1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh hoàn thành tốt môn TV lớp 5

24 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 267 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học tốt môn Tiếng Việt sẽ bồi dưỡng cho các em học sinh tình yêu quêhương đất nước,có ý thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt và bản sắc vănhoá dân tộc... *Phương pháp điều tra đánh

Trang 1

1 PHẦN MỞ ĐẦU1.1 Lí do chọn đề tài:

Theo "chiến lược con người" của Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ với mục tiêu: "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" đã được cụ thể

hoá trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước Đặc biệt trong xu thế hội nhập

quốc tế, mục tiêu "Bồi dưỡng nhân tài" càng được Đảng và Nhà nước quan tâm lớn "Hiền tài là nguyên khí quốc gia"

Hiện nay,chúng ta đang trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế, gianhập WTO thì nhân tài là một trong những yếu tố để chúng ta có thể tiếp cận với

sự tiến bộ của khoa học công nghệ của các nước trong khu vực và trên thế giới.Thực hiện mục tiêu đó, nhà trường của chúng ta đang cố gắng hướng đến sựphát triển tối đa những năng lực tiềm tàng trong mỗi học sinh.Tiếng Việt là mộtmôn học quan trọng đối với bậc Tiểu học Qua môn học này giúp học sinh biếtđọc thông viết thạo, biết sử dụng từ ngữ một cách chuẩn xác và có kĩ năng giaotiếp trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày Những kiến thức của môn học TiếngViệt là tiền đề, là cơ sở cho học sinh tiếp cận với các môn học khác Việc dạy vàhọc Tiếng Việt trong nhà trường luôn được chú trọng ngay từ lớp đầu cấp Trongthời đại hiện nay - thời đại của sự bùng nổ công nghệ thông tin, đất nước ta đangtrên đà hội nhập và phát triển thì việc dạy và học môn học này càng trở nên cầnthiết Học tốt môn Tiếng Việt sẽ bồi dưỡng cho các em học sinh tình yêu quêhương đất nước,có ý thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt và bản sắc vănhoá dân tộc

Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, trong quá trình sử dụng tiếng Việt, học sinhtiểu học còn mắc rất nhiều lỗi sai, cụ thể: Lỗi viết sai chính tả; lỗi đánh dấuthanh sai vị trí; lỗi viết hoa; lỗi thiếu nét; lỗi viết sai cỡ chữ, khoảng cách chữ -Lỗi khi sử dụng từ: so sánh sai, kết hợp sai, sai nghĩa, vừa sai nghĩa vừa sai kếthợp, dung cụm từ cố định sai - Lỗi viết câu: lỗi trong câu (sai cấu tạo ngữ pháp;lỗi về nghĩa; lỗi khi sử dụng dấu câu); lỗi ngoài câu (lỗi câu lạc chủ đề, mâuthuẫn với nhau về ý, dùng sai phương tiện liên kết, lỗi câu trùng lặp về ý (từ))

Từ những vấn đề nghiên cứu, từ những thực trạng chỉ đạo việc nâng caochất lượng học sinh hoàn thành tốt môn tiếng việc lớp 5, qua việc dự giờ thămlớp của đồng nghiệp và một số kinh nghiệm của bản thân trong quá trình quản lýchỉ đạo, tôi tôi thấy việc chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng bồi dưỡng họcsinh hoàn thành tốt môn tiếng việt lớp 5 là điều cần thiết Đó là lý do để tôi lựa

Trang 2

chọn đề tài nghien cứu: “Biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh hoàn thành tốt môn tiếng việt lớp 5”

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Đề xuất một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh hoàn thành tốt môn tiếng Việt lớp 5 ở trường Tiểu học

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài sẽ nghiên cứu và tổng kết về các biện pháp chỉ đạo chuyên môn nhà trường nâng cao chất lượng dạy – học môn Tiếng Việt lớp 5

1.4 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết:

Tôi nghiên cứu các nghị quyết của đảng về chiến lược giáo dục, các văn bản chỉđạo của ngành cũng như thực trạng dạy – học môn Tiếng Việt lớp 5 tại nhàtrường để làm cơ sở của việc quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu

* Phương pháp thu thập tài liệu, thông tin:

Tôi phải thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau như: sách, báo, tạp chí, thuthập tài liệu trên mạng để phục vụ cho việc lựa chọn các biện pháp chỉ đạo việcdạy và học trong nhà trường nhằm nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt, đặc biệt

là môn Tiếng Việt lớp 5

* Phương pháp phân tích:

Từ các nguồn tài liệu đã thu thập được, với mỗi phân môn, bài giảng cụ thể tôi

sẽ phải phân tích, lựa chọn những thông tin cần thiết, thích hợp

* Phương pháp thực nghiệm:

Từ những Kế hoạch bài học cụ thể với những giải pháp khác nhau đưa vào bàigiảng thực tế đối với đối tượng cụ thể là học sinh lớp 5

*Phương pháp điều tra đánh giá, thống kê:

Đối chiếu với kết quả giảng dạy sau khi dạy thực nghiệm với kết quảtrước khi thực nghiệm để thấy vai trò và hiệu quả của việc chỉ đạo nâng cao chấtlượng bồi dưỡng học sinh hoàn thành tốt môn tiếng việt lớp 5

Tham khảo kinh nghiệm của đồng nghiệp và ý kiến của học sinh lớp 5

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN.

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Trang 3

Tiếng Việt là một môn học quan trọng đối với bậc Tiểu học Qua mônhọc này giúp học sinh biết đọc thông viết thạo, biết sử dụng từ ngữ một cáchchuẩn xác và có kĩ năng giao tiếp trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày Nhữngkiến thức của môn học Tiếng Việt là tiền đề, là cơ sở cho học sinh tiếp cận vớicác môn học khác Việc dạy và học Tiếng Việt trong nhà trường luôn được chútrọng ngay từ lớp đầu cấp Đặc biệt là công tác phát hiện và bồi dưỡng nhữngmầm non năng khiếu Tiếng Việt đã và đang được các nhà trường rất quan tâm.Trong thời đại hiện nay - thời đại của sự bùng nổ công nghệ thông tin, đất nước

ta đang trên đà hội nhập và phát triển thì việc dạy và học môn học này càng trởnên cần thiết Học tốt môn Tiếng Việt sẽ bồi dưỡng cho các em học sinh tình yêuquê hương đất nước, có ý thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt và bản sắcvăn hoá dân tộc Tuy nhiên theo chỉ thị 5105/CT-BGDĐT, ngày 03/11/2014 của

Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc chấn chỉnh tình trạng dạy thêm, học thêm đốivới giáo dục Tiểu học, nhà trường và giáo viên cấp Tiểu học không được tổ chứcdạy thêm và học thêm dưới bất cứ hình thức nào Như vậy có nghĩa là nhàtrường và giáo viên cấp Tiểu học sẽ không được tổ chức những buổi bồi dưỡngtập trung môn Tiếng Việt dành cho học Tiểu học mà giáo viên phái có kế hoạch,biện pháp giúp đỡ học sinh ngay trong từng buổi học, tiết học

Trong trường Tiểu học, học sinh được học tiếng mẹ đẻ một cách trực tiếp

và khoa học qua môn Tiếng Việt Môn Tiếng Việt ở Tiểu học bao gồm các phânmôn: Tập đọc có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu hình thành và phát triển năng lựcđọc cho học sinh - Chính tả dạy cho học sinh tri thức và kĩ năng chính tả, pháttriển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở dạng viết trong hoạt động giao tiếp - Dạyhọc Luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hoá làm phong phú vốn từ của họcsinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho họcsinh kĩ năng dung từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để diễn đạt tư tưởng, tìnhcảm của mình, đồng thời có khả năng hiểu người khác nói gì - Kể chuyện giúphọc sinh phát triển ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng nghe nói - Phân môn Tập làmvăn nối tiếp tự nhiên các bài học của môn Tiếng Việt nhằm giúp học sinh tạo ranăng lực mới: năng lực sản sinh ngôn bản nói hoặc viết Tập làm văn có khảnăng hang đầu trong việc rèn cho học sinh nói và viết đúng tiếng Việt, có tácdụng lớn trong việc củng cố nhận thức cho học sinh Tuy rằng mỗi một phânmôn Tiếng Việt lại có một vị trí, nhiệm vụ riêng nhưng tất cả đều có quan hệbiện chứng, thống nhất với nhau, bổ sung hỗ trợ cho nhau để đạt được mục tiêu

Trang 4

cao nhất của môn Tiếng Việt đó là: hình thành 4 kĩ năng: Nghe – nói – đọc – viếtcho học sinh; từ đó học sinh có thể sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, phục vụ vàocông việc và trong cuộc sống

