Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN
HỌC ĐƯỜNG CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG
PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ THPT
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN, 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN
HỌC ĐƯỜNG CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG
PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ THPT
TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ TRỌNG TUẤN
THÁI NGUYÊN, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn: “Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường
cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên” là của
riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Lê Trọng Tuấn Luận văn sử dụng
những thông tin được ghi rõ nguồn gốc, những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chưa hề được sử dụng và công bố ở bất kỳ một công trình
nghiên cứu nào khác
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Trường Giang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Trường Đại học Sư phạm
- Đại học Thái Nguyên, khoa Sau đại học, khoa Tâm lí - Giáo dục, các thầy cô giáo khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên trực tiếp giảng dạy lớp Thạc sỹ QLGD K25A đã quan tâm, tận tình giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi
và giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu tại Trường
Tác giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Lê Trọng Tuấn, người đã tận tâm, trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình, tạo mọi điều kiện của Ban Giám hiệu và giáo viên trường phổ thông dân tộc nội trú Thái Nguyên và trường phổ thông Vùng cao Việt Bắc đã cung cấp cho tôi những tư liệu bổ ích, đóng góp ý kiến, tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng luận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tác giả xin trân trọng tiếp thu những ý kiến chỉ bảo, góp ý xây dựng của các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo đồng nghiệp để tiếp tục hoàn thiện luận văn
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Trường Giang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN HỌC ĐƯỜNG CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 6
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 7
1.2 Khái niệm cơ bản 10
1.2.1 Tổ chức 10
1.2.2 Bồi dưỡng 11
1.2.3 Tư vấn học đường 12
1.2.4 Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên 13
1.3 Tư vấn học đường ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT 14
Trang 61.3.1 Trường phổ thông dân tộc nội trú trong hệ thống giáo dục quốc dân 14
1.3.2 Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú 17
1.3.3 Hoạt động tư vấn học đường ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT 19
1.4 Bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV trường phổ thông dân tộc nội trú THPT 22
1.4.1 Vai trò và nhiệm vụ của GV trong tư vấn học đường ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT 22
1.4.2 Mục tiêu và ý nghĩa của hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT 25
1.4.3 Nội dung bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT 26
1.4.4 Phương pháp và hình thức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT 29
1.4.5 Quá trình hình thành và phát triển kỹ năng tư vấn học đường của GV ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT 32
1.5 Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV trường phổ thông dân tộc nội trú THPT 34
1.5.1 Lập kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho giáo viên 34
1.5.2 Tổ chức hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho giáo viên 35
1.5.3 Chỉ đạo, triển khai hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho giáo viên 35
1.5.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho giáo viên 36
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT 37
1.6.1 Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo 37
1.6.2 Nhận thức và năng lực của người lãnh đạo, quản lý 37
1.6.3 Nhận thức và trình độ chuyên môn, năng lực của GV 38
1.6.4 Cơ sở vật chất để thực hiện hoạt động bồi dưỡng 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40
Trang 7Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN HỌC ĐƯỜNG CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG PHỔ
THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ THPT TỈNH THÁI NGUYÊN 41
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo tỉnh Thái Nguyên 41
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên 41
2.1.2 Giáo dục và đào tạo tỉnh Thái Nguyên 42
2.1.3 Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú THPT ở tỉnh Thái Nguyên 43
2.1.4 Vài nét về giáo viên và học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên 43
2.2 Mục tiêu, đối tượng, nội dung, phương pháp khảo sát 44
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 44
2.2.2 Đối tượng khảo sát 44
2.2.3 Nội dung khảo sát 44
2.2.4 Phương pháp khảo sát 44
2.3 Thực trạng về hoạt động TVHĐ ở các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên 45
2.3.1 Thực trạng về nhận thức của CBQL, GV về vai trò của hoạt động TVHĐ ở các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên 45
2.3.2 Thực trạng về nhận thức của CBQL, GV về mức độ cần thiết của các kỹ năng TVHĐ ở các trường PTDTNT THPT tỉnh Thái Nguyên 48
2.3.3 Thực trạng kỹ năng TVHĐ của giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên 49
2.3.4 Thực trạng về mức độ thực hiện các nhiệm vụ TVHĐ cho học sinh của GV ở các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên 51
2.3.5 Thực trạng về nội dung bồi dưỡng hoạt động TVHĐ cho giáo viên ở các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên 54
2.3.6 Thực trạng hình thức tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV ở các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên 55
Trang 82.3.7 Thực trạng phương pháp tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV
các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên 58
2.3.8 Nhận thức của học sinh về vai trò, nhu cầu và thực trạng TVHĐ trong các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên 59
2.4 Thực trạng về tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên 61
2.4.1 Thực trạng lập kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên 61
2.4.2 Thực trạng tổ chức hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên 65
2.4.3 Thực trạng chỉ đạo, triển khai hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên 68
2.4.4 Thực trạng về công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV các trường PTDTNT trú THPT tỉnh Thái Nguyên 69
2.4.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên 71
2.5 Đánh giá về thực trạng tổ chức hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên 73
2.5.1 Điểm mạnh 73
2.5.2 Những hạn chế 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 74
Chương 3: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN HỌC ĐƯỜNG CHO GV CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ THPT TỈNH THÁI NGUYÊN 75
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 75
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 75
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, kế thừa và phát triển 75
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 76
Trang 93.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ, toàn diện 77
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 77
3.2 Một số biện pháp bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên 77
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho CBQL, GV về hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV các trường PTDTNT THPT, tỉnh Thái Nguyên 78
3.2.2 Xây dựng kế hoạch, chương trình bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV phù hợp với đặc thù các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT 81
3.2.3 Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ phù hợp với GV các trường PTDTNT THPT tỉnh Thái Nguyên 82
3.2.4 Xây dựng chế độ hỗ trợ về tài chính, cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV 85
3.2.5 Tăng cường hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV 86
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 88
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 89
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 89
3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 89
3.4.3 Đối tượng khảo nghiệm 89
3.4.4 Phương pháp khảo nghiệm 90
3.4.5 Kết quả khảo nghiệm 90
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 95
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96
1 Kết luận 96
2 Khuyến nghị 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHẦN PHỤ LỤC
Trang 10BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
3 GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả khảo sát nhận thức của CBQL, GV về vai trò của hoạt
động TVHĐ 46
Bảng 2.2 Nhận thức của CBQL, GV về mức độ cần thiết của các kỹ năng TVHĐ 48
Bảng 2.3 Thực trạng kỹ năng TVHĐ của GV 50
Bảng 2.4 Thực trạng về mức độ thực hiện nhiệm vụ TVHĐ của GV 52
Bảng 2.5 Thực trạng về nội dung bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV 54
Bảng 2.6 Thực trạng về hình thức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV 56
Bảng 2.7: Thực trạng về mức độ phù hợp của các phương pháp bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV 58
Bảng 2.8 Kết quả khảo sát nhận thức của học sinh về vai trò của hoạt động TVHĐ 59
Bảng 2.9 Kết quả khảo sát về nhu cầu cần tư vấn của học sinh 60
Bảng 2.10 Kết quả khảo sát về các nội dung TVHĐ của GV 61
Bảng 2.11 Thực trạng các căn cứ để xây dựng nội dung kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho giáo viên 62
Bảng 2.12 Thực trạng chất lượng việc lập kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ 64
Bảng 2.13 Thực trạng công tác tổ chức hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ 66
Bảng 2.14 Thực trạng về công tác chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ 68
Bảng 2.15 Thực trạng về công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ 70
Bảng 2.16 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV 71
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết của các biện pháp đề xuất 90
Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp đề xuất 92
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ 2.1 Kết quả khảo sát nhận thức của CBQL, GV về vai trò của hoạt
động TVHĐ 46
Biểu đồ 2.2 Nhận thức của CBQL, GV về mức độ cần thiết của các kỹ năng TVHĐ 49
Biểu đồ 2.3 Thực trạng kỹ năng TVHĐ của GV 50
Biểu đồ 2.4 Thực trạng về mức độ thực hiện nhiệm vụ TVHĐ của GV 53
Biểu đồ 2.5 Thực trạng về nội dung bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV 54
Biểu đồ 2.6 Thực trạng về hình thức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV 57
Biểu đồ 2.7: Thực trạng về mức độ phù hợp của các phương pháp bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV 58
Biểu đồ 2.8 Thực trạng công tác tổ chức hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ 67
Biểu đồ 2.9 Thực trạng về công tác chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ 68
Biểu đồ 2.10 Thực trạng về công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ 70
Biểu đồ 2.11 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV 72
