1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chỉ đạo dạy học chủ đề vật chất và năng lượng môn khoa học lớp 4

23 203 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 259,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc sử dụng đồ dùng dạy họccủa giáo viên trên lớp góp phần đặt nền móng cho quá trình nhận thức của họcsinh và tạo hứng thú cho học sinh khi tiếp cận với nội dung bài học; giúp giáoviên

Trang 1

có sự kết hợp thống nhất phương pháp thực nghiệm – thực hành với tư duy kháiniệm.

Khi bắt đầu dạy khoa học phải xuất phát từ trực quan sinh động để đi đếnhình thành các khái niệm trừu tượng của khoa học, càng lên lớp cao thì càngphải cần rèn luyện cho học sinh sử dụng khái niệm như công cụ của tư duy

Từ những vấn đề nêu trên tôi thấy rằng việc ứng dụng các phương pháp dạyhọc tích cực vào giảng dạy môn khoa học ở Tiểu học là rất cần thiết, trong đóphương pháp thí nghiệm - thực hành được sử dụng khá nhiều

Có thể nói đồ dùng thiết bị dạy học là yếu tố rất quan trọng trong việc nângcao chất lượng dạy học các môn học ở Tiểu học Việc sử dụng đồ dùng dạy họccủa giáo viên trên lớp góp phần đặt nền móng cho quá trình nhận thức của họcsinh và tạo hứng thú cho học sinh khi tiếp cận với nội dung bài học; giúp giáoviên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, chống "dạy chay" và giúp cho sựnhận thức của học sinh có cơ sở khoa học và hợp lý Sử dụng thí nghiệm để dạyhọc tích cực là phương pháp đặc thù của các môn khoa học thực nghiệm trong

đó môn Khoa học là một điển hình Vai trò của thí nghiệm trong dạy học khoahọc là rất quan trọng Hannes Alfven - một nhà Vật lý học người Thụy Điển - đãtừng nói “Khoa học mà không có thí nghiệm thì như một công trình nghiên cứu

đi chệch hướng, chỉ còn là những phỏng đoán, tưởng tượng”

Trong chương trình Khoa học lớp 4, chủ đề “Vật chất và năng lượng” đượcdạy trong 37 bài Đây là chủ đề chiếm thời lượng nhiều nhất trong môn Khoa

học lớp 4 (chủ đề “Con người và sức khỏe: 19 bài; chủ đề “Thực vật và động vật”: 14 bài) và cũng là chủ đề “khó” tổ chức thực hiện đối với giáo viên, bởi có

tới 50% số bài của chủ đề có yêu cầu thực hiện các thí nghiệm khoa học Nhữngbài đó cần chuẩn bị công phu, lập kế hoạch chặt chẽ, chi tiết và có những bài đồdùng dạy học rất khó để giáo viên tự làm cũng như khó cho việc tổ chức sử dụng

và khai thác

Qua thực tế chỉ đạo chuyên môn tại trường Tiểu học Lộc Sơn và tham giasinh hoạt chuyên môn cụm trường về môn Khoa học, bản thân tôi nhận thấy việcdạy môn Khoa học nói chung và dạy các bài thuộc chủ đề “Vật chất và nănglượng” nói riêng của giáo viên vẫn còn một số hạn chế như: đồ dùng được cấpphát chưa đủ phục vụ cho bài dạy; giáo viên ngại sử dụng, sử dụng chưa đúnglúc, đúng chỗ; chưa khai thác hết hiệu quả, tác dụng; chưa đầu tư thời gian, công

Trang 2

sức làm thêm các đồ dùng, thiết bị cần thiết cho tiết dạy; và đặc biệt là việchướng dẫn thực hiện các thí nghiệm khoa học của giáo viên rất lúng túng, sựthành công của các thí nghiệm khoa học tiến hành trong các giờ học còn hạnchế Nhiều giáo viên sử dụng đồ dùng phương tiện dạy học chỉ nhằm minh họacho lời giảng, Nhiều giờ học diễn ra đơn điệu, nhàm chán với những hoạtđộng quan sát hình vẽ trong sách giáo khoa, thuyết trình, hỏi đáp, ghi chép trongkhi lẽ ra các em phải được tham gia vào việc thực hiện các thí nghiệm khoa học,được tìm tòi, nghiên cứu, khám phá ra những nội dung thú vị trong bài học củamình Vậy: Làm thế nào để phát huy được tính chủ động, tích cực của học sinhtrong giờ học? Làm thế nào để sử dụng đồ dùng dạy học và tổ chức thực hiệncác thí nghiệm khoa học hiệu quả? Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy họcmôn Khoa học nói chung và chủ đề “Vật chất và năng lượng” nói riêng theođúng yêu cầu đặc trưng của môn học? là những vấn đề cấp thiết đang đặt ra cho

mỗi giáo viên Vì vậy, tôi chọn đề tài: "Chỉ đạo dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng” môn Khoa học lớp 4” làm nội dung nghiên cứu của mình.

