Nghiên cứu phá hủy phức chất Cu(II)EDTA nhằm loại bỏ Cu 2+ ra khỏi nước thải.Đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố như pH, các chất oxi hóa, các tạp chất… đến hiệu suất xử lý Ô nhiễm môi trường nói chung và tình trạng ô nhiễm môi trường do nước thải côngnghiệp nói riêng là một trong những vấn đề quan trọng đặt ra cho nhiều quốc gia. Cùngvới sự phát triển của các ngành công nghiệp, môi trường ngày càng phải tiếp nhận nhiềucác yếu tố độc hại. Đặc biệt, trong ngành công nghiệp mạ, nguồn nước thải có thể chứamột lượng chất độc hại nhất định như: crom, niken, đồng, kẽm, xianua, ... có khả nănggây ảnh hưởng bất lợi đến môi trường tiếp nhận nếu không có biện pháp xử lý hợp lý.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ô nhiễm môi trường nói chung và tình trạng ô nhiễm môi trường do nước thải côngnghiệp nói riêng là một trong những vấn đề quan trọng đặt ra cho nhiều quốc gia Cùngvới sự phát triển của các ngành công nghiệp, môi trường ngày càng phải tiếp nhận nhiềucác yếu tố độc hại Đặc biệt, trong ngành công nghiệp mạ, nguồn nước thải có thể chứamột lượng chất độc hại nhất định như: crom, niken, đồng, kẽm, xianua, có khả nănggây ảnh hưởng bất lợi đến môi trường tiếp nhận nếu không có biện pháp xử lý hợp lý Hiện nay, tại nhiều cơ sở mạ, vấn đề môi trường không được quan tâm đúng mức, chấtthải sinh ra từ các quá trình sản xuất và sinh hoạt không được xử lý trước khi thải ra môitrường nên gây ô nhiễm môi trường trầm trọng Kết quả phân tích chất lượng nước thảicủa các cơ sở mạ điện điển hình cho thấy: hầu hết các cơ sở đều không đạt tiêu chuẩnnước thải cho phép, chỉ tiêu kim loại nặng vượt nhiều lần cho phép, thành phần của nướcthải có chứa cặn, sơn, dầu nhớt, Vì vậy, đầu tư vào công tác bảo vệ môi trường và xử lýnước thải của các cơ sở xi mạ là vấn đề cần phải được quan tâm hiện nay
Đến nay trên thế giới đã có nhiều phương pháp xử lý nước thải mạ điện được đưa ra như:phương pháp trao đổi ion, phương pháp điện hoá, phương pháp hoá học, phương pháphấp phụ, phương pháp sinh học,…Tuy nhiên khả năng áp dụng vào thực tế của cácphương pháp này phụ thuộc vào nhiều yếu tố: hiệu quả xử lý của từng phương pháp, ưunhược điểm và kinh phí đầu tư, Qua nhiều nghiên cứu thực tế đã chỉ ra đặc trưng chungcủa nước thải ngành mạ chứa hàm lượng cao các muối vô cơ và đặc biệt là các kim loạinặng như Cu, Zn, Ni, Trong nước thải xi mạ thường có sự thay đổi pH rất rộng từ pH =2-3 cho đến pH = 10-11 Các chất hữu cơ thường có rất ít trong nước thải xi mạ nên chỉ
số COD và BOD của nước thải mạ thường nhỏ Chính vì vậy đối tượng cần xử lý chínhtrong nước thải là các kim loại nặng có trong nước
Theo các nghiên cứu khoa học, ngoại trừ các ion kim loại tự do có thể loại bỏ dễ dàngthông qua hấp phụ, kết tủa, trao đổi ion, các kim loại nặng có xu hướng tạo thành các
Trang 2phức hữu cơ bền bằng cách nhận cặp electron từ một số nhóm chức Để giải quyết vấn đềnày, phương pháp oxy hóa khử nâng cao (AOP) đang rất được chú ý bởi những hiệu quả
mà nó mang lại trong vấn đề xử lý các phức kim loại nặng trong nước thải Những nămgần đây khi khoa học càng phát triển việc cải tiến quá trình oxy hóa khử nâng cao lại
dàng được tạo ra qua sự kích hoạt của persunfat (PS)
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu xử lý phức Cu(II)-EDTA sử dụng một
số hệ oxy hóa khử nâng cao” cho đồ án tốt nghiệp của mình.
2 Mục tiêu của đồ án
Đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố như pH, các chất oxi hóa, các tạp chất… đến hiệu suất xử lý
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Thí nghiệm giới hạn trong quy mô phòng thí nghiệm bằng mẫu nhân tạo được pha từ
Đối tượng nghiên cứu:
4 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp tổng hợp, phân tích thông tin, số liệu
Phương pháp này thu thập thông tin, số liệu qua các giáo trình nghiên cứu, tài liệu tổnghợp, báo cáo khoa học trong nước và ngoài nước nghiên cứu về phương pháp oxy hóanâng cao để xử lý các hợp chất hữu cơ khó xử lý trong nước thải Từ những tài liệu thu
Trang 3thập được từ đó kế thừa và tiếp thu đưa ra những khái niệm, lý thuyết làm cơ sở lí luậncho đề tài, hình thành giả thuyết khoa học, phương hướng nghiên cứu.