Hình 3.1 Mô hình hóa các biện pháp bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái nguyên 89
Biểu đồ 3.1 Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết của các biện pháp đề xuất 91
Biểu đồ 3.2 Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp đề xuất 93
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, nền kinh tế của Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực GDP hàng năm liên tục tăng nhanh tạo ra sự chuyến biến nhanh chóng về tất cả mọi mặt trong đời sống của con người Việt Nam Sự phát triển với tốc
độ nhanh và đầy biến động của nền kinh tế - xã hội, các yêu cầu ngày càng cao của nhà trường và cả những điều bất cập trong thực tiễn giáo dục; thêm vào đó là sự kỳ vọng ngày càng nhiều của bố mẹ, thầy cô đang tạo ra những áp lực rất lớn và gây căng thẳng cho học sinh trong cuộc sống, trong học tập và trong quá trình phát triển nhân cách Mặt khác, sự hiểu biết của học sinh về bản thân mình cũng như kỹ năng sống của các em vẫn còn hạn chế trước những sức ép nói trên Thực tế cho thấy học sinh trong nhà trường phổ thông có thể có những rối loạn về phát triển tâm lý, những rối loạn về cảm xúc như lo
âu, trầm cảm hay những rối loạn về hành vi (như vi phạm kỷ luật, bỏ học, trốn học, trộm cắp, bạo lực…) Hậu quả là ngày càng có nhiều học sinh gặp không ít khó khăn trong học tập, tu dưỡng đạo đức, xây dựng lý tưởng sống cho mình cũng như xác định cách thức ứng xử cho phù hợp trong các mối quan hệ xung quanh
Đối với học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú ngoài những đặc điểm chung về tâm, sinh lý lứa tuổi, các em hầu hết là con em các dân tộc thiểu số, từ vùng sâu, vùng xa đến học tập và sinh hoạt tập thể tại trường, thiếu kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng đối phó với những khó khăn trong cuộc sống và kỹ năng tự phục vụ bản thân Vì vậy, những học sinh này rất cần được sự trợ giúp của các nhà chuyên môn, của thầy cô giáo và bố mẹ Đứng trước thực trạng trên cho thấy rất cần có những hoạt động tư vấn học đường cho học sinh Việc xây dựng các hoạt động tư vấn cho học sinh trong nhà trường sẽ giúp cho giáo viên và học sinh hiểu biết rõ hơn về những vấn đề liên quan tới sự hình thành và phát triển nhân cách của các em để giúp đỡ và hướng cho các em phát triển một cách đúng đắn, lành mạnh, hiểu về bản thân và người khác tốt hơn
Thực hiện chính sách dân tộc về giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước, tỉnh Thái Nguyên đã thành lập được một hệ thống các trường dân tộc nội trú từ cấp THCS (ở các huyện Võ Nhai, Đồng Hỷ, Đại Từ, Phú Lương, Định Hóa) đến cấp
Trang 14THPT Các trường phổ thông dân tộc nội trú hoạt động theo mô hình trường chuyên biệt với nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục học sinh có hộ khẩu thường trú tại các xã, thôn (bản) có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Ngoài thời gian tiếp thu, lĩnh hội kiến thức trên lớp, các em có nhiều hoạt động học tập, vui chơi và các sinh hoạt khác trong môi trường nội trú Những hoạt động đó có ảnh hưởng rất nhiều đến việc hình thành và phát triển nhân cách các em Do đó trách nhiệm trong công tác giáo dục và tư vấn của các thầy giáo, cô giáo đối với các em là hết sức quan trọng và cần thiết Đội ngũ GV các trường đều
có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, do vậy chất lượng đội ngũ đảm bảo cho việc dạy học, GV thường xuyên được bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, về đổi mới phương pháp dạy học, các phương pháp dạy học tích cực Tuy nhiên, chưa có GV được đào tạo hoặc được bồi dưỡng một cách bài bản
về công tác TVHĐ Đội ngũ giáo viên trong lĩnh vực TVHĐ còn thiếu, việc mời các chuyên gia trong các lĩnh vực để bồi dưỡng cho GV còn khó khăn về kinh phí, thời gian, các cơ quan quản lí giáo dục các cấp cũng như hiệu trưởng các trường phổ thông đã quan tâm đến công tác TVHĐ, nhưng do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan còn lúng túng trong chỉ đạo, do vậy công tác bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho
GV chưa hiệu quả dẫn đến năng lực TVHĐ của nhiều GV chưa tốt, chưa hiệu quả,
và nó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả giáo dục toàn diện học sinh trong các nhà trường Nhiều GV không biết tiếng dân tộc, chưa hiểu rõ về phong tục, tập quán cũng như tâm, sinh lí đối với học sinh dân tộc Hơn thế nữa một bộ phận GV đề cao dạy kiến thức trên lớp, chưa coi trọng việc giáo dục toàn diện, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh, một bộ phận khác giáo dục học sinh theo kinh nghiệm, thiếu kỹ năng, vận dụng còn máy móc trong nhiều tình huống dẫn đến hiệu quả chưa cao
Hiện tại, hầu hết các nhà trường chưa có giáo viên chuyên trách làm công tác TVHĐ, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động tư vấn còn chưa đầy đủ Đội ngũ giáo viên làm công tác TVHĐ trong các nhà trường chủ yếu là GV các bộ môn: Ngữ văn, Giáo dục công dân; một số khác là GV dạy Lịch sử và Địa lí hay GV làm công tác Đoàn Thanh niên tham gia
Mặc dù hàng năm đội ngũ giáo viên kiêm nhiệm công tác tư vấn đều được tập
Trang 15huấn nâng cao trình độ nhưng nội dung tài liệu tập huấn còn chưa chuẩn hóa, cán bộ tập huấn không phải là chuyên gia TVHĐ có nhiều kinh nghiệm thực tế làm hạn chế năng lực tư vấn tư vấn của đội ngũ này
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Tổ
chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về thực trạng tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ của các
trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên, đề tài đề xuất một số biện pháp tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV các trường phổ thông dân tộc nội trú
THPT tỉnh Thái Nguyên nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác TVHĐ cho học sinh, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên nói riêng và chất lượng giáo dục và đào tạo
tỉnh Thái Nguyên nói chung
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài xác định các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV THPT 3.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV
các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên
3.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả tổ chức bồi dưỡng kỹ
năng TVHĐ cho GV các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên
4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV các trường PTDTNT
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV các trường phổ thông dân
tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên
5 Phạm vi nghiên cứu
Trang 16- Luận văn tập trung nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên
- Tổ chức khảo sát và khảo nghiệm ở 2 trường: trường phổ thông dân tộc nội trú
Thái Nguyên và trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc
- Sử dụng số liệu của năm học 2017-2018
6 Giả thuyết khoa học
Hiệu quả hoạt động TVHĐ cho học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên phụ thuộc một phần vào kỹ năng TVHĐ của đội ngũ
GV, nếu đánh giá đúng kỹ năng TVHĐ của đội ngũ GV và đề xuất được các biện pháp bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV một cách khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn của các nhà trường thì sẽ nâng cao kỹ năng TVHĐ cho GV các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa các tài liệu lý luận về hỗ trợ, tư vấn tâm lý học đường; nghiên cứu chủ trương của Đảng, Nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chiến lược phát triển giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng
để xây dựng khung lý thuyết cho đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2 1 Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát các hoạt động TVHĐ ở các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên, các hình thức tổ chức hoạt động của nhà quản lý nhằm thu thập thông tin thực tiễn cho đề tài
7.2.2 Phương pháp đàm thoại
Trao đổi, trò chuyện, phỏng vấn một số CBQL, GV ở các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên để tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân của thực trạng hoạt động tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ ở các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên, đồng thời làm sáng tỏ những thông tin thu nhận được từ phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
7.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Trang 17Phương pháp này được sử dụng với mục đích khảo sát nhu cầu, nhận thức, sự đánh giá của các khách thể điều tra về các hoạt động TVHĐ ở các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên
7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Phương pháp này được sử dụng với mục đích xin ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý, các GV có nhiều kinh nghiệm trong công tác tư vấn về việc xây dựng và
đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động TVHĐ ở các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên, đồng thời kiểm tra tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
7.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Phương pháp này được sử dụng với mục đích đánh giá, tổng kết công tác tổ chức bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV của Hiệu trưởng các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên để thu thập thêm thông tin thực tiễn cho đề tài
7.3 Các phương pháp bổ trợ
Sử dụng một số công thức toán thống kê, biểu đồ để xử lý và biểu đạt các kết quả nghiên cứu thực tiễn
8 Cấu trúc luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị; phụ lục, danh mục, tài liệu tham khảo, nội dung chính được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên trường phổ thông dân tộc nội trú THPT;
Chương 2: Thực trạng tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên;
Chương 3: Biện pháp tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN HỌC ĐƯỜNG CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG PHỔ THÔNG
DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Tư vấn và kỹ năng TVHĐ được nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, quan tâm, nghiên cứu và nó được đề cập ở trong nhiều tài liệu, sách, báo, tạp chí khác nhau
TVHĐ ở Hoa Kỳ được bắt đầu từ phong trào hướng nghiệp vào đầu thế kỷ XX bởi Jesse B Davis Ông được xem là người đầu tiên cung cấp một chương trình học có hướng dẫn một cách có hệ thống về vấn đề này Sau đó Frank Parons là người tiếp bước theo Jesse B David, ông là người sáng lập ra ngành hướng dẫn tư vấn nghề ở Hoa Kỳ Trong các cuốn sách ông đã xuất bản có cuốn “Cẩm nang hướng nghiệp”, đây
là cuốn sách trợ giúp mọi người trong việc lựa chọn nghề nghiệp, tìm ra cách bắt đầu
và xây dựng một nghề nghiệp thành công và hiệu quả Ông luôn mong muốn công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp được đưa vào các trường học Năm 1940 Carl Rogers nhấn mạnh vào việc giúp đỡ các mối quan hệ trong trường học Điều này đã ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành nghề TVHĐ [14].
Năm 1953, Hiệp hội các nhà tư vấn tâm lý học đường Hoa Kỳ (ASCA) tham gia vào APGA - một tổ chức tiền thân của Hiệp hội tư vấn tâm lý Hoa Kỳ hiện nay Năm 1962 cuốn sách “The Counselor in a Changing World” của tác giả Wrenn đã định chế hóa các mục tiêu của tư vấn học đường Năm 1964 ASCA phát triển các vai trò và chức năng dành cho các nhà TVHĐ [14].
