrong chủ điểm đó Đặt câu với các từ ngữ tìm được theo chủ điểm

b Cấu tạo từ:

- Từ đơn, từ phức (gồm từ láy và từ ghép), các kiểu từ láy (láy âm, láyvần, láy cả âm và vần), các kiểu từ ghép (từ ghép có nghĩa tổng hợp, từ ghép cónghĩa phân loại)

c Từ loại:

- Danh từ (khái niệm, danh từ chung, danh từ riêng và cách viết danh từ riêng)

- Động từ (khái niệm, từ bổ sung ý nghĩa chỉ thời gian cho động từ)

- Tính từ (khái niệm, cách thể hiện mức độ của tính từ, các cách tạo ratính từ)

d Các kiểu câu chia theo mục đích nói với các dấu câu tương ứng:

- Câu hỏi và dấu chấm hỏi; Dùng câu hỏi vào mục đích khác; Lịch sự khiđặt câu hỏi, cách đặt câu hỏi

- Câu kể: Câu kể Ai làm gì? Câu kể Ai thế nào? Câu kể Ai là gì? kết hợp

với dạy đặc diểm của chủ ngữ, vị ngữ trong mỗi kiểu câu

- Câu khiến, cách đặt câu khiến, Lịch sự khi đặt câu khiến

- Câu cảm và dấu chấm cảm

e Thêm trạng ngữ cho câu:

- Thêm các trạng ngữ chỉ nơi chốn, trạng ngữ chỉ thời gian, chỉ nguyênnhân, chỉ mục đích, chỉ phương tiện cho câu

g Học thêm một số dấu câu:

- Dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu gạch ngang, tác dụng của từng dấu câu

2 Các phương pháp dạy học chủ yếu:

- Để dạy học về Luyện từ và câu ở Tiểu học các phương pháp thườngđược sử dụng là :

- Phương pháp phân tích ngôn ngữ: phương pháp này thường được sửdụng khi hướng dẫn học sinh giải nghĩa từ hoặc mở rộng vốn từ theo cấu tạo,chủ điểm

Trang 9

- Phương pháp luyện tập: là phương pháp được sử dụng nhiều nhất khidạy Luyện từ và câu lớp 4 Thông qua việc hướng dẫn học sinh làm mẫu mộtphần của bài tập, GV giúp các em nhận biết cách làm để tự hoàn thành bài tập.

- Phương pháp giao tiếp: Thông qua việc dạy từ dựa vào lời nói, vàonhững hình ảnh sinh động, vào ngôn ngữ giao tiếp, giáo viên hướng dẫn họcsinh ở những tình huống cụ thể để tạo ra những sản phẩm giao tiếp (là việc hiểunghĩa từ - dùng từ chính xác và hay của học sinh)

- Phương pháp vấn đáp: thông qua hệ thống câu hỏi (câu hỏi dựa vào thaotác tư duy, dựa vào mức độ nhận thức, dựa vào mục đích dạy học của từng bài)

để điều khiển hoạt động tư duy cho học sinh, giúp các em từng bước khám phá,phát hiện ra kiến thức nội dung bài học

- Phương pháp trò chơi: thường sử dụng để củng cố kiến thức, kĩ năng bàihọc nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em nhớ được nội dungquan trọng của bài học

3 Tổ chức dạy các dạng bài :

a Mở rộng vốn từ:

- Từ tồn tại trong trí não chúng ta được sắp xếp theo một trường nghĩanhất định (trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa liêntưởng, ) Ở Tiểu học, chủ yếu học sinh được cung cấp vốn từ theo trườngnghĩa biểu vật và trường nghĩa liên tưởng Nhờ cách này, từ được tích luỹ nhanhchóng hơn, phong phú hơn Cũng nhờ nó, từ được sử dụng trong lời nói, trongbài viết một cách linh hoạt; vì khi sử dụng từ, nhờ hệ thống liên tưởng, học sinh

sẽ nhanh chóng huy động, lựa chọn được từ ngữ phù hợp với nội dung và yêucầu giao tiếp

Ví dụ : Từ nói về lòng nhân hậu (tính từ), học sinh sẽ xác lập được một

loạt từ theo trường liên tưởng: nhân hậu, hiền hậu, hiền từ, hiền thảo, nhân từ, nhân đức, nhân nghĩa,

- Loại bài tập mở rộng vốn từ đều yêu cầu học sinh tìm những từ theo mộtdấu hiệu chung nào đó Ở Tiểu học biện pháp được sử dụng phổ biến nhất để hệthống hoá vốn từ là mở rộng vốn từ theo chủ điểm Nhóm từ theo chủ điểm baogồm các từ thuộc nhiều từ loại khác nhau Cần chú ý là đề tài nên theo phạm viliên tưởng rộng, tuỳ thuộc vào cá nhân mỗi học sinh Cũng có thể liên tưởngtheo một dấu hiệu ngữ nghĩa nào đó Để giải loại bài tập này, giáo viên cần gợi ýcho học sinh tìm trong vốn từ của mình những từ mang nét nghĩa với chủ điểm

đó Bên cạnh đó, GV giúp học sinh liên tưởng theo lớp từ vựng: từ cùng nghĩa,

từ trái nghĩa

Ví dụ : Khi dạy bài “Mở rộng vốn từ: Nhân hậu - Đoàn kết” Để HS làm

được bài tập 2: Tìm các từ cùng nghĩa, trái nghĩa với từ nhân hậu, đoàn kết rồi

Trang 10

+ Giáo viên cần cho HS tìm từ trái nghĩa với từ nhân hậu: Độc ác, tàn ác,hung ác, tàn bạo