2.2 THỰC TRẠNG.

Bản thân nhận thức được tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng học sinhhoàn thành tốt môn tiếng việt, tôi đã luôn bám sát, tìm tòi, phỏng vấn, thựcnghiệm giảng dạy đặc biệt là môn Tiếng việt tại khối 5 của nhà trường Trên cơ

sở nghiên cứu đó tôi nhận thấy: Mục tiêu bồi dưỡng học sinh hoàn thành tốtmôn Tiếng việt cho học sinh lớp 5 không phải là để tạo ra những nhà văn, nhàngôn ngữ học mặc dù trên thực tế trong số học sinh này sẽ có những em có khảnăng trở thành những tài năng văn chương, ngôn ngữ học, mà mục tiêu chínhcủa công tác này là: bồi dưỡng lẽ sống, tâm hồn, khả năng tư duy và năng lựcngôn ngữ, năng lực cảm thụ văn chương đặc biệt là giữ gìn sự trong sáng củaTiếng việt Trên cơ sở đó góp phần hình thành nhân cách con người Việt Namhiện đại vừa giữ được những tinh hoa văn hoá dân tộc vừa tiếp thu tốt những giátrị văn hoá tiên tiến trên thế giới Qua phỏng vấn, khảo sát tôi nhận thấy nhữngvấn đề sau:

* Thuận lợi:

- Công tác dạy - học hiện nay của nhà trường luôn được chính quyền địaphương, phụ huynh học sinh quan tâm Bên cạnh đó nhà trường tạo mọi điềukiện cần thiết đảm bảo cho công tác dạy và học đạt hiệu quả như: phòng học,bàn ghế đảm bảo, đồ dùng dạy học đầy đủ, đảm bảo 1 máy chiếu/1 lớp

- Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, phó Hiệu trưởng phụ trách chuyênmôn thường xuyên hội ý, rút kinh nghiệm trong từng giai đoạn, thường xuyên

tổ chức các buổi chuyên đề để bồi dưỡng GV, Hiệu trưởng trực tiếp chỉ đạo,kiểm tra, đánh giá chất lượng học sinh

- Đời sống kinh tế của nhân dân được nâng cao, dân trí được phát triển vì vậynhận thức của phụ huynh học sinh về việc chăm lo cho con em cũng được sátsao hơn

* Khó khăn:

- Trên thực tế hiện nay, trong quá trình sử dụng tiếng Việt, học sinh tiểu học cònmắc rất nhiều lỗi sai: lỗi phát âm, lỗi chính tả, lỗi diễn đạt, lỗi dùng từ… khiến

Trang 5

cho việc diễn đạt suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của các em còn hạn chế, gâynhiều khó khăn trong hoạt động học tập, lao động hay trong sinh hoạt đời sống

- Một số ít học sinh ngại học môn Tiếng Việt, thích học Toán hơn Tiếng Việt

2 3 CÁC GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Từ những vấn đề đặt ra, tôi xin đề xuất một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chấtlượng bồi dưỡng học sinh hoàn thành tốt môn tiếng Việt lớp 5 ở trường Tiểu họcđáp ứng với yêu cầu thời đại và mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục tiểu học đólà:

2.3.1 Giúp GV nắm vững các phương pháp dạy học Tiếng việt:

Ngay từ đầu năm học tôi đã tổ chức cho GV sinh hoạt chuyên môn, giúp GV nắmvững các phương pháp dạy học Tiếng Việt:

* Khái niệm: Phương pháp dạy học Tiếng việt là cách thức làm việc của thầy giáo

và học sinh nhằm làm cho học sinh nắm vững kiến thức và kỹ năng Tiếng việt

* Các phương pháp dạy học Tiếng việt thường dùng ở Tiểu học

- Phương pháp phân tích ngôn ngữ: Đây là phương pháp được sử dụng một cách có

hệ thống trong việc xem xét các mặt của ngôn ngữ Ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, cấutạo từ với mục đích làm rõ cấu trúc các kiểu đơn vị ngôn ngữ, hình thức phát triểncách thức cấu tạo, ý nghĩa của iệc sử dụng chúng trong nói năng Các bước phântích ngôn ngữ: quan sát ngữ liệu phân tích các ngữ liệu nhằm tìm ra điểm giống vàkhác nhau sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định