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Nội dung và phương pháp dạy học khoa học lớp 4, cách sử dụng đồ dùngphương tiện dạy học khoa học lớp 4 Tập trung vào những bài thuộc chủ đề “Vậtchất và năng lượng”

- Học sinh khối 4 của trường Tiểu học Lộc Sơn – Hậu Lộc – Thanh Hóa

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng 3 nhóm phương pháp nghiên cứu sau:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc tài liệu, tra cứu, phân tích các tàiliệu khoa học, sách báo, hồ sơ có liên quan đến đề tài

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, khảo sát, phỏng vấn, traođổi, quan sát, tổng kết kinh nghiệm,

- Các phương pháp bổ trợ: Toán học, thống kê,

Trang 3

B- NỘI DUNG ĐỀ TÀI

I CƠ SỞ LÍ LUẬN

1 Một số đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học

Nhiều nghiên cứu tâm lý học đã cho thấy, học sinh Tiểu học, đặc biệt ởcác lớp đầu cấp thường tư duy dựa vào những tính chất, dấu hiệu trực quan, cụthể của đối tượng Sai lầm hay gặp của các em trong quá trình hình thành kháiniệm là khái quát trên cơ sở những dấu hiệu không bản chất Tuy vậy, cuối bậcTiểu học, khi khái quát hóa để hình thành khái niệm, các em dần thoát khỏi sựchi phối mạnh của những dấu hiệu trực quan và ngày càng dựa nhiều hơn vàonhững dấu hiệu phản ánh mối quan hệ bản chất giữa các sự vật và hiện tượngđược hình thành trong quá trình học tập

Học sinh Tiểu học tìm tòi chủ yếu để “xem điều gì xảy ra” hơn là bắt đầu

từ việc xem xét các khả năng và kiểm tra sự phù hợp của chúng Ý kiến của các

em (ví dụ khi dự đoán) thường dựa vào kinh nghiệm đã có hoặc chỉ là dựa vàotrường hợp chung đã biết để xét một trường hợp cụ thể chứ chưa phải ở mức dựavào một lí thuyết để suy diễn rút ra hệ quả

Học sinh Tiểu học chủ yếu tư duy với các biểu tượng gắn với những sựvật, hiện tượng cụ thể Các em có thể suy nghĩ lôgíc nhưng phụ thuộc vào thôngtin có từ các giác quan Các em khó suy nghĩ về những cái trừu tượng

Khi quan sát, làm thí nghiệm, học sinh Tiểu học có xu hướng mô tả hơn làgiải thích kết quả tìm thấy được của mình Trong dạy học cần lưu ý mức độ chophù hợp hoặc sự nâng dần, giúp các em phát triển Chẳng hạn, cần hướng dẫncác em quan tâm tới những mối liên hệ trừu tượng cũng như cụ thể, tìm cách lígiải các kết quả, giải thích kết quả theo cách mà có thể vận dụng rộng rãi hơncho cả tình huống khác; liên hệ những điều quan sát được với những hiểu biếtkhoa học, đề xuất cách giải thích dựa vào việc suy diễn từ kiến thức khoa học

đã biết

2 Về chương trình và sách giáo khoa

Tích hợp các nội dung của các khoa học tự nhiên với khoa học về sứckhỏe Nội dung được lựa chọn thiết thực, gần gũi và có ý nghĩa với học sinh Chú trọng tới hình thành và phát triển các kĩ năng trong học tập khoa họcnhư quan sát, dự đoán, giải thích các sự vật, hiện tượng tự nhiên đơn giản và kĩnăng vận dụng các kiến thức khoa học vào cuộc sống