+ Giáo viên cần cho học sinh tìm từ trái nghĩa với từ đoàn kết:Chia rẽ, bất hòa, lục đục

- Tuy nhiên, có những tình huống học sinh tìm từ không đồng nghĩa vớicác từ trong chủ điểm, giáo viên cần giải nghĩa từ hoặc yêu cầu học sinh đặt câuvới từ đó để học sinh phát hiện ra

Ví dụ: ước đoán, ước lệ, ước hẹn, không cùng nghĩa với từ ước mơ

thuộc chủ điểm Trên đôi cánh ước mơ.

b Tổ chức cho học sinh thực hiện các bài tập giải nghĩa từ

- Việc dạy nghĩa từ có nhiệm vụ quan trọng trong sự phát triển ngôn ngữcủa trẻ Việc này được tiến hành trong tất cả các tiết học, dù ở giờ học, môn họcnào có cung cấp từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm thì ở đó có dạy nghĩa từ Để dạynghĩa từ, trước hết giáo viên phải hiểu nghĩa từ và biết giải nghĩa phù hợp vớimục đích dạy học, phù hợp với đối tượng học sinh và phải đặt từ trong văn cảnh

để giúp các em hiểu nghĩa từ chính xác Điều quan trọng là hình thức giúp các

em hiểu nghĩa từ Không phải lúc nào giáo viên cũng giải nghĩa theo kiểu định

nghĩa từ (Như: ước đoán là đoán trước một điều gì đó) Vì nếu cứ lạm dụng cách

định nghĩa từ khô khan như vậy, học sinh sẽ chẳng nhớ từ được lâu mà còn chánghét môn học giáo viên có thể giải nghĩa bằng cách cho học sinh đặt câu với từ

đó, nêu nghĩa trước để học sinh tìm từ Đặc biệt là dùng đồ dùng trực quan cách này có hiệu quả rõ rệt nhất

-Ví dụ: Dạy bài "Mẹ ốm" khi cần giúp học sinh hiểu nghĩa từ cơi trầu,

Truyện Kiều mà giáo viên có cái cơi trầu, quyển Truyện Kiều cho học sinh quan

sát thì học sinh nhớ nghĩa từ nhanh và tiết học trở nên hấp dẫn trẻ hơn nhiều

Tranh cơi trầu

Trang 11

- Bên cạnh đó, dùng đèn chiếu đa năng để chiếu hình ảnh đồ vật cụ thể sẽgiúp các em hiểu nghĩa từ chính xác và nhớ từ một cách tốt nhất

c Bài tập về cấu tạo từ.

- Khi dạy loại bài này, ngoài việc cung cấp khái niệm từ (Thế nào là từđơn? Từ phức? ) giáo viên còn phải giúp học sinh biết vạch phân từ chính xáctrong từng câu

Ví dụ: Trong bài tập 1 SGK trang 28 như sau: Chép vào vở đoạn thơ và

dùng dấu gạch chéo để phân cách các từ trong hai câu thơ cuối đoạn Ghi lại các từ đơn, từ phức trong đoạn thơ:

Chỉ / còn / truyện cổ / thiết tha / Cho / tôi / nhận mặt / ông cha / của / mình /

Rất công bằng, rất thông minh Vừa độ lượng lại đa tình, đa mang.

từ chính xác mà phải tiến hành dần dần qua từng tiết học

- Việc phân biệt từ ghép và từ láy là một bài tập khó với học sinh lớp 4,bởi vì HS dễ nhầm từ ghép và từ láy khi các tiếng trong từ ghép có quan hệ về

âm (chẳng hạn đi đứng, tươi tốt, châm chọc, phương hướng, )

Ở đây, GV cho HS phân biệt theo hai bước:

+ Nếu 2 tiếng trong từ không có dấu hiệu giống nhau về ngữ âm thì xếp từ

đó vào từ ghép

+ Nêu giống nhau về vỏ ngữ âm thì cần xét về nghĩa của từng tiếng trong

từ rồi mới xếp vào từ láy hay từ ghép theo đặc điểm sau: Từ ghép bao giờ cáctiếng cũng đều có nghĩa, từ láy thì một tiếng không có nghĩa hoặc cả hai tiếngđều không có nghĩa

d Các kiểu câu chia theo mục đích nói.

- Điều quan trọng là học sinh biết dùng từ để đặt câu cho đúng với mụcđích giao tiếp: biết diễn đạt rõ ý, trọn câu khi nói và khi viết Trong từng tiết học

về nội dung này, các bài tập đều có yêu cầu đặt câu GV cần cho học sinh chọnlựa từ ngữ để đặt câu vừa đạt yêu cầu bài vừa thể hiện được tính lịch sự nhằmđạt được mục đích giao tiếp

Ví dụ: Khi đặt câu hỏi hoặc nêu đề nghị (câu khiến) với người lớn tuổi

cần phải dùng từ thưa, bẩm, ạ ở cuối câu hỏi; từ xin, mong ở đầu câu khiến.

* Kết quả: Sau khi thực hiện biện pháp về nghiên cứu, nắm vững cấu trúc, nội

dung của phân môn Luyện từ và câu Lớp 4 để lựa chọn phương pháp, hình thức

Ngày đăng: 17/10/2019, 11:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w