- Phương pháp luyện tập theo mẫu: Là phương pháp mà học sinh tạo ra các đơn vị

ngôn ngữ, lời nói bằng cách mô phỏng mẫu mà giáo viên đưa ra, hoặc mẫu có trongsgk Các bước đầy đủ của phương pháp luyện tập theo mẫu bao gồm:

+ Lựa chọn và giới thiệu mẫu

+ Hướng dẫn học sinh quan sát, phân tích cấu tạo mẫu, có thể là quy trình tạo ramẫu, đặc điểm của mẫu

+ Học sinh áp dụng tạo ra các sản phẩm theo mẫu

+ Kiểm tra kết quả sản phẩm làm theo mẫu, đánh giá, nhận xét xem mức độ sángtạo của mỗi sản phẩm trong sự so ánh với mẫu Nhắc nhở những sản phẩm lời nói

mô phỏng máy móc theo mẫu, khuyến khích những sản phẩm có sự sáng tạo

Trang 6

* Phương pháp giao tiếp: Cơ sở của phương pháp giao tiếp là chức năng giao tiếp

của ngôn ngữ, dạy theo hướng giao tiếp coi trọng sự phát triển lời nói, mọi kiếnthức lý thuyết đều được nghiên cứu trên cơ sở phân tích các hiện tượng ngôn ngữtrong giao tiếp sinh động, phương pháp giao tiếp coi trọng sự phát triển lời nói củatừng cá nhân học sinh Vì thế để thực hiện phương pháp giao tiếp phải tạo ra chohọc sinh nhu cầu giao tiếp, nội dung giao tiếp, môi trường giao tiếp, các phươngtiện ngôn ngữ và các thao tác giao tiếp.Việc tách ra từng phương pháp là để giảithích rõ nội dung và cách thức thực hiện của từng phương pháp đó, còn trong thực

tế dạy học các phương pháp thường được sử dụng phối hợp không có phương phápnào độc tôn mà tuỳ từng nội dung, tuỳ từng bước lên lớp mà một phương pháp nào

đó nổi lên chủ đạo

Một nguyên tắc dạy học Tiếng việt hiện nay đang được chú ý ở tiểu học.Nguyên tắc rèn luyện song song cả dạy nói và dạy viết Nói và viết là 2 dạng củahoạt động giao tiếp có những đặc điểm khác biệt nhau bởi vì: mỗi dạng sử dụngmột loại chất liệu Giọng nói sử dụng chất liệu là âm thanh, âm thanh chỉ tồn tạitrong một khoảng thời gian, không gian nhất định vì thế dạy nói thường được dùngtrong giao tiếp trực tiếp

Dạy nói đòi hỏi phải được người nói thực hiện một cách tự nhiên sinh động,khi nói phải hướng tới người nghe Chú ý tín hiệu phản hồi từ phía người nghe đểkịp thời điều chỉnh, sửa chữa.Có thể sửa chữa theo hướng mà người nghe mongmuốn bằng cách điều chỉnh nọi dung.Cũng có thể điều chỉnh cách diễn đạt mà vẫngiữ nguyên nội dung, phải điều chỉnh âm sắc, giọng nói Chú ý phát âm chuẩn, chú

ý sử dụng ngữ điệu một cách thích hợp Vì dạy nói được sử dụng trong giao tiếptrực tiếp cho nên không có điều kiện gọt dũa, vì vậy người nói cần nói với tốc độvừa phải để người nói kịp nghĩ, người nghe kịp theo dõi Để tạo sự tự nhiên, hàohứng trong giao tiếp dạy nói, người nói cần biết sử dụng phối hợp với điệu bộ, cửchỉ thích hợp Khi nói được phép lặp lại có thể dùng yếu tố chêm xen, đưa đẩy,được phép sử dụng các câu tỉnh lược

Quan trọng là rèn cho học sinh kỹ năng giao tiếp trực tiếp với những đòi hỏi

cụ thể về cách phát âm, về cách sử dụng từ, ngữ, câu, cách diễn đạt và thái độ khinói

Dạy viết: Sử dụng chất liệu là chữ viết và hệ thống dấu câu và thường được sửdụng trong hoàn cảnh giao tiếp gián tiếp.Vì thế có điều kiện sửa chữa, gọt giũa

Trang 7

mang tính chặt chẽ, hàm súc, cô đọng Đặc điểm này phù hợp với điều kiện củangười tiếp nhận là có thể đọc đi, đọc lại văn bản viết nhiều lần Dạng viết đòi hỏivăn viết phải chặt chẽ, chỉ sử dụng phép lặp với mục đích tu từ