Tăng cường tổ chức các hoạt động học tập nhằm tạo điều kiện cho họcsinh phát huy tính tích cực, tự lực tìm tòi phát hiện ra kiến thức, và thực hànhnhững hành vi có lợi cho sức khỏe, cá nhân và cộng đồng

Trong sách giáo khoa Khoa học, chức năng hướng dẫn phương pháp dạyhọc của sách được quan tâm Các kết quả quan sát, thí nghiệm, kết luận khôngđược cung cấp sẵn Vì vậy học sinh phải tích cực hoạt động, quan sát, làm thínghiệm, suy nghĩ về những thông tin nhận được; thảo luận, trao đổi để rút ra cáckết luận Khối lượng kiến thức vừa phải, vì vậy có điều kiện tổ chức các hoạtđộng tìm tòi, khám phá,

3 Về vai trò của đồ dùng, thiết bị dạy học

Trang 4

Thiết bị đồ dùng dạy học là những phương tiện vật chất giúp cho giáoviên và học sinh tổ chức hợp lý có hiệu quả quá trình dạy học, giáo dục đối vớicác môn học trong nhà trường nhằm thực hiện chương trình dạy học Trong quátrình đổi mới phương pháp dạy học, thiết bị đồ dùng dạy học là một trong nhữngđiều kiện cơ bản không thể thiếu để giáo viên, học sinh thực hiện mục tiêu dạyhọc Thiết bị đồ dùng dạy học tạo điều kiện trực tiếp cho học sinh huy động mọinăng lực hoạt động nhận thức, tiếp cận thực tiễn, nâng cao khả năng tự học, rènluyện kỹ năng học tập và thực hành.

Thiết bị đồ dùng dạy học dưới sự điều khiển của người giáo viên có tácdụng rất to lớn: Làm tăng tốc độ truyền thông tin, tạo ra sự lôi cuốn, hấp dẫn làmcho giờ học sinh động, hiệu quả hơn Sự hỗ trợ đắc lực của thiết bị là cầu nốigiữa người dạy và người học, làm cho hai nhân tố này gắn kết với nhau trongviệc thực hiện mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục vàlàm cho chất lượng giảng dạy và học tập được nâng cao

Việc dạy học khoa học phải sử dụng hệ thống phương pháp có kết hợp biện

chứng thí nghiệm – thực hành với tư duy lí luận, vận dụng mô hình trong quá

trình chiếm lĩnh kiến thức khoa học Trong giảng dạy khoa học chúng ta cầnchấm dứt tình trạng dạy và học theo lối giáo điều không có thí nghiệm, không có

- Lãnh đạo nhà trường rất quan tâm đến công tác đổi mới phương pháp dạy học;làm và sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học; duy trì hội thi “Giáo viên giỏi”; “Đồdùng dạy học tự làm” cấp trường hàng năm.Chính vì thế mà đồ dùng dạy họcđược bổ sung vào kho thiết bị nhà trường ngày càng phong phú tạo điều kiện đểgiáo viên sử dụng đồ dùng dạy học một cách thường xuyên

- Bản thân là một cán bộ quản lý trực tiếp chỉ đạo công tác chuyên môn ở trườngnhiều năm, hai năm gần đây được tham gia tổ cốt cán bộ môn Khoa học củaPhòng giáo dục và Đào tạo nên việc nắm bắt tình hình đổi mới phương pháp dạyhọc và sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học của giáo viên, học sinh sát sao, là điềukiện tốt để chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy học chủ đề “Vật chất và nănglượng” thuộc môn Khoa học lớp 4 đạt hiệu quả

- Giáo viên hiểu được tầm quan trọng của thí nghiệm khoa học: “thí nghiệm” làmột phương pháp dạy học tích cực đồng thời cũng là dạng phương tiện trựcquan có hiệu quả Đa số giáo viên thích sử dụng “thí nghiệm” vì nó tạo nênnhững hiện tượng mà học sinh ít được quan sát trong thực tế

- Đồ dùng, thiết bị dạy học môn Khoa học được cấp phát theo danh mục tốithiểu, một số thí nghiệm, thực hành sẵn có đồ dùng thiết bị cho giáo viên, họcsinh sử dụng khá thuận tiện

Trang 5

2 Khó khăn

- Một số giáo viên chưa nhận thức hết tầm quan trọng của đồ dùng, thiết bị dạyhọc đối với việc nâng cao chất lượng dạy học các môn học và tạo ra hứng thúcho học sinh khi tiếp cận với nội dung bài học