Tiêu chuẩn quốc gia dành cho các chương trình TVHĐ (National Standards for School Counseling Programs) ra đời năm 1997 và kể từ đó ngành TVHĐ được xem như là đã hoàn thiện Hiện nay, Hiệp hội các nhà TVHĐ Hoa Kỳ (ASCA) được xem là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho chương trình tư vấn tâm lý học đường của hầu hết các nước trên thế giới
Ở Pháp, Hiệp hội tư vấn định hướng tâm lý Pháp (Association des conseillers d’orientation psychologues de France- ACOP Pháp), có chức năng hướng dẫn tư vấn viên
Trang 19/nhà tâm lý, trao đổi thông tin, phát triển sự nghiệp tư vấn, tổ chức và tham gia các hội thảo quốc gia và quốc tế về tư vấn và tâm lý Năm 1928, khóa đào tạo tư vấn hướng nghiệp đầu tiên tại Pháp được tổ chức, sử dụng thử nghiệm Binet, sau đó là các khóa tư vấn hướng
học và hướng nghiệp, đến năm 1972, đổi tên là khóa đào tạo tư vấn viên định hướng Đến
năm 1991, được chính thức công nhận bằng cấp tâm lý học
Ở Singapore đã thành lập Trung tâm tư vấn từ năm 1966 Đến năm 1976, thành lập Trung tâm Dịch vụ Chăm sóc học sinh (Student Care Service- SCS) Sau này, phát triển thành 3 trung tâm : Trung tâm Clementi (1983), Trung tâm Hougang (1989), Trung tâm Yishun (1995) Ngoài công tác trực tiếp giúp các học sinh phát huy tối đa tiềm năng và vượt qua những khó khăn trong học tập và đời sống, trung tâm còn đảm nhiệm đào tạo các tư vấn viên là giáo viên, do Phòng đào tạo nhân viên của Bộ Giáo dục tổ chức
Trong tài liệu “Tập huấn tham vấn cơ bản dành cho cộng đồng” của Unicef
cũng đề cập đến vấn đề phân biệt giữa tư vấn và tham vấn, các kỹ năng tham vấn, vai trò của tham vấn trong đời sống cộng đồng…
Những nghiên cứu nêu trên ở các khía cạnh khác nhau đã đề cập đến nội dung TVHĐ tuy chưa đầy đủ và chi tiết nhưng những thông tin trong tài liệu cung cấp là sơ
sở để tác giả xác định phần lý luận của đề tài
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, từ những năm 1977 đến năm 1980 công tác giáo dục hướng nghiệp được tổ chức thí điểm ở một số trường phổ thông tại một số địa phương Giai đoạn 1981-1986, Ban Giáo dục Hướng nghiệp Bộ Giáo dục tổ chức biên soạn tài liệu sinh
hoạt hướng nghiệp cho học sinh cuối cấp PTCS và các lớp PTTH
Những năm gần đây có một số công trình tiêu biểu: “Sinh hoạt hướng nghiệp
12” (1994), “Sinh hoạt hướng nghiệp 11” (1996) của Hoàng Kiện, Nguyễn Thế
Trường, Phạm Tất Dong Tài liệu “Những nẻo đường lập nghiệp” do Đặng Danh Ánh chủ biên (2003) giới thiệu một số ngành nghề nông-lâm-ngư nghiệp, công nghiệp, dịch
vụ và những gương thành đạt về lập thân, lập nghiệp của các bạn trẻ [9]
Từ đó đến nay, rất nhiều tác phẩm hướng nghiệp cho học sinh được phát hành trong và ngoài nhà trường, tác động vào thực tiễn phát triển giáo dục Tính đến năm
Trang 201996, cả nước đã có 320 Trung tâm Kỹ thuật Tổng hợp Hướng nghiệp, để thực hiện khâu tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông nhằm rèn luyện kỹ năng ban đầu về thực hành lao động kỹ thuật
Trong thực tiễn nhu cầu về tư vấn hướng nghiệp trong học sinh và trong xã hội
ngày càng cấp bách Tác phẩm “Giúp bạn chọn nghề” do Phạm Tất Dong (chủ biên
năm 2005): giới thiệu về nghề nghiệp trong xã hội, những nghề cần khuyến khích phát triển, cách chọn nghề và những vấn đề tâm lý cần chuẩn bị trước khi vào nghề Bộ sách
“Hoạt động Giáo dục hướng nghiệp” dùng cho GV lớp 9,10, 11,12 do Phạm Tất Dong
(chủ biên năm 2006, 2007) cùng với nhiều bộ sách hướng nghiệp cho thanh niên, gồm nhiều tập do nhiều tác giả viết chuyên về một số nghề, đang được phổ biến rộng rãi trong xã hội [9]
Tuy vậy, nhìn chung TVHĐ chỉ mới quan tâm đến tư vấn hướng nghiệp, nặng
về cung cấp thông tin về xu hướng tính cách con người so với đặc điểm và khả năng nghề nghiệp, đồng thời thông tin về tình hình thị trường lao động, dự báo nhân lực
…chưa quan tâm đúng mức tổ chức TVHĐ với đội ngũ giáo viên được đào tạo, có biên chế, có phòng làm việc
Năm 2005, với sự hỗ trợ của Ủy ban dân số gia đình trẻ em thành phố Hồ Chí Minh và UNICEF, Văn phòng Tư vấn trẻ em thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức hội
thảo “Kinh nghiệm bước đầu thực hiện mô hình tư vấn trong trường học.” Năm 2006,
với sự tài trợ của Trung tâm Nghiên cứu-tư vấn công tác xã hội và phát triển cộng đồng, Hội Khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học quốc gia tại thành
phố Hồ Chí Minh với chủ đề “ Tư vấn tâm lý giáo dục - lý luận, thực tiễn và định
hướng phát triển”
Năm 2008, Hội Khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam lại mở hội thảo ở Đồng Nai
với chủ đề “Giáo dục đạo đức học sinh, sinh viên ở nước ta: Thực trạng và giải pháp”
Đề cập đến giải pháp triển khai mô hình giáo dục tư vấn tâm lý và xây dựng nội dung giáo dục tâm lý ứng xử qua tư vấn học đường
Năm 2010, Các tỉnh: Khánh Hòa, Tây Ninh, Hậu Giang, …phối hợp với Trung tâm ứng dụng tâm lý giáo dục Phía Nam, hưởng ứng tinh thần công văn số 30-2009/CV-TWH của chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý-Giáo dục Việt Nam Phạm Minh
Trang 21Hạc phát huy kết quả của cuộc hội thảo khoa học nói trên, đứng ra tổ chức các lớp bồi
dưỡng Kỹ năng Tư vấn Tâm lý trong trường học, đẩy mạnh việc phổ biến rộng rãi tri thức khoa học tâm lý giáo dục trong nhà trường, tạo điều kiện cho các trường học thành lập phòng TVHĐ
Ngoài ra, phải kể đến các công trình nghiên cứu của Viện tâm lý học, khoa Tâm
lý - giáo dục của trường Đại học Sư Phạm, khoa Tâm lý học - trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, các tổ bộ môn Tâm lý Giáo dục của các trường Đại học, Cao đẳng sư phạm trong cả nước Đó là những cơ sở không chỉ đào tạo ngành tâm lý-giáo dục mà còn là những cơ sở nghiên cứu về tâm lý học đường ở Việt Nam Những nghiên cứu đã phần nào cho thấy khó khăn, rối nhiễu tâm lý mà học sinh hay gặp phải là rất
đa dạng Học sinh ở bất kì cấp học nào cũng đều có nguy cơ mắc phải những rối nhiễu này Điều này chứng tỏ rằng, hoạt động, tư vấn, hỗ trợ tâm lý học đường là rất cần thiết Với những hiệu quả mà dịch vụ mang lại, chắc chắn sẽ góp phần giúp các em giải quyết các khó khăn tâm lý, hạn chế tối đa những rối nhiễu tâm lý mà các em có khả năng gặp phải, đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần
Như vậy, TVHĐ tại Việt Nam là một trong những vấn đề mang tính thời sự cao, thu hút sự quan tâm không chỉ của các nhà quản lý, các chuyên gia, các tổ chức trong nước và quốc tế mà cả các em học sinh- sinh viên, các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo cũng phải quan tâm đến vấn đề này Tuy nhiên, để nó trở thành một hoạt động phổ biến trong trường học thì đòi hỏi phải có thời gian và sự nỗ lực lớn của không chỉ người làm công tác TVHĐ, các nhà quản lý mà còn của toàn xã hội Hơn nữa, vấn đề TVHĐ ở trường THPT hiện nay nhiều khi còn mang tính hình thức ít được chú trọng đến nội dung Do đó, chúng tôi cho rằng vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu một cách đầy
đủ hơn
Các công trình nghiên cứu về bồi dưỡng chuyên môn cho GV trong các trường THPT nhìn chung khá đa dạng và phong phú, trong đó đa số nghiên cứu về hoạt động dạy học, hoạt động tổ chuyên môn, động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động hướng nghiệp chưa có nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV ở trường THPT, đặc biệt là GV ở các trường phổ thông dân tộc nội trú,
vì vậy tác giả lựa chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu với mục đích đề xuất được
Trang 22một số biện pháp nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho
GV ở các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Thái Nguyên
1.2 Khái niệm cơ bản
1.2.1 Tổ chức
Khái niệm “Tổ chức” được nhiều ngành, nhiều tác giả, nhiều nhà nghiên cứu
đưa ra các khái niệm không giống nhau:
Theo phương diện danh từ, “Tổ chức” được hiểu là một nhóm người, một tập thể, một đơn vị nhất định trong xã hội Trong từ điển Tiếng Việt cho rằng (2002): "Tổ
chức là tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì những quyền lợi, lợi ích chung nhằm một mục đích chung" [19]
Triết học định nghĩa “Tổ chức, nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật Sự vật