Tổ chức sinh hoạt chuyên đề cấp trường

2.3.2 Giúp GV nắm vững các nguyên tắc dạy học Tiếng việt:

Khi dạy Tiếng việt cho học sinh tiểu học, đặc biệt là đối tượng học sinh lớp 5,Giáo viên cần đảm bảo các nguyên tắc dạy học Tiếng việt:

Nguyên tắc 1: Nguyên tắc phát triển lời nói (nguyên tắc giao tiếp, nguyên tắc

thực hành) Nguyên tắc này đòi hỏi khi dạy học Tiếng việt phải bảo đảm các yêucầu sau:

+ Phải xem xét các đơn vị cần nghiên cứu trong dạy, hoạt động chức năng tức làđưa chúng vào đơn vị lớp hơn như là âm, vần trong tiếng, trong từ Từ hoạt độngtrong âm như thế nào? Câu ở trong đoạn, trong bài ra sao?

+ Việc lựa chọn những sắp xếp nội dung dạy học phải lấy hoạt động giao tiếplàm mục đích tức là hướng vào việc hình thành các kỹ năng nghe, nói, đọc viếtcho học sinh

Trang 8

+ Phải tổ chức hoạt động nói năng của học sinh tốt trong dạy học Tiếng việtnghĩa là phải sử dụng giao tiếp như là một phương pháp dạy học chủ đạo

Nguyên tắc 2: Nguyên tắc phát triển tư duy:

+ Phải tạo điều kiện tối đa cho học sinh rèn luyện các thao tác và phẩm chất tưduy trong giờ dạy học Tiếng việt : phân tích, so sánh, tổng hợp

+ Phải làm cho học sinh hiểu ý nghĩa của đơn vị ngôn ngữ

+ Giúp học sinh nắm được nội dung các vấn đề cần nói và viết (định hướng giaotiếp, gợi ý cho học sinh quan sát tìm ý ) và biết thể hiện nội dung này bằng cácphương tiện ngôn ngữ

Nguyên tắc 3: Nguyên tắc chú ý đến trình độ tiếng mẹ đẻ của học sinh (nguyên

tắc chú ý đến khả năng sử dụng ngôn ngữ của người bản ngữ)

Trước khi đến trường học sinh đã có một vốn Tiếng việt nhất định và songsong với quá trình học Tiếng việt trong nhà trường là quá trình tích luỹ, học hỏiTiếng việt thông qua môi trường gia đình, xã hội do đó các em đã có một vốn từ

và quy tắc ngữ pháp nhất định Vì vậy cần điều tra, nắm vững vốn Tiếng việt củahọc sinh theo từng vùng, từng lớp khác nhau để xác định nội dung, kế hoạch vàphương pháp dạy học đồng thời phải tận dụng và phát huy tối đa vốn Tiếng việtcủa học sinh bằng cách phát huy tính tích cực chủ động của các em mặt khácgiáo viên cần chú ý khắc phục lỗi lệch chuẩn khi nói tiếng phổ thông cho họcsinh

2.3.3 Chỉ đạo cho GV và học sinh Viết chuẩn, nói chuẩn tiếng phổ thông.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố Thanh Hóa lần

thứ XX nhiệm kỳ 2015-2020; thực hiện kế hoạch số: 650/KH-PGD&ĐT ngày 7

tháng 10 năm 2015 của Phòng GD&ĐT THành phố Thanh Hóa về việc thựchiện chuyên đề Viết chuẩn, nói chuẩn tiếng phổ thông” trong các nhà trường trênđịa bàn Thành phố Thanh Hóa, chuyên môn nhà trường đã tổ chức chuyên đề tạinhà trường cho cán bộ giáo viên Chuyên đề cũng thường xuyên được áp dụngtrong các buổi sinh hoạt chuyên môn, nội dung chương trình bồi dưỡng thườngxuyên GV và thực hiện ngay trong từng buổi học, tiết học

Giáo viên cần xác định: Đây vừa là đòi hỏi của nghề dạy học vừa là yêu cầucủa ĐH Đảng bộ TP, cũng là yêu cầu của hội nhập toàn quốc, hội nhập Quốc tế Mỗi thầy cô phải là tấm gương sáng về trau dồi ngôn ngữ cũng như mọi phẩm chất cao đẹp của người thầy cho thế hệ trẻ noi theo nên muốn hay không, dễ hay

Trang 9

khó mỗi người đều phải thay đổi để đi về phía của sự chuẩn mực, văn minh, hiệnđại.