- Việc sử dụng đồ dùng dạy học của giáo viên thường không thường xuyên Chủyếu thực hiện trong các giờ thao giảng, dự giờ,

- Nhiều giờ học khoa học chưa đạt kết quả cao do giáo viên chưa tổ chức chohọc sinh được tìm tòi, thí nghiệm để tự chiếm lĩnh kiến thức, chưa thực hiện đổimới phương pháp dạy học

- Trường chưa có phòng thí nghiệm, việc tổ chức thực hiện thí nghiệm gặp khókhăn Do đồ dùng thí nghiệm không có nhiều nên hay phải bố trí học sinh ngồitheo nhóm lớn, phải di chuyển, sắp xếp bàn ghế mỗi khi tổ chức, mất khá nhiềuthời gian, Việc tổ chức khai thác đồ dùng chưa triệt để

- Khi có đồ dùng thí nghiệm, giáo viên phải có thời gian làm thử để rút kinhnghiệm và để đảm bảo thí nghiệm thành công Nhưng thường giáo viên không

có nhiều thời gian để chuẩn bị nên khi lên lớp có nhiều tình huống xảy ra khilàm thí nghiệm làm cho giáo viên lúng túng, không chủ động khi xử lý, thậm chí

có những thí nghiệm không thành công

- Một số học sinh còn rụt rè, lúng túng, thao tác chậm trong khi làm thí nghiệm.

3 Kết quả thực trạng

Qua việc phân tích những thuận lợi và khó khăn như trên, năm học

2014-2015 tôi đã tiến hành khảo sát đối với đội ngũ giáo viên và học sinh khối 4, 5của trường về Vai trò của của đồ dùng thiết bị thí nghiệm; việc sử dụng đồ dùngthiết bị thí nghiệm trong dạy học; sự hứng thú do các thí nghiệm khoa học manglại và kết quả học tập chủ đề “Vật chất và năng lượng” của học sinh và đã thuđược kết quả như sau:

- Kết quả khảo sát đội ngũ giáo viên:

Thườngxuyên

Chưathườngxuyên

Tíchcực

Chưatíchcực

Hứngthú

Khônghứngthú

* Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên: Qua phân tích thực trạng tôi thấy

việc sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học còn nhiều hạn chế là do những nguyênnhân chủ yếu sau:

Trang 6

- Yêu cầu về đồ dùng thí nghiệm trong môn Khoa học nhiều nhưng đồ dùng cấpphát mới chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ Giáo viên ngại chuẩn bị đồ dùng

vì có những bài yêu cầu phải chuẩn bị thêm đồ dùng ngoài số được cấp phát;giáo viên không có nhiều thời gian nên việc tự làm đồ dùng phục vụ cho các thínghiệm khoa học còn rất ít

- Cơ sở vật chất phục vụ cho việc tổ chức thực hiện các thí nghiệm khoa học cònhạn chế, gây khó khăn cho giáo viên khi thực hiện

- Việc vận dụng đổi mới phương pháp dạy học còn lúng túng do giáo viên chưabiết kết hợp linh hoạt các phương pháp dạy học theo hướng đổi mới Chưa tự tin

áp dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học hiện đại

- Việc sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học thường mất thêm thời gian, yêu cầuphải có sự chuẩn bị công phu của cả giáo viên và học sinh nên nhiều giáo viênrất ngại sử dụng

- Một số giáo viên thực hiện các thí nghiệm lúng túng do chưa nắm được quytrình, thao tác vụng về do không thường xuyên được rèn luyện; một số lại gặpkhó khăn về kiến thức, về cơ sở suy luận để dẫn đến kết luận của bài học do kiếnthức phổ thông có liên quan đã bị mai một,

III CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1.Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho giáo viên về tầm quan trọng của đồ dùng, thiết bị đối với việc nâng cao chất lượng dạy học môn Khoa học nói chung, chủ đề “Vật chất và năng lượng” nói riêng

