Mục đích nghiên cứuTìm ra những khó khăn vướng mắc của giáo viên và học sinh thông quacác giờ dạy và các bài tập Luyện từ và câu để tìm ra một số biện pháp cụ thểnhằm chỉ đạo nâng ca
Trang 1I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, bậc học Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thốnggiáo dục Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và pháttriển nhân cách của con người Việt Nam Cùng với các môn học khác, mônTiếng Việt ở Tiểu học có vị trí hết sức quan trọng, là chìa khóa mở ra kho tàngvăn hóa trên mọi lĩnh vực đời sống, xã hội của con người Trong môn TiếngViệt thì phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ quan trọng, giúp học sinh lĩnhhội Tiếng Việt, văn hóa, là công cụ giao tiếp tư duy và học tập Đối với học sinhkhi sử dụng Tiếng Việt thì việc các kiến thức trong phân môn Luyện từ và câugiúp học sinh có đủ điều kiện để sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong họctập các môn văn hóa, trong việc viết văn bản Trong phân môn Luyện từ và câuthì hai nhiệm vụ rèn luyện về từ và rèn luyện về câu luôn có mối liên mật thiếtvới nhau Luyện từ và câu lớp 2 giúp học sinh mở rộng vốn từ, cung cấp cho họcsinh một số hiểu biết sơ giản về từ loại, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ, đặtcâu, sử dụng dấu câu, bồi dưỡng thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu.Qua đó, bồi dưỡng cho các em tình cảm yêu thích môn Tiếng Việt
Qua thực tế giảng dạy trước đây và bây giờ là việc dự giờ thăm lớp ở lớp 2nói chung và ở môn Tiếng Việt 2 nói riêng, tôi thấy vốn từ của các em còn rấthạn chế, việc tìm hiểu và sử dụng từ còn lúng túng, gặp rất nhiều khó khăn cầnphải được bổ sung và phát triển để đáp ứng nhu cầu học tập và giao tiếp Muốnnói hay viết giỏi đều phải dùng từ Từ là phương tiện để cấu thành ngôn ngữ.Hiểu được nghĩa của từ đã khó, còn phải biết dùng từ như thế nào cho hợp văncảnh, đúng ngữ pháp còn khó hơn Vì vậy, việc dạy cho học sinh nắm vữngTiếng Việt không thể không coi trọng việc dạy phân môn Luyện từ và câu vì nóđặt nền móng cho việc tiếp thu tốt các môn học khác ở các lớp học trên
Hiểu được tầm quan trọng của việc dạy học Luyện từ và câu, cho nên trongnhững năm qua, tôi đã dành nhiều thời gian vào việc tìm hiểu phương pháp dạyhọc phân môn này Thực tế, tôi đã vận dụng có hiệu quả qua các tiết dạy họctrên lớp, và tham gia thao giảng các cấp Đặc biệt, tôi đã có tiết dạy đạt xuất sắccấp Tỉnh Nay trên cương vị một người quản lý, tôi vẫn dành nhiều thời gian vàotìm hiểu phân môn này với mong muốn đưa ra một số một số biện pháp chỉ đạodạy học ở trường đạt hiệu quả và cũng là để chia sẻ kinh nghiệm với các bạn
đồng nghiệp Đề tài Một số biện pháp chỉ đạo dạy tốt phân môn Luyện từ và
câu Lớp 2 ở trường Tiểu học Xuân Quang hi vọng sẽ là những kinh nghiệm
bổ ích để các đồng nghiệp cùng chia sẻ!
Trang 22 Mục đích nghiên cứu
Tìm ra những khó khăn vướng mắc của giáo viên và học sinh thông quacác giờ dạy và các bài tập Luyện từ và câu để tìm ra một số biện pháp cụ thểnhằm chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt nói chung vàphân môn Luyện từ và câu lớp 2 nói riêng
3 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp chỉ đạo dạy tốt phân môn Luyện từ và câu Lớp 2
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Trang 3II NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận.