* Tiếng Việt phổ thông: Là ngôn ngữ của người Việt (Kinh) và được hiến pháp

của nhà nước quy định là ngôn ngữ chính thức của quốc gia ( Ngôn ngữ toàndân)

* Nói viết theo chuẩn Tiếng Việt phổ thông:

Nói theo giọng Hà Nội(Bắc bộ) +3 phụ âm quặt lưỡi r, s, tr(Trung bộ) = đúng,

đủ hệ thống âm, vần, thanh điệu được cố định trên chữ viết

* Ưu thế của TV:

+ Nói thế nào thì viết thế ấy

+ Có thể ghi lại những tư tưởng, suy nghĩ, tình cảm của con người thông quanói, viết

+ TV giàu đẹp, sức sống bất diệt và ngày càng phong phú, trở thành Quốc hồn,

quốc túy của dân tộc

* Thổ âm, thổ ngữ Thanh Hóa: ( Tiếng Thanh Hóa): Là giọng nói và lời nói

mang tính địa phương của người Việt cư trú ở tỉnh Thanh Hóa

Phương ngữ Thanh Hóa có nét bản sắc riêng rất đáng trân trọng, nếu đượckhai thác sử dụng đúng chỗ sẽ đem lại hiệu quả.Nhưng sự lệch chuẩn khá nặng

nề, nhiều khi làm cho câu nói bị sai nghĩa, tối nghĩa, gây cười Ít nhất nó làmgiảm sự chuẩn mực và thanh lịch của người nói Ra tỉnh ngoài đôi khi còn bị kỳthị

Giao tiếp trong nhà trường là giao tiếp thuộc phong cách khoa học GD vàphong cách hành chính công cụ Vì vậy nếu dùng ngôn từ và giọng điệu địaphương thì bị sai lạc về phong cách, không tuân thủ chuẩn mực ngôn ngữ vănhóa

*Tiêu chuẩn cơ bản của một lời nói tốt: Sử dụng đúng các phương tiện ngôn

ngữ: chuẩn ngữ âm – ngữ pháp – từ vựng, đúng phong cách và đúng ý định người

* GV thống kê lỗi lệch chuẩn và tiếng địa phương của học sinh trong khối, lớp.

Lệch chuẩn về từ ngữ:

- Nhóm từ chỉ định, từ để hỏi:

+ đâu/mô, bao nhiêu/ mấy …

+ này / ni; kia / tê; kia kìa / tê tề; ấy, nọ/ nứ, nớ

+ làm sao, như thế nào/ răng, mằn răng ; như thế này/ ở ri, ri…

- Nhóm từ nhân xưng: mi, tau, choa, bọn choa, quân choa, bay, nhà va…

- Nhóm từ đệm hoặc từ để hỏi đặt cuối câu của riêng Thanh Hóa ( vùng nông thôn) nhé/nhá; đó / đá; nhỉ / nhờ, nhà…

- Nhóm các động từ, danh từ, tính từ của riêng Thanh Hóa

+ cắt / bứt; ngã / bổ; trông, xem/ coi;

+ nhiều, nhiều lắm/ mê, mê ra, mê man; gắt to/ gắt ỏm tỏi; lười / nhác…

- Nhóm từ do cách biến âm quá xa so với âm gốc thành từ địa phương: vả / bả ; bẹo / véo; cấu / bấu; vào / vô; làm / mằn; bảo / biểu; bồng bế / bỏng …

Trang 10

Lệch chuẩn v ề ngữ âm

- Nghiêm trọng nhất là sai thanh điệu: lẫn lộn thanh hỏi / thanh ngã

hỏi → ngã; ngã → hỏi; lẫn lộn cả 2 chiều hỏi ↔ ngã

VD: ngã ngửa

Lệch chuẩn ở phụ âm đầu

- Phát âm sai các phụ âm quặt lưỡi, không phân biệt các cặp phụ âm ( giống Bắc bộ) s – x; r – d – gi; tr – ch

- Sai phần vần (sự sai còn đa dạng hơn)

Sai các vần có có nguyên âm đôi

Nguyên nhân sai: Triệt tiêu 1 nguyên âm hoặc bị biến thành nguyên âm khác:VD: iê – mất ê còn i;

uô – mất ô còn u;