không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật” [16]
Tổ chức là thuộc tính của sự vật, nói cách khác sự vật luôn tồn tại dưới dạng tổ chức nhất định
Trong cuốn “Sổ tay nghiệp vụ cán bộ làm công tác tổ chức nhà nước” định nghĩa: “Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phối một cách có ý thức, có phạm vi
tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung (của tổ chức)” [22]
Theo phương diện động từ thì “Tổ chức” được xem như một hoạt động, tổ chức
là một trong các chức năng của nhà quản lý Đó là một quá trình đề ra những sự liên hệ chính thức giữa những con người và tài nguyên để đi đến mục tiêu Theo Giáo sư George P.Huber và Reuben R McDaniel, chức năng tổ chức là sự phối hợp các nỗ lực qua việc thiết lập một cơ cấu về cách thực hiện công việc trong tương quan với quyền hạn Nói một cách khác, chức năng tổ chức là tiến trình sắp xếp và các công việc tương đồng thành từng nhóm, để giao phó cho từng khâu nhân sự có khả năng thi hành, đồng thời phân quyền cho từng khâu nhân sự tùy theo công việc được giao phó
Vì vậy có thể hiểu: Tổ chức là chức năng của nhà quản lý, đó là quá trình sắp
xếp, phân công công việc trong đơn vị, đồng thời phối hợp hoạt động của đơn vị theo một xu hướng chung nhằm đạt được các mục tiêu của quản lý
Để quá trình tổ chức hoạt động diễn ra có hiệu quả, nhà quản lý cần lập kế hoạch
Trang 23cho việc triển khai hoạt động, đồng thời chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá việc triển khai
kế hoạch một cách cụ thể, sát sao Như vậy, chức năng tổ chức của nhà quản lý không thể tách rời các chức năng: lập kế hoạch, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá hoạt động trong đơn vị
1.2.2 Bồi dưỡng
Khái niệm “Bồi dưỡng” được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và đưa ra nhiều
định nghĩa khác nhau:
Theo từ điển Tiếng Việt, "Bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm
chất" [19] Theo các tài liệu của UNESCO bồi dưỡng được hiểu như sau: Bồi dưỡng
là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ để nâng cao năng lực, trình
độ, phẩm chất của người lao động về một lĩnh vực hoạt động mà người lao động đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó Bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hay kỹ năng chuyên nghiệp
Tác giả Nguyễn Minh Đường quan niệm "Bồi dưỡng có thể là một quá trình
cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu đã lạc hậu trong cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng chứng chỉ" [13]
Từ những quan niệm có thể hiểu:
- Chủ thể của hoạt động bồi dưỡng đã được đào tạo để có một trình độ chuyên môn nhất định
- Bồi dưỡng thực chất là quá trình cập nhật bổ sung tri thức, kỹ năng để nâng cao trình độ trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào đó
Xem xét khái niệm bồi dưỡng trong Giáo dục - Đào tạo, bồi dưỡng được hiểu
là một dạng đào tạo phi chính qui, về bản chất bồi dưỡng là một hình thức đào tạo, người được bồi dưỡng là CBQL, GV, viên chức đang phục vụ trong các cơ quan quản
lý giáo dục, các cơ sở đào tạo, trong các trường học
Vì vậy có thể hiểu: “Bồi dưỡng chính là quá trình cập nhật kiến thức, kỹ năng
cho đối tượng bồi dưỡng trên cơ sở của những kiến thức và kỹ năng hiện có ở đối tượng giáo dục thông qua sử dụng hệ thống các phương pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng phù hợp nhằm cải thiện năng lực lao động, năng lực hoạt động cho đối tượng bồi
Trang 24dưỡng đáp ứng được yêu cầu và vị trí việc làm của đối tượng bồi dưỡng”
Hoạt động bồi dưỡng là các hoạt động cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cho đối tượng bồi dưỡng nhằm giúp họ nâng cao kiến thức, kỹ năng, cải thiện năng lực lao động trong thực tiễn đáp ứng tốt những yêu cầu của xã hội đề ra
1.2.3 Tư vấn học đường
1.2.3.1 Tư vấn học đường
TVHĐ (school cuonseling) là một hoạt động khá mới đối với giáo dục Việt
Nam Do xuất phát điểm là yêu cầu tư vấn tâm lý trẻ em ngoài xã hội (1997) đưa vào trường học, nên hiện nay, ở nước ta, hầu hết đều hiểu đơn giản: TVHĐ bao gồm tư vấn tâm lý và tư vấn hướng nghiệp
Ở Mỹ, TVHĐ bắt đầu từ tư vấn hướng nghiệp được đưa vào nhà trường chính thức trở thành nghiệp vụ của một nghề nghiệp mới vào những năm đầu của thế kỷ 20, đến những năm 1950,1960 TVHĐ có thêm một nhiệm vụ rất quan trọng là tư vấn tâm
lý trong nhà trường
Tư vấn là cung cấp thông tin, kiến thức chỉ ra điều hay lẽ phải, những hiện tượng khoa học, đạo lý, luật pháp, thông tin cần thiết về một vấn đề mà người được tư vấn chưa rõ…(đồng nghĩa với cố vấn, hướng dẫn, khải đạo, …) như tư vấn hướng nghiệp,
tư vấn tâm lý, tư vấn hướng nghiệp…
Tư vấn hướng nghiệp, chủ yếu cung cấp thông tin, giúp người trẻ tuổi định hướng tương lai phải hoạt động sinh sống, giúp người trưởng thành lựa chọn, chuyển đổi nghề cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội Một nhu cầu cần được đáp ứng rất thiết trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa của thế giới
Tư vấn tâm lý, do những nhà tâm lý phụ trách, giỏi kỹ năng giao tiếp, lắng nghe, thấu hiểu và biết cách khơi dậy, khai thác vấn đề uẩn khúc, hỗ trợ người được tư vấn thực hiện quyết định thay đổi, thoát khỏi tình trạng hoặc trạng thái tâm lý bị ràng buộc
cũ
Tư vấn tâm lý trong trường học đòi hỏi nhà trường phải có người thầy giỏi
về tâm lý giáo dục, luôn sẵn sàng và giỏi kỹ năng lắng nghe, chia sẻ, làm cho nhà trường trở thành thân thiện, trở thành nơi học sinh cảm thấy hứng thú trong học tập, trong quan hệ thầy trò, bạn bè, hoạt động thanh niên, hoạt động học tập, nghiên cứu
Trang 25khoa học
1.2.3.2 Kỹ năng tư vấn học đường
Tác giả Chu Liên Anh cho rằng“Kỹ năng tư vấn là sự vận dụng kiến thức, kinh
nghiệm nghề nghiệp của người tư vấn vào việc xây dựng mối quan hệ tin cậy, bình đẳng với khách hàng, trao đổi thông tin để cung cấp giải đáp, giúp họ đưa ra được quyết định tốt nhất cho vấn đề khó khăn mà họ gặp phải” [1]
Theo khái niệm này, nội hàm của kỹ năng tư vấn gồm các nội dung sau:
- Kỹ năng tư vấn được hình thành trên cơ sở của việc vận dụng hiểu biết, tri thức
và giá trị nghề nghiệp Đó là các hiểu biết về mục đích của tư vấn, về các nguyên tắc, giá trị của tư vấn và các hiểu biết, kinh nghiệm xã hội
- Kỹ năng tư vấn được thể hiện ra bên ngoài bằng tập hợp các thao tác hay các hành động để xây dựng mối quan hệ và tìm hiểu, cung cấp thông tin
- Kết quả của sự vận dụng kỹ năng tư vấn giúp người được tư vấn có khả năng
tự quyết định được phương thức giải quyết vấn đề một cách hiệu quả Khi đề cập đến
kỹ năng TVHĐ có thể hình dung ngay đến kỹ năng hướng dẫn, tư vấn của GV đối với những vấn đề học sinh đang cần hỗ trợ và giúp đỡ, ở đây chính là sự vận dụng kinh nghiệm, tri thức, năng lực ở GV một cách linh hoạt phù hợp để hỗ trợ học sinh giải quyết những khó khăn khi họ gặp phải
Từ những phân tích trên, khái niệm kỹ năng TVHĐ có thể được hiểu như sau:
Kỹ năng TVHĐ là sự vận dụng kiến thức và kỹ năng tư vấn của nhà giáo dục (giáo viên) vào quá trình hỗ trợ, trợ giúp học sinh, giúp các em vượt qua được những trở ngại và khó khăn trong học tập, trong mối quan hệ với những người xung quanh, trong tham gia hoạt động giáo dục một cách hiệu quả đồng thời tạo điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình phát triển nhân cách của các em
1.2.4 Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho giáo viên
Tổ chức bồi dưỡng giáo viên là một trong những nội dung của công tác quản lý giáo dục, là quá trình tác động của chủ thể quản lý giáo dục tới khách thể quản lý (tập thể giáo viên) tạo điều kiện cho giáo viên, đồng thời cũng là những yêu cầu và chuyển hóa yêu cầu thành nhu cầu tham gia các hoạt động bồi dưỡng được tổ chức trong và ngoài nhà trường ở mỗi giáo viên thông qua quá trình triển khai hiệu quả các phương
Trang 26pháp, hình thức tổ chức trong các đơn vị giáo dục Thông qua các cách thức tổ chức hiệu quả của nhà quản lý giúp cho mỗi giáo viên nhận thức được việc cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ là cần thiết, nhận thức được những yêu cầu của nghề đặt ra áp lực cho chính đội ngũ GV, từ đó họ nhận thức được việc tham gia các lớp bồi dưỡng là cần thiết Đồng thời bên cạnh đó, trong quá trình tổ chức cũng rất cần những thiết chế cụ thể để chuyển hóa nhận thức của GV thành những hành động