Luyện từ và câu là phân môn nền tảng trong môn Tiếng Việt ở Tiểu họcnói chung và ở lớp 2 nói riêng Luyện từ và câu giúp học sinh có năng lực sửdụng vốn ngôn ngữ Tiếng Việt trong nói và viết Từ đó, sử dụng Tiếng Việt vănhóa một cách thành thạo làm công cụ tư duy để học tập giao tiếp và lao động.Ngay từ đầu của hoạt động học tập ở trường, học sinh đã được làm quen với líthuyết của từ và câu Sau đó, kiến thức được mở rộng thêm và nâng cao dần đểphục vụ cho nhu cầu ngày một tăng trong cuộc sống của các em cũng như tronglao động, học tập và giao tiếp Chính vì vậy, việc dạy Luyện từ và câu có vị trírất quan trọng Không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm được ngôn ngữ,không nắm được phương pháp giao tiếp Việc dạy từ và câu ở giai đoạn đầugiúp học sinh nắm được vốn tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện học tập và phát triển toàndiện Thực tế cho thấy, hiệu quả giáo dục nhiều mặt của Luyện từ và câu là rất
to lớn Nó giúp học sinh phát triển ngôn ngữ, tư duy lôgic và các năng lực trí tuệnhư trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích tổng hợp… và các phẩm chất đạođức như tính cẩn thận, cần cù Ngoài ra, phân môn Luyện từ và câu còn có vaitrò hướng dẫn và rèn cho học sinh kĩ năng nói, đọc, viết
Nhiệm vụ rèn luyện về câu của phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2 là giúphọc sinh quen với các kiểu câu như : Ai là gì ? Ai làm gì ? Ai thế nào ? một sốthành phần trong câu, tập dùng một số dấu câu (dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấmhỏi, dấu chấm than, trọng tâm là dấu chấm và dấu phẩy) Dạy Luyện từ và câu ởlớp 2 nói riêng còn giúp cho học sinh hiểu về cấu tạo của từ, khái niệm về từ vàcâu, có được những kĩ năng mà học sinh cần đạt trong giờ học đó là: Biết dùng
từ, đặt câu trong nói và viết, nói đúng, nói dễ hiểu và sử biết dụng các câu vănhay, nhận ra những từ, câu chưa hay để loại ra khỏi vốn từ của mình Bên cạnh
đó, dạy từ và câu ở lớp 2 giúp học sinh mở rộng, phát triển vốn từ (phong phúhóa vốn từ), nắm được nghĩa của từ (chính xác hóa vốn từ), quản lí phân loạivốn từ (hệ thống hóa vốn từ và luyện tập sử dụng từ), tích cực hóa vốn từ.Ngoài ra học sinh còn nắm được văn hóa chuẩn của lời nói, rèn cho học sinh khảnăng tư duy lôgic cao và khả năng thẩm mĩ
Phân môn Luyện từ và câu còn có tác dụng to lớn trong quá trình pháttriển tư duy ngôn ngữ cho học sinh Qua phân môn Luyện từ và câu các em nắmđược từ và mở rộng vốn từ, giải nghĩa của từ và về câu Các em nắm được cáckiểu câu, các dấu câu (dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm hỏi, dấu chấm than), biếtcách sử dụng từ và câu phù hợp với ngữ cảnh và lời nói Ngoài ra, nội dungchương trình của phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học được xây dựng phù hợpvới yêu cầu phát triển lời nói của học sinh, giúp các em mở rộng thêm kiến thứctrong quá trình học tập, lao động và giao tiếp ngày một tốt hơn, tiến bộ hơn, đạtkết quả cao hơn
Trang 42 Thực trạng của việc dạy học Luyện từ và câu lớp 2 ở trường Tiểu học Xuân Quang.
2.1 Thực trạng dạy học của giáo viên :
Qua việc dự giờ trên lớp cũng như dự giờ thao giảng cấp trường tôi nhận thấy:
- Các hình thức tổ chức hoạt động học tập trong giờ học Luyện từ và câu còn đơn điệu, chưa phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh
- Tiết Luyện từ và câu thường trầm không sôi nổi, học sinh tập trung chú ýchưa cao Giáo viên lại phải chuẩn bị nhiều đồ dùng cho một tiết dạy Mặt khác đồdùng trực quan sẵn có ở thiết bị nhà trường chưa đáp ứng đủ cho các tiết học
- Dạy Luyện từ và câu là khó so với các phân môn khác, có nhiều từ, câuchưa phân định rõ ràng nên trong khi giảng dạy giáo viên còn lúng túng trongviệc giúp học sinh phân định từ, câu
- Việc rèn luyện các kĩ năng nghe nói, đọc viết, cho học sinh chưa đượcthường xuyên
Ví dụ 1 : Khi dự giờ lớp 2B bài “Từ ngữ về muông thú” (tuần 23)
Nhận xét: Sau khi hướng dẫn học sinh làm bài tập 1: Xếp tên các con vậtvào hai nhóm thích hợp (thú nguy hiểm và nhóm thú không nguy hiểm), giáoviên yêu cầu học sinh tìm thêm tên một số loài thú nguy hiểm và thú khôngnguy hiểm chưa có tên trong bài tập để giúp học sinh mở rộng vốn từ, có học
sinh nêu tên con rắn nhưng giáo viên đã công nhận câu trả lời của học sinh là
đúng Tuy nhiên, tên con rắn mà học sinh liệt kê vào muông thú là sai vì nóthuộc loài bò sát
Ví dụ 2 : Khi dự giờ lớp 2A bài Từ ngữ về sông biển Dấu phẩy (Tuần 26).