ươ – biến thành ưư

ươ – bị lệch thành i hoặc iê.(ốc bươu/biu; rượu/ riệu, rịu)

ươc – biến thành ac/ang ( ngọt như nác đàng)

Lệch chuẩn ở phần vần:

Ơi → i : Trứng chọi ví đá â → ă : cầm tay/ cằm tay; lỗi lầm/ lỗi lằm

i ↔ ây, êi: chị / chậy ôi → ui, un chổi/ chủn, chủi; tối/ tún

ư → i : mưu cầu / miu cầu ui→un : củi/ củn

e → ia : nhà xe / nhà xia im, in → inh: phim / phinh ăn xin / ăn xinh

e → ê : mẹ/ mệ o → ua: lo/ lua lắng, con tôi bị ho

ê → a : mệnh lệnh / mạnh lạnh ô ↔ u : chục/ chộc; thối / thún

ai → ây: cái / cấy ư → a : bực mình / bậc mềnh

oa →o: cái quạt / cấy cọt âu → u: con trâu / con tru

o → ô : thỏi son / thổi sôn ưa → a: lửa / lả

â → a, ư: đầu / đàu; chân / chưn

Từ những thống kê trên, GV tự lập kế hoạch khắc phục lỗi lệch chuẩn chohọc sinh vì viết / nói đúng chuẩn, thân thiện chính là xây dựng văn hóa trong giao tiếp là xây dựng nét mô phạm và thanh lịch cho mỗi con người

2.3.4 Tạo hứng thú học tập cho học sinh.

“ Hứng thú” có vai trò quan trọng trong học tập và làm việc Không có việc

gì người ta không làm được dưới ảnh hưởng của hứng thú M.goocki có nói :

“thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc”.Vì vậy bồi dưỡng hứng thú họctập rất quan trọng, không có con đường nào khác là giúp các em thấy được vẻđẹp và khả năng kì diệu của tiếng việt- Văn học trong mỗi hoạt động của mỗitiết tiếng việt, giáo viên đều hướng đến hình thành, duy trì hứng thú cho họcsinh qua cách giới thiệu bài

Cả những bài về từ ngữ hay ngữ pháp khô khan cũng đều gây được hứngthú nếu giáo viên nắm được bản chất vấn đề và biết dùng phương pháp nêu vấn

đề Cho trẻ tiếp xúc trực tiếp càng nhiều càng tốt với những tác phẩm văn

Trang 11

chương, những mẫu hình sử dụng ngôn ngữ mẫu mực vì “không làm thân vói văn thơ thì không nghe thấy được tiếng lòng chân thật của nó” (Lê Trí Viễn );

Hứng thú Tiếng Việt- văn chương còn được tạo ra bằng cách kể cho các em nghe

về cuộc đời riêng của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, tổ chức nói chuyện thơvăn, ngoại khóa Tiếng việt

2.3.5 Bồi dưỡng vốn sống cho học sinh.

Hiện nay, nhiều giáo viên khi dạy làm văn cho HS thường thiên về dạy kĩthuật làm mà ít cung cấp các chất liệu sống - cái tạo nên nội dung bài viết Khimột em học sinh ngồi trước một đề văn 15 - 20 phút vẫn chưa viết được, giáoviên thường cho rằng các em không nắm được lí thuyết thể văn mà không hiểurằng nguyên nhân đầu tiên làm các em không có húng thú viết là các em khôngtạo được một quan hệ thân thiết giữa mình với đề tài - đối tượng kể hoặc tả,nghĩa là các em không có nội dung, không có gì để nói để viết Nguyên nhân đó

là việc thiếu hụt về vốn sống, vốn cảm xúc của mình

Từ đó tôi rút ra phương pháp bồi dưỡng vốn sống cho các em đó là:

- Bồi dưỡng về vốn sống trực tiếp: cho các em quan sát, trải nghiệm những gìcác em sẽ phải viết,cần làm cho vốn sống thực này không cản trở trí tưởngtượng của các em, trí tưởng tượng dù có bay bổng đến mấy vẫn phải có cơ sởbắt đầu từ thực tiễn; giáo viên đóng vai trò dẫn dắt, gợi mở, tạo nguồn cảm hứngkhơi dậy suy nghĩ trong các em