cụ thể, thành quá trình tham gia vào các hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm nhằm đáp ứng yêu cầu của người GV trong giai đoạn hiện nay
Từ những phân tích trên có thể được hiểu như sau: Tổ chức bồi dưỡng kĩ năng
tư vấn học đường cho GV là quá trình tổ chức, hướng dẫn của nhà quản lý, cơ quan quản lý nhằm trang bị thêm kiến thức, kỹ năng giúp giáo viên nâng cao kỹ năng tư vấn học đường, phát triển hệ thống kỹ năng TVHĐ cho GV đáp ứng yêu cầu năng lực người
GV trong giai đoạn hiện nay
Cán bộ quản lý phải có những biện pháp tổ chức mang tính đồng bộ thì mới đảm bảo được hoạt động bồi dưỡng kĩ năng TVHĐ cho GV diễn ra liên tục, thường xuyên, hiệu quả
Tổ chức hoạt động bồi dưỡng giáo viên nói chung, bồi dưỡng kĩ năng TVHĐ cho GV nói riêng là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý giáo dục tới khách thể quản lý (GV) tạo cơ hội cho GV tham gia các hoạt động bồi dưỡng trong và ngoài nhà trường nhằm cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng về TVHĐ, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm nghề nghiệp nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực sư phạm của GV đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục đào tạo trong bối cảnh xã hội hiện nay
1.3 Tư vấn học đường ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT
1.3.1 Trường phổ thông dân tộc nội trú trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1.1 Vai trò, tính chất của trường phổ thông dân tộc nội trú
Trường phổ thông dân tộc nội trú là loại hình trường chuyên biệt mang tính chất phổ thông, dân tộc và nội trú được Nhà nước thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ và nguồn nhân lực có chất lượng cho vùng này Trường phổ thông dân tộc nội trú có vai trò quan trọng trong sự
Trang 27nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số [5]
Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú gồm: Trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện đào tạo cấp trung học cơ sở (THCS) được thành lập tại các huyện miền núi, hải đảo, vùng dân tộc Trường phổ thông dân tộc nội trú cấp tỉnh đào tạo cấp trung học phổ thông (THPT) được thành lập tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
1.3.1.2 Nhiệm vụ của trường phổ thông dân tộc nội trú
Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ của trường trung học quy định tại Điều lệ trường trung học [7] hiện hành, trường phổ thông dân tộc nội trú còn thực hiện các nhiệm vụ khác theo Thông tư số 01/2016/TT- BGDĐT ngày 15/01/2016 của Bộ GD&ĐT về ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trường Phổ thông dân tộc nội trú [5] như sau:
- Tuyển sinh đúng đối tượng và chỉ tiêu được giao hằng năm
- Giáo dục học sinh những nội dung: Chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng
và Nhà nước; bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Việt Nam; ý thức tham gia phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở vùng khó khăn sau khi tốt nghiệp; Giáo dục kỹ năng sống và kỹ năng hoạt động xã hội phù hợp với học sinh phổ thông dân tộc nội trú; Giáo dục lao động, hướng nghiệp và dạy nghề truyền thống phù hợp với năng lực của học sinh và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
- Tổ chức công tác nội trú cho học sinh, bảo đảm 100% học sinh của nhà trường được ăn, ở nội trú
- Theo dõi, thống kê số lượng học sinh đã tốt nghiệp hằng năm của nhà trường tiếp tục học ở cấp học, trình độ cao hơn hoặc trở về địa phương tham gia công tác, lao động sản xuất nhằm đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục [5]
1.3.1.3 Việc thực hiện chương trình và các hoạt động giáo dục trong trường phổ thông dân tộc nội trú
Trường phổ thông dân tộc nội trú thực hiện chương trình giáo dục và các hoạt
Trang 28động giáo dục của cấp học phổ thông tương ứng được quy định tại Điều lệ trường trung học hiện hành, ngoài ra còn thực hiện chương trình và các hoạt động giáo dục đặc thù sau:
- Trường phổ thông dân tộc nội trú tổ chức dạy học 2 buổi/ngày theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo Căn cứ chương trình giáo dục và kế hoạch thời gian năm học, nhà trường xây dựng kế hoạch dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục phù hợp với điều kiện của nhà trường và đối tượng học sinh
- Tổ chức, quản lý công tác nuôi dưỡng và chăm sóc học sinh nội trú gồm: + Tổ chức bếp ăn tập thể cho học sinh đảm bảo dinh dưỡng theo đúng chế độ học bổng được cấp, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm theo quy định Hoạt động nuôi dưỡng được thực hiện công khai, dân chủ, tôn trọng phong tục tập quán tiến bộ của các dân tộc;
+ Chăm sóc sức khỏe học sinh nội trú và giáo dục học sinh biết tự chăm sóc bản thân;
+ Tổ chức và quản lý học sinh trong khu nội trú của trường; tự học của học sinh ngoài giờ chính khóa, hoạt động trải nghiệm sáng tạo Giáo dục học sinh tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, xây dựng nếp sống văn minh, giữ gìn vệ sinh và bảo
vệ môi trường
- Hoạt động lao động, văn hóa, văn nghệ, thể thao gồm:
+ Lao động công ích, tăng gia sản xuất để cải thiện điều kiện ăn, ở, học tập của học sinh;
+ Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao: sinh hoạt văn nghệ, thể dục thể thao, hoạt động theo chủ đề, chủ điểm, tham quan du lịch, lễ hội, tết dân tộc; giao lưu văn hóa và các hoạt động xã hội khác nhằm giáo dục lòng yêu nước, đạo đức, lối sống, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, xóa bỏ các tập tục lạc hậu, góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh
- Phối hợp với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn để tổ chức giáo dục nghề nghiệp theo nhu cầu của học sinh, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội
ở địa phương [5]
Như vậy trường phổ thông dân tộc nội trú là loại hình trường chuyên biệt, vừa
Trang 29có tính phổ thông, vừa có tính dân tộc lại có đặc thù nội trú Học sinh là người dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, các em ở nội trú tại trường Do vậy GV ngoài việc giảng dạy trên lớp còn có nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý và tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhiều hơn GV các trường phổ thông khác Tính chất dân tộc và nội trú chính là đặc điểm khác biệt so với các loại hình trường phổ thông còn lại
1.3.2 Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú
Học sinh THPT có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kì phát triển của trẻ, vì nó là thời kì chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kì quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị” Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất và tinh thần, học sinh đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức,… của thời kì này
Học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú có những đặc điểm tâm sinh lý như
Học sinh THPT ngoài ra các em còn có những nét khác biệt hơn như sau:
Các nét tâm lý như ý chí rèn luyện, óc quan sát, trí nhớ, tính kiên trì, tính kỉ luật…của học sinh các trường nội trú chưa được chuẩn bị chu đáo Việc học chưa thực
sự được coi trọng vì thiếu động cơ thúc đẩy Các em thường có những biểu hiện: lười học bài, kết quả không cao, vi phạm kỉ luật, đây không phải là bản chất nhưng có thể
là do các em chưa có sự thích ứng với môi trường học tập mới
Nhận thức cảm tính của học sinh phát triển khá tốt, do sống trong môi trường với không gian rộng, tiếp xúc nhiều với thiên nhiên Cảm giác, tri giác của các em có những nét độc đáo, tuy nhiên còn thiếu toàn diện, cảm tính Đặc điểm nổi bật nhất trong
tư duy của học sinh dân tộc là thói quen lao động trí óc chưa bền, ngại suy nghĩ, ngại động não, các em thường suy nghĩ một chiều, ngại đi sâu vào những vấn đề rắc rối, phức tạp, dễ dàng thừa nhận những điều người khác nói Khả năng tư duy độc lập và
óc phê phán còn hạn chế, những vấn đề đòi hỏi phải suy nghĩ các em khó thực hiện được
Quá trình chú ý của học sinh đã phát triển, song lại hay quên Việc áp dụng kiến