Nhận xét : Giáo viên lần lượt hướng dẫn học sinh nắm yêu cầu của ba bàitập (SGK trang 73,74) Sau đó cho học sinh lần lượt giải ba bài tập đó rồi chohọc sinh nhận xét, kết luận, tiếp đó giáo viên chốt kiến thức Giờ dạy trôi quamột cách buồn tẻ do phương pháp và hình thức tổ chức dạy học của giáo viênđơn điệu không gây được hứng thú học tập cho học sinh dẫn đến học sinh làmviệc mệt mỏi, có em không tập trung học bài dẫn đến hiệu quả giờ dạy chưa cao
2.2.Thực trạng học của học sinh:
Qua khảo sát dự giờ học sinh lớp 2, tôi nhận thấy việc học và làm bài tập Luyện từ và câu của học sinh có nhược điểm sau:
- Về Từ : Học sinh tìm còn sai yêu cầu, số lượng ít, hiểu nghĩa từ còn mơ
hồ, phát hiện từ loại chậm
- Về Câu : Đặt câu chưa rõ nghĩa, tìm bộ phận trả lời của câu theo mẫu
còn thừa hoặc thiếu, sử dụng dấu câu chưa thành thạo
Để minh chứng cho điều này, năm học 2015- 2016 tôi đã tiến hành khảosát thực trạng khả năng nắm kiến thức Luyện từ và câu của học sinh hai lớp2A,2B theo từng giai đoạn (trước thực nghiệm và sau thực nghiệm) thông quacác bài khảo sát ( trước thực nghiệm) và kiểm tra đối chứng ( sau thực nghiệm)
Trang 5Bài khảo sát số 1 : Thời điểm sau khi học xong tuần 4, kiểm tra đồng
thời cả hai lớp 2A và 2B
Bài 1 : Tìm các từ:
- Chỉ đồ dùng học tập M : bút
- Chỉ hoạt động của học sinh M : đọc
- Chỉ tính nết của học sinh M : chăm chỉ
Bài 2 : Ngắt đoạn văn sau thành 4 câu rồi viết lại cho đúng chính tả:
Trời mưa to Hòa quên mang áo mưa Lan rủ bạn đi chung áo mưa với mình đôi bạn vui vẻ ra về
Kết quả khảo sát bài số 1 :
Lớp số Sĩ
Kết quả Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5-6 Điểm dưới 5
Ví dụ : Ở bài 1 có em tìm từ chỉ đồ dùng học tập là xe đạp; tìm từ chỉ
hoạt động của học sinh là ngoan Ở bài 2 do chưa hiểu kĩ cách ngắt câu nên nhiều em ngắt không đúng chỗ nên khi đọc lên có những câu vô nghĩa như Trời mưa to Hòa; Hòa quên áo mưa Lan
Như vậy, qua kết quả khảo sát ta có thể thấy nguyên nhân dẫn đến sai sótnày là do đây là bước đầu học sinh tiếp xúc và làm quen với Luyện từ và câunên các bài làm của các em còn nhiều hạn chế và thiếu sót cả về kiến thức và kỹnăng cơ bản Bên cạnh đó do nhận thức cảm tính nên sự vận dụng vốn sống vàotrong bài tập còn thiếu chính xác; khả năng xác định từ, câu của học sinh cònkém, các em còn nhầm lẫn dấu câu: dấu chấm và dấu phẩy
Từ việc làm bài tập của học sinh, tôi thấy khả năng tư duy và sáng tạo củahọc sinh là chưa cao Việc rèn luyện bốn kỹ năng cơ bản : nghe, nói, đọc, viếtcho học sinh chưa thường xuyên Vì vậy khả năng diễn đạt của các em chưa thật
sự tốt ở cả hai mặt nói và viết Khi giao tiếp, tôi thấy học sinh nói chưa lưu loát.Đồng thời các em thường nói nhỏ khi chưa chắc chắn đúng, nói theo cảm tínhsuy nghĩ của mình, nên không trau chuốt, không thành câu Viết câu chưa đúngchính tả như chưa chấm câu, chưa viết hoa, viết thiếu bộ phận chính
Tóm lại, khả năng giao tiếp và nắm bắt ngôn ngữ của các em còn nhiềuvấn đề cần bàn Vì thế, vấn đề cần đặt ra là phải tìm ra nguyên nhân và có những
giải pháp hữu hiệu kịp thời để khắc phục nhược điểm, hạn chế của học sinh.