Trong những năm gần đây cũng như các bậc học, ngành học khác, bậcTiểu học quan tâm nhiều đến đổi mới phương pháp dạy học Theo quan điểmtriết học duy vật biến chứng: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ

tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng của nhận thức chân

lý, nhận thức hiện thực khách quan", quan điểm này càng có giá trị với học sinhTiểu học Hơn nữa theo quan điểm dạy học hiện đại: Quá trình dạy học khôngchỉ nhằm mục tiêu duy nhất là giúp học sinh nhận thức một số kiến thức kỹ năng

cụ thể mà cần phát huy tính tích cực chủ động, phát triển năng lực sáng tạo củahọc sinh Vai trò của giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn, còn học sinh có vaitrò chủ động sáng tạo trong việc tiếp thu tri thức Để làm tốt được điều này thì

sự hỗ trợ của đồ dùng dạy học là không thể thiếu được Đối với học sinh tiểuhọc, đồ dùng, thiết bị dạy học lại càng đặc biệt quan trọng vì nó giúp các emquan sát sự vật, hiện tượng một cách trực quan, giúp học sinh nhận thức sâu hơnnội dung bài học, hình thành tốt kỹ năng kỹ xảo Thiết bị, đồ dùng dạy học làphương tiện, là điều kiện vật chất để đổi mới phương pháp dạy học

Thiết bị dạy học có tầm quan trọng và thiết thực như vậy nhưng không phảicán bộ quản lý nào, giáo viên nào cũng xác định đúng mức tầm quan trọng đócho nên tôi đã thực hiện việc nâng cao nhận thức tư tưởng cho cán bộ giáo viênnhà trường bằng các biện pháp, đó là:

Tạo sự thống nhất trong công tác chỉ đạo bằng cách triển khai, quán triệt đầy

đủ các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, của ngành đến các tổ chức đoàn thể

Trang 7

trong nhà trường và bản thân mỗi cán bộ giáo viên; tổ chức học tập, trao đổi,thảo luận, in ấn gửi đến tận tay nếu thấy cần thiết.

Tổ chức cho giáo viên học tập nhiệm vụ năm học và các văn bản chỉ đạo củangành một cách đầy đủ, giúp giáo viên thấy được việc làm và sử dụng đồ dùng,thiết bị dạy học thuộc vào quy chế chuyên môn nên mọi giáo viên phải tích cựcthực hiện Bên cạnh đó tổ chức cho giáo viên học tập, trao đổi về tầm quan trọngcủa đồ dùng, thiết bị dạy học đối với con đường nhận thức chân lý; đối với sựhứng thú, tích cực, chủ động, … của học sinh để từ đó tạo ra động cơ đúng đắn,tích cực cho giáo viên trong việc sử dụng đồ dùng, thiết bị đề nâng cao hiệu quảcủa bài dạy

Tích cực tuyên truyền, giải thích để giáo viên thấy việc sử dụng đồ dùng,thiết bị dạy học có ảnh hưởng không những đến việc lên lớp của giáo viên màcòn cả sự phát triển về chuyên môn nghiệp vụ của mỗi người Bởi vì kỹ năng sửdụng, khai thác đồ dùng dạy học là một mặt biểu hiện về kiến thức, kỹ năng sưphạm của giáo viên; cách chuẩn bị, sắp xếp đồ dùng, thiết bị là biểu hiện về nềnếp, tác phong làm việc khoa học và ý thức học tập trau dồi chuyên môn củamỗi người,…

Sau một số tiết dạy thao giảng, chuyên đề có thể tổ chức cho giáo viên traođổi, phân tích sâu để thấy được tác dụng cụ thể của đồ dùng, thiết bị dạy học đếnviệc nhận thức của học sinh; sự hợp tác của học sinh – học sinh, học sinh – giáoviên khi khai thác, sử dụng đồ dùng thiết bị; sự sinh động, hấp dẫn, tường minh

do đồ dùng, thiết bị mang lại cho bài dạy,…Để từ đó, giáo viên có ý thức quantâm thoả đáng cho việc làm, chuẩn bị và sử dụng đồ dùng thiết bị hàng ngày củabản thân

2.Biện pháp 2: Bổ sung cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học để tạo thuận lợi cho giáo viên tổ chức thực hiện các thí nghiệm khoa học hiệu quả khi dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng”

Nhà trường chưa có “phòng thí nghiệm” riêng nhưng thuận lợi là trường còn

dư 01 phòng học Vì vậy tôi đã đề xuất với Hiệu trưởng lấy phòng dư thừa nàysắp xếp lại để làm phòng cho giáo viên và học sinh tổ chức thực hiện các thínghiệm khoa học Căn cứ vào tình hình thực tế về thiết bị và sĩ số học sinh, nănglực của giáo viên, chúng tôi đã sắp xếp, bố trí kê bàn ghế trong “Phòng thí

nghiệm” theo hình chữ U như sau:

Trang 8

Ghi chú: “Bàn biểu diễn thí nghiệm” trong hình trên thường sử dụng khi học sinh báo cáo

kết quả sau khi đã thực hiện thí nghiệm theo nhóm (hoặc GV biểu diễn lại các thí nghiệm khi cần thiết phải tường minh về một vấn đề).