- Cần xây dựng cho HS hứng thú và thói quen đọc sách Đọc sách,các em khôngchỉ được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước

mơ tốt đẹp, khơi dậy năng lực hành động, bồi dưỡng tâm hồn

- Một vấn đề không thể thiếu được đó là các em được trực tiếp tham quan họctập,tìm hiểu ở một số di tích lịch sử , các di tích lịch sử như : tượng đài ở xã em,biển Sầm Sơn ….Qua đó các em được chứng kiến về những gì các em được tậnmắt quan sát thấy,nhìn thấy giúp các em càng yêu quê hương đất nước mình hơn

và vốn sống của các em sẽ phong phú hơn

2.3.6 Bồi dưỡng kiến thức kĩ năng Tiếng Việt cho HS

* Bồi dưỡng lí thuyết về từ:

Nội dung không vượt ra ngoài 12 bài lí thuyết về từ, từ đơn, từ ghép, từláy, từ ghép tổng hợp, từ ghép phân loại, các kiểu từ láy, các dạng từ láy, nghĩacủa từ láy, từ nhiều nghĩa, từ cùng nghĩa, từ trái nghĩa, từ cùng âm khác nghĩa

* Phân loại nhận diện từ theo cấu tạo:

Trang 12

Dựa vào số lượng tiếng của từ chia ra từ đơn và từ đa âm.Phân loại nhóm từ

đa âm phải dựa vào mối quan hệ giữa các tiếng trong từ: có mối quan hệ về mắtnghĩa là từ ghép, có mối quan hệ vầ âm là từ láy

Ở Tiểu học, những từ thuần Việt như tắc kè, bồ hóng, bồ kết, hay những từvay mượn: mì chính, xà phòng, mít tinh, là những từ mà cả hai tiếng đềukhông có quan hệ về nghĩa lẫn về âm, vì vậy những từ này không được dùnglàm ngữ liệu để ra bài tập Nếu HS chủ động đưa ra để hỏi thì giáo viên trả lời

đó là một từ ghép đặc biệt: từ ghép ngẫu hợp các từ hai tiếng có sự giống nhaunào đó về âm: bâng khuâng, thình lình, chạng vạng, dằng dặc, lê thê, chèo bẻo,chôm chôm, thằn lằn, ba ba, ngày ngày, gật gật những từ này chỉ định danh sựvật, nội dung ý nghĩa hoàn toàn không có giá trị biểu trưng sắc thái hóa do cơchế hóa phối hợp ngữ âm tạo ra (định nghĩa giáo trình cấp trên cho rằng, các từ

đó không phải là từ láy).Tuy nhiên, chúng có hình thức ngữ âm giống nhau, sovới định nghĩa sách giáo khoa tiểu học chỉ dựa trên căn cứ làm hình thức ngữ

âm Phối tiếng và tính đến mức độ nhận thức học sinh tiểu học nên xem đây làcác từ láy

+ Các kiểu từ như : ồn ào, ầm ĩ, ọc ạch, ỏn ẻn đều được xem là từ láy và đượcgiải thích nó giống nhau ở chỗ cùng vắng khuyết phụ âm đầu

+ Những từ như: cong queo, cuống quýt, king coong cũng là từ láy có phụ âmđầu viết dưới dạng hình thức các con chữ khác nhau

+ Về phân biệt từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại: từ ghép tổng hợp giữa cáctiếng có quan hệ đẳng lập, mang tính tổng hợp, khái quát: từ ghép phân loại cóyếu tố cụ thể hóa, cá thể hóa nghĩa cho yếu tố kia

+ Một số từ, tùy từng ngữ cảnh mà xếp khi là từ ghép tổng hợp, khi là từ ghépphân loại: từ “sáng trong” trong câu : “Một tấm lòng sáng trong như ngọc” là từghép tổng hợp: có thể đổi thành “Trong sáng” Nhưng trong câu “Nhớ mua bóng

đèn sáng trong đừng mua bóng đèn sáng đục”thì “sáng trong”ở đây là từ ghép

phân loại

* Làm giàu vốn từ,luyện kĩ năng nắm nghĩa từ và sử dụng từ cho học sinh: Dạng 1: Yêu cầu học sinh giải nghĩa từ ngữ hay thành ngữ.

Ví dụ : Em hiểu tục ngữ “Đói cho sạch ,rách cho thơm” nghĩa là thế nào?

Trong các câu thơ dưới đây của Bác Hồ Nghĩa của từ “xuân” có gì khác nhau?

- Xuân này kháng chiến đã năm xuân.

- Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán

Ngày đăng: 17/10/2019, 07:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w