Trang 63 Một số biện pháp chỉ đạo dạy tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 2 ở trường Tiểu học Xuân Quang.
3.1 Biện pháp thứ nhất : Giúp giáo viên xác định đúng mục tiêu cần đạt của mỗi bài tập và mục tiêu của tiết học.
Phân môn Luyện từ và câu lớp 2 không có bài lý thuyết cung cấp cho họcsinh kiến thức từ ngữ để ghi nhớ và học thuộc mà từ ngữ được cung cấp thôngqua các bài tập thực hành nên yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành là yêu cầu cơbản trong từng tiết học Luyện từ và câu Mỗi bài dạy Luyện từ và câu lớp 2thường có hai phần : Mở rộng vốn từ (phần từ) và bài tập về câu (phần câu) Vìvậy, giáo viên muốn dạy tốt thì phải xác định rõ mục tiêu của tiết học đó là mỗibài cần cung cấp kiến thức gì cho học sinh? kiến thức đó cung cấp trên cơ sởnào? Bên cạnh đó, giáo viên cần phải chú ý “tích hợp” các kiến thức và kỹ năngtrong tiết học với những kiến thức kỹ năng đã học trước đó, tích hợp với vốnsống của các em Giáo viên cần giúp các em hiểu và vận dụng kiến thức để làmbài tập một cách phù hợp
Ví dụ : Tiết Luyện từ và câu tuần 26 ( Tiếng Việt 2 tập 2 trang 73)
* Mục tiêu về kiến thức : Giúp học sinh nhận biết một số loài cá nướcngọt, nước mặn (BT1); kể tên một số con vật sống dưới nước (BT2) Biết đặtdấu phẩy vào chỗ thích hợp trong câu còn thiếu dấu phẩy
* Mục tiêu về kĩ năng: Giúp học nắm bắt, hiểu biết về các loài vật sốngdưới nước để vận dụng vào cuộc sống Hình thành kĩ năng tư duy, biết đặt dấucâu đúng chỗ, hợp lí
Như vậy, dựa trên mục tiêu cần đạt thì sau bài học giáo viên cần phải giúphọc sinh nắm được các nội dung kiến thức đó là:
- Nhìn hình ảnh hoặc bề ngoài các em biết tên một số loài cá nước ngọt,nước mặn như cá thu, cá chép, cá quả,
- Nhớ và kể tên một số loài vật sống dưới nước như tôm, cá, mực, cuabiển, ghẹ, hải cẩu, cá heo,
- Biết sử dụng dấu phẩy trong câu văn đúng lúc, đúng chỗ
Bên cạnh đó giáo viên cần giúp học sinh biết “tích hợp” kiến thức các bài họctrước đó để vận dụng hiệu quả vào bài học trong tiết học này Cụ thể, trước đó, ở tuần
25 các em được học chủ điểm mới đó là chủ điểm Sông biển Và tất cả các bài tậpđọc, kể chuyện, chính tả đều thuộc chủ để sông biển Bởi vậy, muốn giúp các em làmtốt các bài tập này thì giáo viên phải giúp các em nhớ lại những kiến thức và kỹ năngcủa các bài học tập đọc, luyện từ và câu, chính tả, kể chuyện để trên cở sở đó, củng cố
và mở rộng vốn từ cho các em một các hiệu quả nhất
Ví dụ: Tuần 25 và 26 lớp 2, học sinh học chủ đề về Sông biển, học sinh
được học các bài tập đọc, chính tả, kể chuyện như: Tôm càng và cá con, Vì sao
cá không biết nói Như vậy qua các bài học này các em đã có một vốn hiểu biếtcũng như vốn từ ngữ nhất định về các con vật sống dưới nước Vì vậy, khi dạybài Luyện từ và câu tuần 26 “Mở rộng vốn từ: Từ ngữ về sông biển Dấu phẩy”giáo viên sẽ định hướng để học sinh nhớ và vận dụng các kiến thức của các bàihọc này để làm các bài tập trong tiết học một các hiệu quả
Trang 73.2 Biện pháp thứ hai : Định hướng để giáo viên lựa chọn các hình thức học tập, các biện pháp tổ chức thực hiện thích hợp cho mỗi tiết học.