Bàn ghế dùng trong phòng thí nghiệm ưu tiên cho loại bàn ghế đúng quy

chuẩn đối với học sinh lớp 4, 5 để thuận lợi cho việc di chuyển khi học tập theo

nhóm Vị trí để thiết bị đảm bảo đủ chỗ, an toàn và dễ sử dụng Với việc sắp xếp

phòng cho giáo viên, học sinh làm thí nghiệm như trên đã góp phần giải quyếtkhó khăn về cơ sở vật chất, tạo ra những thuận lợi cho giáo viên khi hướng dẫn,

tổ chức cho học sinh thực hiện các thí nghiệm khoa học

Để tạo sự sẵn sàng cho việc sử dụng đồ dùng thiết bị thí nghiệm, tất cả các

đồ dùng được cấp phát, mỗi khi nhận về tôi đều cho bổ sung vào danh mục đồdùng dạy học của khối lớp, bóc dỡ nhãn mác và lắp đặt để trên giá Yêu cầu cán

bộ phụ trách thiết bị thường xuyên lau chùi, kiểm tra và xử lý những chi tiết hưhỏng Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, yêu cầu giáo viên nêu rõ tên đồdùng dạy học cho môn Khoa học, cách sử dụng, các đồ dùng cần bổ sung thêm

để giáo viên nắm vững được nội dung dạy học cần sử dụng đồ dùng, thiết bị hỗtrợ và có kế hoạch sử dụng hợp lý

Để làm phong phú thêm nguồn đồ dùng, thiết bị thí nghiệm tôi đã phát độngphong trào tự làm đồ dùng dạy học trong giáo viên và học sinh Để việc bổ sung

đồ dùng, thiết bị hiệu quả và thiết thực, tôi đã lên một bản thống kê bao gồm cácmục: Tên bài học, đồ dùng đã có, đồ dùng cần làm thêm, phát cho từng giáoviên trực tiếp giảng dạy để nghiên cứu và sử dụng trong quá trình dạy học củamình Với cách làm trên chúng tôi đã bổ sung được một lượng đáng kể thiết bị

đồ dùng phục vụ cho các thí nghiệm khoa học

3.Biện pháp 3: Giới thiệu một số phương pháp dạy học đặc trưng trong dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng” và chỉ đạo giáo viên vận dụng linh hoạt

Để chuẩn bị cho dạy học bộ môn Khoa học nói chung và chủ đề “Vật chất vànăng lượng” môn Khoa học lớp 4 nói riêng, tôi đã tổ chức cho khối lớp 4,5 sinhhoạt chuyên môn nhằm trao đổi, thảo luận về các phương pháp dạy học đặctrưng có tác dụng phát huy được tính tích cực, gây hứng thú cho học sinh như:Phương pháp quan sát, phương pháp thí nghiệm, phương pháp Trò chơi học tập,phương pháp Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ; phương pháp “Bàn tay nặnbột” (đây là phương pháp mới được ngành tổ chức chuyên đề giới thiệu đếnđông đảo cán bộ quản lý và giáo viên vào đầu năm học 2013-2014, yêu cầu vậndụng trong dạy học Khoa học và Tự nhiên – Xã hội) và một số kỹ thuật dạy họctích cực.,… Ở từng phương pháp tôi đã giúp giáo viên nắm bắt được một số dấuhiệu đặc trưng, tác dụng của phương pháp, các bước sử dụng trong dạy học,v.v

Ví dụ:

a Phương pháp thí nghiệm

- Một số dấu hiệu đặc trưng

+ Học sinh phải chọn ra một số yếu tố riêng biệt có thể khống chế được đểnghiên cứu hoặc phải tác động lên hiện tượng, sự vật cần nghiên cứu

Trang 9

+ Học sinh cần phải theo dõi, quan sát các hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm.+ Học sinh cần biết thiết lập các mối quan hệ: nguyên nhân- kết quả, giải thíchcác kết quả thí nghiệm để rút ra kết luận