Trang 30thức của học sinh và giải quyết những tình huống mới rất khó khăn, chưa có nhiều sáng tạo Chính những đặc điểm về tư duy của học sinh đã ảnh hưởng đến quá trình tâm lý khác của trí nhớ, chú ý và đây cũng chính là một trong những nguyên nhân của việc thiếu cố gắng, thiếu khả năng phê phán và cứng nhắc trong hoạt động nhận thức Các
em có thói quen suy nghĩ một chiều, dễ thừa nhận những điều người khác nói
Khả năng tư duy lí luận còn thấp so với yêu cầu, trình độ các thao tác tư duy, khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát còn hạn chế Đây chính là những nét khác biệt giữa nhận thức của học sinh dân tộc so với học sinh người kinh ở cùng lứa tuổi
Trong giao tiếp các em thường thiếu mềm mỏng nhưng thẳng thắn, chân thành, tuy nhiên do khả năng diễn đạt còn hạn chế, các em thiếu tự tin trong giao tiếp nên các
em ngại tiếp xúc, ngại phát biểu để bảo vệ ý kiến của mình Học sinh còn bị động trong cách học, ngại trao đổi với bạn bè, với thầy cô giáo Tính tích cực trong giao tiếp của học sinh chưa cao, do đặc điểm nhận thức hạn chế, khả năng ngôn ngữ chi phối Quá trình học tập ở trường phổ thông dân tộc nội trú, học sinh có nhiều cơ hội hơn trong giao tiếp, cường độ tiếp xúc của các em nhiều hơn so với các trường khác Điều này có được là do tính chất nội trú và những đặc điểm quản lý tập trung và toàn bộ hoạt động được diễn ra trong không gian nội trú Đây là nét đặc thù riêng của trường nội trú, khác với các trường khác
Các em coi trọng tình bạn vì thế tình bạn của các em rất bền vững, gắn bó, ít thay đổi Các em sống rất tình cảm và luôn mong muốn giải quyết vấn đề bằng tình cảm Đây chính là một đặc điểm nổi bật cần chú ý trong công tác chủ nhiệm, công tác quản lý, giáo dục, tư vấn ở các trường phổ thông dân tộc nội trú
Sự phát triển nhân cách của các em đã tương đối ổn định Các em sống trung thực, thẳng thắn, giản dị và hồn nhiên, yêu quý lao động, dễ tin và đã tin là tin tuyệt đối Các em có lòng tự trọng cao nhưng hay bảo thủ, tự ái Tuy nhiên, các em thường hay tự ti, mặc cảm cho mình là yếu kém, lạc hậu không thể học giỏi được Các em thường khó lấy lại lòng tin khi đã bị mất Lối sống phóng khoáng là nét điển hình của học sinh dân tộc Đặc biệt là tính tự ti, bởi đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thiếu cố gắng, thiếu nỗ lực trong học tập của học sinh Việc giải quyết và khắc phục tính tự ti của học sinh dân tộc được coi là bước đột phá trong việc giải quyết
Trang 31những khó khăn khác: Khả năng nhận thức chậm, vốn kiến thức và khả năng giao tiếp còn nhiều hạn chế trong quá trình rèn luyện kỹ năng cho các em
Học sinh mong muốn và tâm lý được khen, có được uy tín trước bạn bè một số
có tư tưởng muốn minh là thủ lĩnh, đầu trò trong các hoạt động , trong đó nhu cầu tự khẳng định mình trong học tập và rèn luyện ngày càng chiếm ưu thế và là một đặc điểm quan trọng Bên cạnh đó học sinh cuối cấp (lớp 12) có nhu cầu hướng nghiệp, nhu cầu tình bạn, tình yêu
Từ các phân tích về đặc điểm tâm lý, đặc điểm nhu cầu và đặc điểm giao tiếp của học sinh các trường dân tộc nội trú, chúng ta thấy được những khó khăn, những nhu cầu nổi bật mà học sinh cần được tư vấn trong quá trình học tập và rèn luyện
1.3.3 Hoạt động tư vấn học đường ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT
1.3.3.1 Vai trò của tư vấn học đường trong trường phổ thông dân tộc nội trú THPT
TVHĐ là hoạt động tương tác giữa GV với học sinh và gia đình học sinh nhằm
hỗ trợ, gúp đỡ học sinh và gia đình học sinh giải quyết những khó khăn trong nhận thức, cảm xúc và hành vi Qua đó, phát triển nhân cách, định hướng nghề nghiệp, cách sống lành mạnh và những vấn đề khác trong cuộc sống Hoạt động này có vai trò rất quan trọng, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục toàn diện học sinh của nhà trường TVHĐ có vai trò như sau:
- Tạo ra những tác động mang tính định hướng giáo dục tới học sinh Tác động mang tính định hướng được hiểu là những tác động nhằm giúp học sinh biết cách giải quyết vấn đề của bản thân Những định hướng này mang tính giáo dục, nghĩa là tạo ra hướng phát triển phù hợp với yêu cầu, mong muốn của xã hội Như vậy có thể hiểu TVHĐ trong nhà trường là tác động của GV vào nhận thức của học sinh, giúp học sinh
tự nhận thức, tự giải quyết vấn đề, qua đó hình thành tính tự lập, độc lập, biết tự chịu trách nhiệm
- TVHĐ trong nhà trường hỗ trợ học sinh đang có vướng mắc, khó khăn chưa giải quyết được trong học tập, hướng nghiệp, tâm lý, tình cảm những bức xúc của lứa tuổi Học sinh THPT là học sinh đang trong giai đoạn phát triển nhân cách, chưa ổn định Hơn nữa, xã hội phát triển nhanh, quá trình xã hội hóa, toàn cầu hóa trong thời kì hội nhập đang tạo ra những tác động cả tích cực và tiêu cực đến sự phát triển của học
Trang 32sinh Nhiều hiện tượng phát triển lệch lạc, mất phương hướng của thanh thiếu niên gần đây có nguyên nhân từ sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin, từ sự giao lưu, hội nhập trong khi đó các thanh thiếu niên chưa được chuẩn bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng
để ứng xử và thích nghi với sự biến đổi của môi trường xã hội Đó là nguyên nhân gây
ra những khó khăn trong sự phát triển về nhân cách và tâm lý của học sinh TVHĐ có nhiệm vụ quan trọng là hỗ trợ học sinh giải quyết khó khăn, đối mặt với các vấn đề thực tiễn và khơi dậy nội lực, khả năng ứng phó của các em
- Ngoài ra, trong quá trình học tập, rèn luyện và phát triển, học sinh có nhiều điều vướng mắc trong học tập, sinh hoạt, trong hướng nghiệp cần được giải đáp, cần được người am hiểu và có trách nhiệm trợ giúp Nhiệm vụ của giáo dục trong nhà trường là trợ giúp, là bạn đồng hành của các em
- Tư vấn, tham vấn giúp học sinh lựa chọn cách xử lí đúng, góp phần ổn định đời sống tâm hồn, tình cảm và thực hiện được nguyện vọng của mình
- Một vai trò quan trọng của TVHĐ nữa là tạo ra môi trường thuận lợi, tích cực, thân thiện cho sự phát triển nhân cách của học sinh Sự phát triển ở đây là sự phát triển theo định hướng, theo mục tiêu mà xã hội mong muốn Đó là hạnh phúc của mỗi các nhân dựa trên sự hạnh phúc của toàn xã hội Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa người làm TVHĐ trong nhà trường với người làm tham vấn tâm lý Sự phát triển của học sinh
là sự phản ánh môi trường sống, là sự phản ánh những gì học sinh tiếp thu được từ môi trường nên việc tư vấn trong trường học cần chú ý đến định hướng giáo dục của nhà trường, của xã hội
1.3.3.2 Nhiệm vụ của tư vấn học đường trong trường phổ thông dân tộc nội trú THPT
Trong trường phổ thông dân tộc nội trú, TVHĐ có những nhiệm vụ sau:
- Nhiệm vụ Phòng ngừa: Tư vấn các phương pháp, hình thức giáo dục cho các
đối tượng tham gia giáo dục và chính học sinh nhằm phòng ngừa các vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của học sinh Tổ chức hoặc tư vấn tổ chức các hoạt động giáo dục, hướng nghiệp, xây dựng môi trường học tập thuận lợi cho sự phát triển tích cực ở học sinh Tư vấn giáo dục cho những người có tác động tiêu cực đến học sinh, hoặc có khó khăn trong giáo dục học sinh Tư vấn, tham vấn cho học sinh có khó khăn
tâm lí làm giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh
Trang 33- Nhiệm vụ Phát hiện: Quan sát phát hiện hằng ngày, và chẩn đoán học sinh có
nguy cơ rối nhiễu tâm lý hoặc những hiện tượng tâm lý bất thường trong đời sống học
đường, những hành vi lệch chuẩn của học sinh
- Nhiệm vụ Trị liệu: Can thiệp bước đầu cho học sinh có biểu hiện rối nhiễu tâm
lý, hành vi, bệnh tâm lý học đường
- Nhiệm vu Hỗ trợ nguồn lực: Tìm kiếm các nguồn lực (về kinh tế, chính sách
chế độ, pháp lý, y tế ) hỗ trợ, bảo vệ, chăm sóc cho học sinh như các tổ chức xã hội,
chuyên môn, nghề nghiệp
1.3.3.3 Nội dung của tư vấn học đường trong trường phổ thông dân tộc nội trú THPT
Dựa trên một số kết quả nghiên cứu về thực trạng học sinh, những khó khăn trong đời sống học đường, những “khúc mắc” mà học sinh THPT có thể gặp phải trong các mối quan hệ của mình, theo thông tư 31/2017/TT-BGDĐT ngày 18/12/2017 của
Bộ giáo dục và Đào tạo, nội dung TVHĐ ở trường phổ thông, tập trung vào các vấn đề sau:
- Tư vấn tâm lí lứa tuổi, giới tính, hôn nhân, gia đình, sức khỏe sinh sản vị thành niên phù hợp với lứa tuổi
- Tư vấn, giáo dục kỹ năng, biện pháp ứng xử văn hóa, phòng, chống bạo lực, xâm hại và xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện
- Tư vấn tăng cường khả năng ứng phó, giải quyết vấn đề phát sinh trong mối quan hệ gia đình, thầy cô, bạn bè và các mối quan hệ xã hội khác
- Tư vấn kỹ năng, phương pháp học tập hiệu quả và định hướng nghề nghiệp phù hợp với cấp học
- Tham vấn tâm lý đối với học sinh gặp khó khăn cần hỗ trợ, can thiệp, giải quyết kịp thời Giới thiệu, hỗ trợ đưa học sinh đến các cơ sở, chuyên gia điều trị tâm
lý đối với các trường hợp học sinh bị rối loạn tâm lý nằm ngoài khả năng tư vấn của nhà trường
1.3.3.4 Đối tượng tư vấn học đường trong trường phổ thông dân tộc nội trú THPT
Để thực hiện tốt mục tiêu TVHĐ trong trường học, có hai nhóm đối tượng mà
GV cần xử lý, đó là những học sinh gặp khó khăn cần trợ giúp và thứ hai là những người là tác nhân gây ra những khó khăn cho các em, gây tổn thương, hoặc không biết cách làm việc với các em Nếu không tư vấn, can thiệp với nhóm đối tượng này thì vấn
Trang 34đề của học sinh không được giải quyết Cụ thể:
- Nhóm thứ nhất: là những học sinh gặp khó khăn tâm lí cần tư vấn Mục tiêu của những cuộc tư vấn này là hỗ trợ học sinhvượt qua khó khăn Đây là kiểu tư vấn trực tiếp
- Nhóm thứ hai: là những người gặp khó khăn trong làm việc với học sinh, hoặc
là tác nhân gây khó khăn tâm lý cho học sinh cần được tư vấn Đây là kiểu tư vấn gián
tiếp
Tuy nhiên, khi làm việc với nhóm thứ hai, mục tiêu tư vấn là hỗ trợ họ hiểu và thay đổi cách ứng xử, thay đổi thái độ với học sinh cần tư vấn, chứ không phải giúp họ giải quyết vấn đề của họ Mục tiêu cuối cùng của kiểu tư vấn này vẫn là lợi ích của học sinh đang được tư vấn Đó có thể là cha, mẹ học sinh; là thầy/cô dạy trong lớp; là bạn
bè hoặc người thân và xã hội
1.4 Bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV trường phổ thông dân tộc nội trú THPT
1.4.1 Vai trò và nhiệm vụ của GV trong tư vấn học đường ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT
1.4.1.1 Vai trò của GV trong tư vấn học đường ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT
Trong trường phổ thông dân tộc nội trú THPT, GV có vai trò hết sức quan trọng trong tư vấn cho học sinh bởi vì 100% học sinh đều xa nhà, các em ăn ở, sinh hoạt và học tập ở nhà trường, có những đặc điểm tâm sinh lý khác nhau, phong tục tập quán khác nhau Hằng ngày các thầy cô tham gia tích cực vào việc giáo dục, đào tạo học sinh, phòng ngừa các nguy cơ mà học sinh gặp phải…GV không chỉ vai trò trong việc cung cấp kiến thức mà các thầy, cô còn có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách, kỹ năng sống, phòng ngừa các tệ nạn xã hội Đa số học sinh gặp khó khăn trong quá trình học tập vì vậy cần có sự hướng dẫn, trợ giúp của GV để các em khắc phục được những khó khăn trên Do đó tư vấn giúp học sinh biết cách học và tự học là
kỹ năng thành phần quan trọng trong các kỹ năng về TVHĐ của GV trường phổ thông dân tộc nội trú THPT Trong quá trình giảng dạy trên lớp và quản sinh GV có thể chủ động tìm hiểu được những vấn đề mà học sinh vướng mắc trong quá trình học tập, từ
Trang 35đó chủ động đưa ra các cách tư vấn, hỗ trợ cho học sinh Bên cạnh đó GV cần nhiệt tình giúp đỡ khi học sinh có nhu cầu được tư vấn, hỗ trợ Trong quá trình học tập của học sinh, GV tư vấn cho các em về phương pháp học tập; tư vấn về cách quản lí thời gian trong học tập; tư vấn về việc lập kế hoạch học tập; tư vấn về hợp tác, chia sẻ trong học tập và tư vấn học sinh làm nghiên cứu khoa học
Đối với học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT thì vấn đề định hướng và lựa chọn nghề phù hợp sau khi tốt nghiệp lớp 12 là một vấn đề khó khăn mà rất nhiều học sinh gặp phải bởi vì các em có ít thông tin từ các phương tiện truyền thông, từ người thân…Chính vì vậy GV có vai trò hết sức quan trọng trong tư vấn giúp cho học sinh có những định hướng và lựa chọn một cách phù hợp sau khi tốt nghiệp THPT, tránh tình trạng lựa chọn theo cảm tính dẫn đến sự không phù hợp về khả năng của học sinh và yêu cầu của nghề từ đó dẫn đến nhiều hệ lụy khác
Một trong những vấn đề quan trọng mà học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú THPT quan tâm và ảnh hưởng nhiều đến học tập, cuộc sống của các em đó là vấn
đề liên quan đến tình bạn, tình yêu, các mối quan hệ giao tiếp ứng xử trong phòng ở, trong nhà trường và ngoài xã hội Ở lứa tuổi này tình bạn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tình cảm của học sinh Nhu cầu về tình bạn, tâm tình cá nhân cũng tăng lên rõ rệt, phạm vi và đối tượng kết bạn được mở rộng Những yêu cầu đặt ra cho bạn mình cũng cao hơn, học sinh thường lựa chọn những người có cùng tính cách, sở thích, quan điểm sống làm bạn thân Nhu cầu về tình bạn khác giới tăng lên, các em không còn nhiều e ngại như giai đoạn lứa tuổi trước Do phạm vi kết bạn ngày càng được mở rộng nên cũng có nhiều vấn đề từ đó nảy sinh như việc lựa chọn đối tượng để làm bạn, những xích mích trong nhóm bạn, sự nhầm lẫn giữa tình bạn với tình yêu, cách bạn bè ảnh hưởng đến nhau Một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển tâm lí của lứa tuổi này
đó là sự xuất hiện của tình yêu học trò Tình yêu học trò là thứ tình cảm hết sức trong sáng, hồn nhiên, giàu cảm xúc, chân thành và nó chi phối nhiều đến đời sống tinh thần của các em Tuy nhiên tình yêu mới nảy sinh này cũng có thể phát triển không bình thường nếu như các em thiếu sự quan tâm của thầy cô và không có được những sự định hướng đúng đắn hay gặp phải thái độ can thiệp gay gắt, bảo thủ từ phía người lớn Từ
đó sẽ dẫn đến sự sao nhãng trong học tập hay có những hành vi tiêu cực làm ảnh hướng
Trang 36đến tương lai của các em Trên lớp học cũng như trong đời sống kí túc xá, GV luôn là người quan sát để nhận biết được những tình cảm, các mối quan hệ của học sinh đồng thời là những người bạn để các em có thể chia sẻ, là nhà tư vấn có thể đưa ra những lời khuyên cho học sinh của mình
Trong trường phổ thông dân tộc nội trú THPT, học sinh có nhu cầu giao tiếp rộng, ham hiểu biết và nhạy bén với những vấn đề mới nhưng lại thiếu kinh nghiệm và bản lĩnh, do đó học sinh tỏ ra lúng túng trong ứng xử, hay giải quyết vấn đề, hoặc xử lí tình huống trong giao tiếp hàng ngày Có những mối quan hệ mà tự học sinh không thể
tự giải thoát hay tháo gỡ, các em cần sự trợ giúp của GV hay người thân Vì vậy GV phải là người trợ giúp tốt nhất cho học sinh trong các mối quan hệ với thầy cô, cha mẹ, bạn bè hay các mối quan hệ xã hội khác Tư vấn hỗ trợ về quan hệ giao tiếp, ứng xử chính là việc giúp cho học sinh được tư vấn giải quyết những vướng mắc về các quan
hệ giao tiếp ứng xử, giúp các em hiểu những yêu cầu về chuẩn mực trong giao tiếp để các em có thể tiếp nhận, rèn luyện, từ đó có lời nói phù hợp với hành vi chuẩn mực
1.4.1.2 Nhiệm vụ của GV trong tư vấn học đường ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT
Trong trường phổ thông dân tộc nội trú THPT, GV thực hiện các nhiệm vụ tư vấn sau:
Một là, tư vấn các phương pháp, hình thức giáo dục cho các đối tượng tham gia giáo dục và chính học sinh nhằm phòng ngừa các vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của học sinh
Hai là, tổ chức hoặc tư vấn tổ chức các hoạt động giáo dục, hướng nghiệp, xây dựng môi trường học tập thuận lợi cho sự phát triển tích cực ở học sinh
Ba là, tư vấn giáo dục cho những người có tác động tiêu cực đến học sinh, hoặc
có khó khăn trong giáo dục học sinh
Bốn là, tư vấn, tham vấn cho học sinh có khó khăn tâm lí làm giảm thiểu nguy
cơ mắc bệnh
Năm là, hỗ trợ học sinh giải quyết những khó khăn trong việc phát triển nhân cách, năng lực, kỹ năng, phương pháp học tập, định hướng nghề nghiệp, lối sống, các mối quan hệ và các rối loạn cảm xúc, nhân cách
Sáu là, phối hợp với phụ huynh học sinh trong việc giáo dục nhằm ngăn ngừa
Trang 37các hành vi và nguy cơ trong trường học của học sinh
Bảy là, phối hợp trong việc hỗ trợ và can thiệp trong trường hợp học sinh có những vấn đề liên quan đến những hoạt động bên ngoài như các vấn đề về pháp luật, các vấn đề về bệnh tâm lý…