Việc lựa chọn các hình thức hoạt động của học sinh trong một tiết học cótác dụng rất lớn để phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, tạo không khísôi nổi trong giờ học giúp các em hứng thú với tiết học và các em nắm kiến thứcmột cách hiệu quả Nội dung các tiết Luyện từ và câu chủ yếu là luyện tập thựchành nên khi chuẩn bị một tiết dạy, tôi thường định hướng cho giáo viên khi dạycần kết hợp các hoạt động của học sinh trong các tiết học theo các hình thức:
- Làm việc độc lập
- Làm việc theo nhóm
- Làm việc chung theo đơn vị lớp
Ví dụ : Tiết Luyện từ và câu Tuần 33 (Tiếng Việt 2 tập 2 trang 129), giáo
viên cần lựa chọn các hình thức hoạt động của từng bài như sau:
Bài 1 : Tìm từ ngữ chỉ một ngành nghề của những người vẽ trong tranh dưới đây:
Đây là bài tập dựa vào tranh để tìm từ, trước hết, giáo viên cho học sinhlàm việc cá nhân quan sát kĩ từng bức tranh để tìm từ sau đó gọi học sinh nốitiếp phát biểu tìm từ
Bài 2 : Tìm thêm những từ chỉ nghề nghiệp khác mà em biết
Mẫu: thợ may.
Ở dạng bài tập này, cần thay đổi hình thức học cá nhân sang học nhóm, tùyvào số học sinh của lớp giáo viên chia thành 3-4 nhóm và tổ chức thi tìm nhanhcác từ Sau đó, các em viết từ vào giấy khổ to và trong thời gian nhất định cácnhóm báo cáo kết quả, giáo viên tổng kết các từ học sinh tìm được và tuyêndương nhóm tìm được nhiều, nhanh, chính xác để tạo không khí sôi nổi tronggiờ học
Bài 3 : Trong các từ dưới đây, những từ nào nói lên phẩm chất của nhân dân Việt Nam.
(Anh hùng, cao lớn, thông minh, gan dạ, rực rỡ, cần cù, đoàn kết, vui mừng, anh dũng)
Với bài tập này, giáo viên vẫn cho học sinh hoạt động theo nhóm nhưng lànhóm đôi Các em trao đổi theo cặp để tìm từ, sau đó gọi đại diện của 2 hay 3nhóm nêu kết quả, các nhóm khác bổ sung ý kiến
Bài 4 : Đặt câu với mỗi từ tìm được ở bài tập 3
Sang đến bài tập 4, giáo viên cho học sinh làm việc cá nhân, sau một thờigian các em làm việc gọi học sinh trả lời theo kiểu nối tiếp nhau sau đó nhận xét
và chữa câu các em đã đặt
Với cách kết hợp các hình thức dạy học khi dạy Luyện từ cho học sinh sẽđạt hiệu quả rất cao, nhất là đối với các dạng bài tập mở rộng vốn từ, các emđược hoạt động theo nhiều hình thức, phát huy được vốn từ có sẵn của bản thânđồng thời tạo ra sự tự tin, mạnh dạn trao đổi, thảo luận trong nhóm Việc thayđổi các hình thức học tập làm cho tất cả học sinh được hoạt động
Trang 83.3 Biện pháp thứ ba : Giúp giáo viên nắm vững từng dạng bài và phương pháp dạy từng loại bài để tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp.
Phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2 có nhiều dạng bài, mỗi dạng cóphương pháp dạy khác nhau Với những kinh nghiệm của bản thân, tôi đã địnhhướng giúp giáo viên nắm vững phương pháp dạy từng dạng bài như sau:
a) Dạy học các bài mở rộng vốn từ :
Bài mở rộng vốn từ ở lớp 2 được chia thành các dạng: Mở rộng vốn từqua tranh vẽ; Mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa; Mở rộng vốn từ theo cấutạo Hệ thống từ ngữ cung cấp cho học sinh chủ yếu được dạy dưới dạng các bàitập thực hành Học sinh có kỹ năng nắm nghĩa của từ, mở rộng từ, sử dụng từ tất cả chỉ hình thành và phát triển thông qua quá trình luyện tập Khi dạy chohọc sinh mở rộng vốn từ, tôi lưu ý giáo viên về phương pháp dạy như sau :
Dạng 1 : Mở rộng vốn từ qua tranh vẽ:
Tranh vẽ là loại thiết bị tạo hình, có tác dụng làm chỗ dựa cho việc tìm từ,
mở rộng vốn từ của học sinh, nhất là đối với học sinh lớp 2, mở rộng vốn từ quatranh vẽ giúp các em dễ nắm bắt nghĩa của từ và mở rộng từ một cách có hệthống Khi dạy dạng bài tập này, giáo viên cho học sinh lần lượt đối chiếu từng
từ cho sẵn với các hình ảnh tương ứng, học sinh quan sát kĩ các tranh vẽ và nối
từ Qua đó, các em nắm được nghĩa của từ và mở rộng thêm vốn từ Các bài tập
về mở rộng vốn từ qua tranh vẽ là :
- Bài tập 1, tiết Luyện từ và câu tuần 1 (Tiếng việt 2 tập 1 trang 8) :
Chọn tên gọi cho mỗi người, mỗi vật, mỗi việc trong các tranh vẽ (họcsinh, cô giáo, xe đạp, nhà trường )
- Bài tập 1, tiết Luyện từ và câu tuần 15 (Tiếng việt 2 tập 1 trang 122) :
Dựa vào tranh trả lời các câu hỏi (tìm từ chỉ đặc điểm) như xinh đẹp, dễthương, khỏe, to, chăm chỉ…
- Bài tập 1, tiết Luyện từ và câu tuần 17 (Tiếng việt 2 tập 1 trang 142) :
Chọn cho mỗi con vật một từ chỉ đúng đặc điểm của nó (nhanh, chậm,khỏe, trung thành….)
- Bài tập 1, tiết Luyện từ và câu tuần 22 (Tiếng việt 2 tập 2 trang 35):
Nối tên các loài chim : đại bàng, cú mèo, chim sẻ, sáo sậu với tranh Tuy nhiên, trong số các bài tập này thì có một số bài mà từ không cho sẵn,học sinh cần dựa vào tranh vẽ để gọi tên các từ được biểu hiện trong hình Khidạy dạng bài này, giáo viên hướng dẫn quan sát kĩ từng bức tranh, suy nghĩ tìm
từ tương ứng Thông thường, học sinh tìm khá tốt các từ chỉ sự vật Còn ở cácbài tập tìm từ chỉ hoạt động, đặc điểm, tính chất, học sinh còn khó khăn Đểhọc sinh có thể tìm được đúng từ theo tranh, giáo viên gợi mở dẫn dắt học sinhqua các câu hỏi nhỏ
Ví dụ : Bài tập 2, tiết Luyện từ và câu tuần 7 (Tiếng việt 2 tập 1 trang 59)
Để học sinh tìm đúng từ “đọc, xem ” trong bức tranh, giáo viên hỏi học sinh:+ Bức tranh vẽ gì? (một bạn gái)
+ Bạn làm gì? (đọc sách hay xem sách)
+ Từ chỉ hành động của bạn là gì? (đọc, xem)
Trang 9Trên thực tế khi dạy, ngoài từ “đọc, xem” học sinh còn tìm được từ “họcbài, làm bài’’ Khi đó giáo viên cho học sinh quan sát tiếp và hỏi :
+ Trên tay bạn gái cầm gì? (một quyển truyện)
Như vậy giáo viên hướng dẫn học sinh loại bỏ những từ chưa đúng là “làm bài, học bài” và chỉ còn lại từ “đọc, xem ”
Đối với một số bài mà các vật vẽ trong tranh chưa rõ ràng Để tìm được từchỉ các đồ vật đó đòi hỏi phải quan sát kĩ mới nhận biết được Khi dạy, ngoàitranh vẽ in trong sách giáo khoa, giáo viên chiếu các tranh này lên màn hình đểhọc sinh tiện quan sát Cũng có trường hợp khi học sinh tìm không đủ số lượngđồ vật có trong tranh, giáo viên nêu rõ số lượng vật đó để các em tự tìm thêm.Đồng thời giáo viên cũng cần chuẩn bị một bức tranh như vậy nhưng các đồ vật
đã được tô màu khác nhau để các em nhận diện rõ hơn về các đồ vật và học sinh
sẽ khắc sâu hơn về các từ ngữ này
Dạng 2 : Mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa:
Ở dạng này có hai loại bài:
*Loại 1 : Loại bài về tìm từ ngữ cùng chủ điểm
Các từ cần tìm ở dạng này thuộc cùng một chủ điểm từ ngữ Dạng bài tậpnày ngoài tác dụng mở rộng vốn từ cho học sinh còn giúp các em hình thànhphát triển tư duy một cách có hệ thống hệ thống Khi giảng dạy, giáo viên cầnchú trọng dựa vào ví dụ mẫu để học sinh có điểm tựa tìm từ, giúp các em hiểu rõyêu cầu của đầu bài, đồng thời gợi ý định hướng cho học sinh trong việc tìm từ
Ví dụ 1 : Bài tập 2, tiết Luyện từ và câu tuần 1(Tiếng việt 2 tập 1 trang 9):
Tìm các từ chỉ :
- Đồ dùng học tập (mẫu : bút…)
- Chỉ hành động của học sinh (mẫu : đọc…)
- Chỉ tính nết của học sinh ( mẫu : chăm chỉ…)
Ví dụ 2 : Bài tập 1, tiết Luyện từ và câu tuần 28 (Tiếng việt 2 tập 3 trang 87):
Kể tên các loài cây mà em biết theo nhóm
a) Cây lương thực, thực phẩm : M : lúa
b) Cây bóng mát : M : cam
c) Cây ăn quả : M : xoan
d) Cây lấy gỗ : M : bàng
đ) Cây hoa : M : cúc
Ví dụ 3 : Bài tập 1, tiết Luyện từ và câu tuần 30 (Tiếng việt 2 tập 2 trang 104).