+ Các điều kiện và quá trình được kiểm soát là thiết yếu đối với một số thínghiệm khoa học

+ Bằng cách thử nghiệm các kết quả khác nhau, hành động khác nhau trongphương pháp học tập khám phá (không yêu cầu kiểm soát chặt chẽ các điều kiện

và quá trình như phương pháp thí nghiệm), cũng giúp học sinh đạt được hiểubiết trực tiếp mà đôi khi rất sâu sắc về quá trình cũng như kỹ năng thí nghiệm

- Yêu cầu sư phạm khi thực hiện thí nghiệm:

+ Vừa sức: nội dung thí nghiệm phù hợp yêu cầu chương trình và khả năng tiếpthu của học sinh

+ Rõ ràng: Thiết bị thể hiện rõ những chi tiết chủ yếu, thể hiện tính trực quan+ An toàn: Mọi trang thiết bị đảm bảo an toàn cho giáo viên, học sinh

+ Gây hứng thú và thuyết phục: Học sinh thấy rõ mục đích thí nghiệm, thí nghiệm phải đảm bảo thành công Những suy lí để dẫn tới kết luận phải chặt chẽ

Tiến trình dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”

Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề.

- Là một tình huống do giáo viên chủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vàobài học Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học

- Câu hỏi phải phù hợp với trình độ học sinh, gây mâu thuẫn nhận thức và kíchthích tính tò mò của học sinh

- Giáo viên phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng

Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh.

Trang 10

- Giáo viên khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu củamình về sự vật, hiện tượng mới.

- Giáo viên cho học sinh trình bày bằng nhiều hình thức: viết, vẽ, nói, …

- Giáo viên không nhất thiết phải chú ý tới các quan niệm đúng, cần phải chútrọng đến các quan niệm sai

Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm

- Đề xuất câu hỏi

+ Từ những khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu, giáo viên giúp họcsinh đề xuất câu hỏi

+ Giáo viên cần khéo léo chọn lựa một số biểu tượng ban đầu khác biệt tronglớp từ đó học sinh đặt câu hỏi liên quan đến bài học để giúp học sinh so sánh

- Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu

+ Từ những câu hỏi của học sinh, giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh đề nghị các

em đề xuất thực nghiệm để tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi đó

+ Giáo viên ghi chú lên bảng các đề xuất của học sinh để các ý kiến sau khôngtrùng lặp

+ Khuyến khích học sinh tự đánh giá ý kiến của nhau hơn là ý kiến của giáoviên nhận xét

Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu

- Quan sát tranh và mô hình và ưu tiên thực nghiệm trên vật thật

- Từ những khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu, giáo viên giúp họcsinh đề xuất câu hỏi

- Giáo viên cần khéo léo chọn lựa một số biểu tượng ban đầu khác biệt trong lớp

từ đó học sinh đặt câu hỏi liên quan đến bài học để giúp học sinh so sánh

Bước 5: Kết luận kiến thức mới

Như vậy, qua việc tìm hiểu về phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy họccác môn Tự nhiên và Xã hội và Khoa học, tôi nhận thấy đây là một phương pháp

có thể phát huy tối đa khả năng tự học và sáng tạo của học sinh, giúp các em tựphát hiện và giải quyết vấn đề thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiêncứu tài liệu hay điều tra Nhờ đó học sinh hình thành khả năng suy luận theophương pháp nghiên cứu từ nhỏ, góp phần hình thành tác phong và phương pháplàm việc của một nhà khoa học khi các em trưởng thành Tuy nhiên để sử dụngphương pháp này trong dạy học Khoa học một cách hiệu quả người giáo viêncần có sự chuẩn bị kỹ càng cho bài dạy, nghiên cứu các tình huống có thể xảy ra

và dự kiến phương án giải quyết để việc vận dụng phương pháp “Bàn tay nặnbột” vào dạy học khoa học đạt hiệu quả cao.v.v

4.Biện pháp 4: Tìm hiểu, thống kê các bài học có yêu cầu thực hành, thí nghiệm; thống kê đồ dùng thiết bị cần chuẩn bị cho bài dạy và triển khai đến từng tổ, khối, từng giáo viên.