1.4.2 Mục tiêu và ý nghĩa của hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho
GV ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT
Bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT nhằm phát triển kỹ năng TVHĐ một cách thường xuyên, liên tục cho GV, nâng cao kiến thức, kỹ năng TVHĐ hiện có của mỗi GV từ đó đáp ứng được những yêu cầu về công tác giáo dục học sinh dân tộc để nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu của xã hội
Bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT hướng đến những mục tiêu cụ thể sau: Bồi dưỡng để chuẩn hoá kỹ năng TVHĐ cho học sinh, để cập nhật kiến thức về TVHĐ cho học sinh, để giáo dục học sinh, để tiếp tục phát triển, nâng cao kỹ năng TVHĐ cho giáo viên
Bên cạnh đó bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho đội ngũ GV trường phổ thông dân tộc nội trú THPT nhằm góp phần xây dựng đội ngũ GV có đủ năng lực chuyên môn, năng lực quản lý, tổ chức các hoạt động giáo dục cho học sinh nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đối với học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú, đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục toàn diện cho học sinh người dân tộc thiểu số
Thông qua hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ, GV có cơ hội được học tập, trau dồi thêm các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm về TVHĐ từ đó phát triển kỹ năng
tư vấn ở mức cao hơn, thành thạo hơn
Nắm vững và sử dụng nhuần nhuyễn các kỹ năng TVHĐ góp phần giúp GV thực hiện tốt các nhiệm vụ, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực nghề nghiệp Khi GV có kỹ năng TVHĐ tốt sẽ hỗ trợ cũng như đưa ra sự định hướng, trợ giúp tích cực cho học sinh trong học tập, trong lựa chọn nghề nghiệp cũng như trong cuộc sống từ đó góp phần đạt được mục tiêu giáo dục đặt ra
Vận dụng các kỹ năng TVHĐ trong quá trình giáo dục học sinh góp phần thiết
Trang 38lập mối quan hệ thân thiện, tin tưởng giữa GV và học sinh, GV với giáo viên, GV với phụ huynh học sinh Qua đó, học sinh cũng như gia đình của các em có sự an tâm khi tâm sự, giãi bày những khó khăn, vướng mắc họ đang gặp phải nhằm tìm kiếm sự trợ giúp của GV
Như vậy, bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT là giúp cho GV hiểu sâu hơn về TVHĐ là tư vấn về những vấn đề gì, khả năng chia sẻ, thấu hiểu, tư vấn thế nào trong những trường hợp, tình huống cụ thể nảy sinh trong quá trình dạy học, giáo dục học sinh
1.4.3 Nội dung bồi dưỡng kỹ năng tư vấn học đường cho GV ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT
Nội dung bồi dưỡng kỹ năng TVHĐ cho GV ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT tập trung vào các kỹ năng sau:
GV cách thức giải quyết vấn đề
Kỹ năng tư vấn học tập cho học sinh bao gồm: Tư vấn về phương pháp học tập;
tư vấn về lập kế hoạch học tập; tư vấn về quản lý thời gian trong học tập; tư vấn về hợp tác, chia sẻ trong học tập và tư vấn học sinh làm nghiên cứu khoa học
1.4.3.2 Kỹ năng tư vấn hướng nghiệp
Khi bước vào nhà trường THPT, các em học sinh, đặc biệt học sinh lớp 12 đang đứng trước nhiều lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai Có em đã định hướng được nghề nghiệp cho bản thân nhưng cũng có nhiều em còn gặp khó khăn trong việc lựa chọn
Trang 39nghề nghiệp tương lai của mình Trong quá trình lựa chọn nghề, các em cần nhận được
sự tư vấn, hỗ trợ của thầy, cô giáo
Kỹ năng tư vấn hướng nghiệp được hiểu là sự vận dụng linh hoạt kiến thức, kinh nghiệm của GV để đưa ra những hỗ trợ tích cực cho học sinh trong quá trình tư vấn, giúp đỡ học sinh tìm hiểu, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với trình độ, năng lực, đặc điểm tâm lý của học sinh cũng như nhu cầu của xã hội
Kỹ năng tư vấn hướng nghiệp bao gồm: giới thiệu hệ thống nghề nghiệp trong
xã hội và địa phương cho học sinh; tư vấn học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; viêc̣
sử dụng công cụ trắc nghiệm xu hướng nghề cho học sinh; kỹ năng tư vấn xu hướng nghề nghiệp cho bản thân và kỹ năng thuyết phục, định hướng
1.4.3.3 Kỹ năng tư vấn về tâm lý, tình cảm, sức khỏe giới tính
Một trong những vấn đề mà GV ở trường phổ thông dân tộc nội trú THPT quan tâm là đó là vấn đề liên quan đến tình bạn, tình yêu, các mối quan hệ giao tiếp ứng xử trong gia đình, nhà trường, xã hội của các em học sinh Các mối quan hệ tình cảm này ảnh hưởng rất nhiều đến học tập, cuộc sống của các em , trong khi bản thân các em chưa thể tự giải quyết được nên các em cần đến sự tư vấn của người lớn trong đó có các thầy cô của mình
Kỹ năng tư vấn tình cảm, giới tính cho học sinh là vấn đề tế nhị nên GV có sự định hướng, hỗ trợ để thực hiện nhóm kỹ năng này sao cho khéo léo giúp học sinh giữ gìn được những tình cảm trong sáng, tạo dựng được mối quan hệ đúng mực, thân thiện với mọi người
Để thực hiện kỹ năng tư vấn tình cảm, giới tính, GV cần thực hiện các biện pháp sau: Nắm đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh; tư vấn cho học sinh các vấn đề về sức khỏe giới tính; tư vấn về tình cảm, về thiết lập mối quan hệ bạn bè của học sinh; trợ giúp học sinh trong giải quyết các vấn đề về giao tiếp, ứng xử và quản lý việc giúp học sinh ứng phó với căng thẳng, stress trong học tập, trong mối quan hệ với bạn bè, với
GV và với cha mẹ
1.4.3.4 Kỹ năng tư vấn cách tiếp cận thông tin trên mạng Internet (facebook, zalo…)
Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, học sinh có thể dễ dàng tiếp cận các dạng thông tin khác nhau đặc biệt là từ mạng Internet Với sự phát triển mạnh của mạng xã hội vì vậy xuất hiện nhiều vấn đề mới trong học sinh THPT
Trang 40hiện nay mà nguyên nhân chủ yếu do xuất phát từ mạng xã hội Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực như: học sinh dễ dàng tiếp nhận các thông tin như phục vụ học tập, giao lưu, cập nhật thông tin thời sự… cùng với nó là những mặt tiêu cực nếu học sinh không
có kỹ năng lựa chọn, đánh giá thông những nguồn thông tin mà học được tiếp cận trên mạng internet Xuất phát từ nhu cầu của thực tế, GV cần có kỹ năng tư vấn cho học sinh về cách tiếp cận thông tin đặc biệt thông tin trên mạng Internet trong việc hình thành giá trị sống và kỹ năng sống của học sinh
Kỹ năng này bao gồm: Kỹ năng nắm thông tin về nhu cầu sử dụng Internet của học sinh; Tư vấn học sinh về cách đánh giá thông tin trên mạng Internet; Tư vấn học sinh cách khai thác thông tin trên mạng Internet phục vụ hoạt động học; Kỹ năng tư vấn về sử dụng mạng xã hội (facebook, zalo) đúng cách; Tư vấn học sinh sử dụng thông tin trên mạng Internet để hỗ trợ hoạt động giáo dục, tổ chức hoạt động tập thể và tư vấn học sinh về cách thức chia sẻ thông tin qua Internet
1.4.3.5 Kỹ năng tư vấn về kỹ năng sống trong môi trường tập thể
Giáo dục kỹ năng sống ngày càng trở lên cấp thiết đối với học sinh nói chung
và đặc biệt đối với học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú nói riêng Một điểm khác biệt của học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú THPT với học sinh các trường khác đó là 100% các em ăn, ở, học tập, rèn luyện tại nhà trường Trong môi trường sống tập thể các em phải đương đầu với rất nhiều những khó khăn liên quan đến sức khỏe; học tập; trong giao tiếp với bạn bè, thầy cô; tệ nạn xã hội; những mâu thuẫn
về phong tục, tập quán, bất đồng về suy nghĩ…Các em còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ
bị lôi kéo, kích động Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, các em học sinh phải chịu tác động đan xen của những tác động tiêu cực và tích cực Để giải quyết được các vấn đề đó đòi hỏi đội ngũ GV các nhà trường phải có
kỹ năng tư vấn về kỹ năng sống trong môi trường tập thể cho học sinh Kỹ năng sống
là một thành phần quan trọng trong nhân cách học sinh Giáo dục kỹ năng sống trở thành mục tiêu và là một nhiệm vụ trong giáo dục nhân cách toàn diện
Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bao gồm các nhóm kỹ năng sau:
- Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với chính mình Nhóm kỹ năng này bao gồm:
kỹ năng tự nhận thức, lòng tự trọng, sự kiên quyết, đương đầu với cảm xúc, đương đầu