- Tìm từ nói về tình cảm của Bác Hồ với thiếu nhi (mẫu: yêu thương….)
- Tìm từ nói về tình cảm của thiếu nhi với Bác Hồ (mẫu: biết ơn…)
Trang 10Ví dụ : Bài tập 2, tiết Luyện từ và câu tuần 31 (Tiếng việt 2 tập 2 trang 112)
Tìm từ ngữ ca ngợi Bác Hồ, tôi có thể nêu từ “bao dung”, học sinh dựa vào đó
sẽ tìm được các từ ngữ như : Tâm hồn vĩ đại, vì nước vì dân,
*Loại 2 : Loại bài về tìm từ trái nghĩa, cùng nghĩa, gần nghĩa:
Khi dạy bài tập dạng này, giáo viên cần giúp các em hiểu được như thếnào là từ trái nghĩa, gần nghĩa, cùng nghĩa Sau đó giáo viên cho học sinh tìmcác từ trái nghĩa theo yêu cầu của đề bài
Ví dụ : Bài tập 1, tiết Luyện từ và câu tuần 16 (Tiếng việt 2 tập 1 trang 133):
Tìm từ trái nghĩa với các từ sau: tốt, ngoan, trắng
- Bước 1: Giáo viên cho học sinh hiểu thế nào là từ trái nghĩa: Từ tráinghĩa là những từ có nghĩa trái ngược lại từ cho sẵn
- Bước 2: Học sinh tìm từ trái nghĩa với mỗi từ đã cho
- Bước 3: Tổng kết, nhận xét và chốt lại kiến thức cho học sinh
Dạng 3 : Mở rộng vốn từ theo cấu tạo :
Dạng bài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo từ có nghĩa là dựa vào mộtyếu tố cấu tạo từ cho sẵn, tìm những từ có cùng yếu tố cấu tạo và cùng kiểu cấu tạo.Bài tập dạng này có tác dụng rất lớn trong việc giúp học sinh phát triển mở rộng vốn
từ Trong sách giáo khoa, dạng bài tập này được đưa ra dưới hình thức cho sẵn một
từ, sau đó cho ghép thêm vào trước hoặc sau đó một tiếng để tạo thành từ mới hoặccho các tiếng, sau đó ghép hai tiếng lại với nhau để tạo thành từ
Ví dụ 1 : Bài tập 1, tiết Luyện từ và câu tuần 2 (Tiếng việt 2 tập 1 trang 17)
Tìm các từ :
- Có tiếng “học” (mẫu : học hành)
- Có tiếng “tập” (mẫu : tập đọc)
Ví dụ 2 : Bài tập 1, tiết Luyện từ và câu tuần 25 (Tiếng việt 2 tập 2 trang 64):
Tìm các từ ngữ có tiếng biển (mẫu : biển cả, tàu biển )
Ví dụ 3 : Bài tập 1, tiết Luyện từ và câu tuần 12 (Tiếng việt 2 tập 1 trang 99) :
Ghép các tiếng sau thành từ có hai tiếng: yêu thương, quý mến (mẫu: yêu mến, yêu quý )
Khi dạy dạng bài tập này, ở ví dụ 1, giáo viên hướng dẫn học sinh dựavào mẫu cho sẵn trong sách giáo khoa để tìm các từ có cùng kiểu cấu tạo, đápứng yêu cầu của bài tập Hay ở ví dụ 3 giáo viên cho học sinh lần lượt ghéptiếng thứ nhất với các tiếng còn lại để tạo từ và các em sẽ lựa chọn những từghép được phù hợp, loại bỏ những từ không có nghĩa hoặc nghĩa không phùhợp Với cách ghép như vậy các em sẽ tìm được hết các từ một cách triệt để
b) Dạy các bài lý thuyết về từ :
Khi dạy các bài lý thuyết về từ, tôi định hướng cho giáo viên chia thànhcác dạng nhỏ và phương pháp sử dụng để dạy các dạng như sau :
Dạng 1 : Cho từ và nghĩa của từ, xác lập từ tương ứng.