Nghiên cứu kỹ nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4 và các văn bảnchỉ đạo chuyên môn hiện hành như: chuẩn Kiến thức kỹ năng môn Khoa học lớp4; Tài liệu hướng dẫn điều chỉnh nội dung chương trình của Bộ Giáo dục và Đàotạo, danh mục đồ dùng, thiết bị tối thiểu các môn học ở Tiểu học, tình trạng kho

Trang 11

thiết bị của trường, Làm bản thống kê chi tiết các bài dạy có yêu cầu thực hiệncác thí nghiệm khoa học và các thiết bị tương ứng Thống kê các đồ dùng theoquy định cần phải chuẩn bị và gửi kết quả thống kê đến tổ, khối và từng giáoviên đang trực tiếp giảng dạy của khối 4 để tiện trong việc chuẩn bị và sử dụng

đồ dùng, thiết bị hằng ngày Chủ đề “Vật chất và năng lượng” có 17 bài có yêucầu về thực hành thí nghiệm, tôi thống kê đầy đủ cả 17 bài để gửi đến từng giáo

viên Nội dung thống kê cụ thể (Xem phụ lục)

5.Biện pháp 5: Tổ chức chuyên đề Đổi mới phương pháp dạy học môn Khoa học lớp 4, tập trung vào dạng bài có yêu cầu về thực hành, thí nghiệm

Ngay từ đầu năm học tôi yêu cầu các tổ lấy ý kiến đề xuất của giáo viên vềcách xây dựng kế hoạch bài học theo hướng đổi mới, khuyến khích giáo viên đềxuất các bài, các chủ đề khó dạy để từ đó tôi có kế hoạch cụ thể cho việc tổ chứcchuyên đề đổi mới phương pháp dạy học tại trường, bao gồm các công việc sau:

- Tổ chức cho giáo viên trao đổi về một kiểu giáo án mẫu (kế hoạch bài học)theo tinh thần đổi mới

- Chỉ đạo giáo viên vận dụng linh hoạt việc đánh giá tiết dạy theo hướng đổi mớiphương pháp dạy học

- Chọn đối tượng thực nghiệm: lựa chọn bài dạy (thường là theo đề xuất của các

tổ chuyên môn hoặc giáo viên), lớp dạy, người dạy

- Tổ chức cho đối tượng thực nghiệm chuẩn bị tiết dạy: Chỉ đạo một giáo viên

có năng lực chuyên môn vững vàng (đặc biệt là có kiến thức phổ thông về mônVật lý tương đối vững), xây dựng kế hoạch bài học theo hướng đổi mới Tổ chứccho giáo viên góp ý, bổ sung kế hoạch bài học trước khi dạy Chuẩn bị các đồ

dùng, thiết bị cần thiết phục vụ cho tiết dạy; thực hiện thử các thí nghiệm và tự phân tích rút kinh nghiệm trước khi tiến hành dạy thật Đảm bảo khi hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm, giáo viên xử lý được các tình huống để thí nghiệm khoa học thành công 100%.

- Tổ chức dự giờ, thảo luận, rút kinh nghiệm về tiết dạy

Tổ chức rút kinh nghiệm riêng và chung cho các tiết thực nghiệm, trọng tâm phân tích kỹ vào việc tổ chức thực hiện thí nghiệm trên lớp của giáo viên Sau

đó đưa ra kết luận là những điểm thống nhất cơ bản khi dạy một dạng bài, mộtkiểu bài ở một khối lớp nhất định để trên cơ sở đó giáo viên có thể vận dụngthuận lợi và linh hoạt, sáng tạo trong lớp dạy của mình

Ví dụ: Trên cơ sở đề xuất của giáo viên khối 4, tôi đã chọn bài Bài 37: “Tại sao

có gió?” để tổ chức dạy thực nghiệm Tôi tổ chức dạy thực nghiệm ở lớp 4A Tôi xin trình bày lại Kế hoạch bài học chi tiết của tiết dạy thực nghiệm tạilớp 4A:

Ghi chú: Trong kế hoạch bài học các kí hiệu viết tắt: GV: giáo viên; HS: học sinh; HĐ: hoạt động

KHOA HỌC 4- BÀI 37: TẠI SAO CÓ GIÓ?

I MỤC TIÊU: Sau bài học, học sinh biết:

- Làm thí nghiệm chứng minh không khí chuyển động tạo thành gió.

- Giải thích tại sao có gió?

Ngày đăng: 17/10/2019, 07:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w