Ở dạng bài tập này, từ và nghĩa của từ đều có sẵn, học sinh chỉ cần xác lập
sự tương ứng giữa từ và nghĩa trong từng trường hợp Khi dạy giáo viên cho họcsinh lần lượt thử nối ghép từ và nghĩa cho sẵn (bằng cách nhẩm) Nếu có sự
Trang 11tương ứng hợp lý giữa từ và nghĩa thì tức là đã làm đúng yêu cầu Với cách làmnhư vậy, học sinh có sự nhận biết được các nét nghĩa, sắc thái khác nhau trongnghĩa của từng từ.
Ví dụ 1 : Bài tập 2, tiết Luyện từ và câu tuần 25 (Tiếng việt 2 tập 2 trang 64):
Tìm từ trong ngoặc đơn hợp với mỗi nghĩa sau :
- Dòng nước chảy tương đối lớn, trên đó thuyền bè đi lại được
- Dòng nước chảy tự nhiên ở đồi núi
- Nơi đất trũng chứa nước, tương đối rộng và sâu, ở trong đất liền
( sông, suối, hồ)
Với bài tập này, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh cách làm như sau:
Để biết được “Dòng nước chảy tương đối lớn, trên đó thuyền bè đi lại được” là định nghĩa cho từ nào trong các từ “sông”, “ suối”, “hồ” ta sẽ thử bằng
cách ghép nối Nếu ghép với từ “ suối” sẽ không được vì dòng suối nhỏ, chảy tựnhiên ở đồi núi Nếu ghép với “ hồ” cũng không được vì hồ có bờ bao quanh,sâu, rộng nên không thể có dòng nước chảy tương đối lớn Vì vậy ta phải ghépphần giải thích này với từ “ sông”
Ví dụ 2 : Bài tập 3, tiết Luyện từ và câu tuần 34 (Tiếng việt 2 tập 2 trang 137):
Chọn ý thích hợp ở cột B cho các từ ở cột A
Công nhân a Cây lúa, trồng khoai, nuôi lợn(heo), thả cá
Nông dân b Chỉ đường, giữ gìn trật tự hàng xóm, phố phường,
bảo vệ nhân dân.
Công an c Bán sách, bút, vải, gạo, bánh kẹo, đồ chơi, ô tô, máy cày,… Bác sỹ d Làm giấy viết, vải mặc, giày dép, bánh kẹo, thuốc
chữa bệnh, ô tô, máy cày
Người bán hàng e Khám và chữa bệnh
Với cách thử ghép nối như ở ví dụ 1, giáo viên cũng sẽ giúp học sinh nốiđúng theo yêu cầu của đề bài
Dạng 2 : Nhận biết nghĩa của từ dựa vào từ đồng nghĩa, trái nghĩa:
Ví dụ 1 : Bài tập 2, tiết Luyện từ và câu tuần 34 (Tiếng việt 2 tập 2 trang 137):
Hãy giải thích từng từ dưới đây bằng từ trái nghĩa với nó
- Trẻ con
- Cuối cùng
- Xuất hiện
- Bình tĩnh
M : Trẻ con : trái nghĩa với người lớn
Khi dạy dạng bài tập này, giáo viên hướng dẫn các em hiểu hoặc nhớ lạikiến thức thế nào là từ trái nghĩa, sau đó cho học sinh tìm từ Việc các em tìmđược từ trái nghĩa với từ cho trước tức là các em đã hiểu được nghĩa của từ, vàthông thường từ một từ cho trước có thể tìm được rất nhiều từ trái nghĩa như:
đứng trái nghĩa với ngồi, đi, chạy, ; Ngọt trái nghĩa với nhạt, mặn, đắng,