b Phương pháp thực nghiệm phân tích
Sau khi có phương hướng nghiên cứu, tiến hành pha nước thải nhân tạo ( dung dịch phứcCu(II)-EDTA có màu xanh dương )
Thực hiện phân tích bằng các thiết bị (máy Jartest, máy pH, máy nung COD…) sẵn có tạiphòng thí nghiệm kỹ thuật môi trường của trường đại học Thủy Lợi
c Phương pháp liệt kê, so sánh – đối chiếu, xử lý số liệu
hành thống kê, xử lý số liệu, lập bảng biểu theo hệ thống để so sánh hiệu quả xử lý giữacác lần thay đổi điều kiện
5 Tóm tắt các nội dung của đồ án
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về EDTA
1.1.1 Cấu trúc hóa học
EDTA là viết tắt của Ethylene Diamine Tetraacetic Acid Đây là một axit hữu cơ mạnh,
học F.Munz
Hình 1.1 Công thức phân tử của EDTA
1.1.2 Đặc tính của EDTA
EDTA và các tinh thể của nó thường ở dạng tinh thể màu trắng hoặc bột, không bay hơi
formol (HCHO) và gốc cyanide (HCN hoặc NaCN) Nó thường được sử dụng để cô lậpkim loại có hóa trị II và III EDTA kết hợp với kim loại bởi 4 nhóm cacbonxylate và 2nhóm amin EDTA tạo phức đặc biệt mạnh với 4 nhóm : Mn(II), Cu(II), CO(III) vàFe(III)
Trang 51.1.3 Ứng dụng
EDTA được sử dụng trong sản xuất chất tẩy rửa, xử lý nước, công nghiệp giấy và cácngành công nghiệp khác Trong nuôi trồng thủy hải sản thì được sử dụng để xử lý kimloại nặng và làm giảm độ cứng trong nước trong ương giống hoặc nuôi tôm thịt Đặc tínhcủa EDTA là tạo phức với các kim loại ở tỷ lệ 1:1 Khả năng tạo phức với kim loại phụ
phụ thuộc vào hằng số hình thành phức, hằng số càng cao thì khả năng hình thành phứccàng cao Ngoài ra, EDTA còn được sử dụng trong phân bón hóa học và dùng để hòa tansắt trong giải pháp dinh dưỡng cây trồng
1.1.4 Cơ sở lý thuyết tạo phức với kim loại.
1.1.4.1 Giới thiệu các loại phức Chelete, hợp chất hóa học tạo phức Chelate
Chelate là phức chất vòng càng giữa các hợp chấp hữu cơ dẫn xuất từ aminopolycacboxylic acid với các ion kim loại
Hình 1.2 Công thức phân tử tạo phức giữa EDTA và kim loại
(Nguồn: Internet [10])Các dạng tồn tại của trung, vi lượng chelate thường tồn tại ở 2 dạng chủ yếu sau:
EDTA: Ethylene Diamine Tetraacetic Acid
EDDHA: Ethylen Diamine Di (o-Hydroxyphenylacetic) Acid
Trang 6Ngoài ra, đôi khi nó còn tồn tại ở dạng EHPG (N,N'-Ethylenebis-2-(o-HydroxyPhenyl)Glycine).
1.1.4.2 Cơ sở lý thuyết về sự tạo phức Chelete giữa EDTA và ion kim loại
EDTA trong nước là acid yếu, phân ly theo 4 nấc có hằng số pK1=2,0; pK2=2,67;pK3=6,16; pK4=10,26
Trong dung dịch EDTA phân ly theo phương trình:
Na2H2Y → 2Na+ + H2Y2- (1-1)
M+ + H2Y2- → MY3- + 2H+ (kim loại hóa trị I ) (1-2)
M2 + H2Y2- → MY2- + 2H+ (kim loại hóa trị II ) (1-3)
M3+ + H2Y2-→ MY- + 2H+ (kim loại hóa trị III) (1-4)
M4+ + H2Y2- →MY + 2H+ (kim loại hóa trị IV) (1-5)Phản ứng tổng quát của EDTA với ion kim loại:
Trang 7Hình 1.3 Liên kết phân tử giữa EDTA và ion kim loại
(Nguồn: Internet [12])Cấu trúc phức Chelete:
Hình 1.4 Cấu trúc phân tử của phức Chelete
(Nguồn: Internet [12])Cu(II)-EDTA chính là một trong những phức Chelete điển hình nhất
1.2 Tổng quan về công nghệ xi mạ
1.2.1 Giới thiệu về công nghệ xi mạ và dòng thải
Qua thực tế trong những năm gần nay cho thấy Việt Nam là một nước có tốc độ phát triểnkinh tế cao trong khu vực Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa
Trang 8đất nước, chất thải công nghiệp cũng ngày một gia tăng về khối lượng, đa dạng về chủngloại gây ảnh hưởng xấu đến môi trường cũng như sức khỏe của con người, đòi hỏi conngười phải có nhận thức đúng đắn và đầu tư thích đáng cho vấn đề xử lý nhằm phát triểnkinh tế song song với việc bảo vệ môi trường sống của chính mình.
Ngày nay, kỹ thuật mạ kim loại đã trở thành một ngành kỹ thuật phát triển mạnh mẽ ởhầu hết các nước trên thế giới Nước ta cũng đang tập trung phát triển các ngành côngnghiệp phụ trợ, trong đó kỳ vọng đặc biệt vào ngành gia công kim loại Do vậy nhu cầugia công mạ kim loại càng lớn và cũng từ đó việc xử lý chất thải trong gia công mạ – mộtyếu tố có nhiều khả năng phá hủy môi trường – là hết sức cần thiết và cần được giảiquyết triệt để
Nước thải của ngành xi mạ phát sinh không nhiều, nồng độ các chất hữu cơ thấp nhưnghàm lượng các kim loại nặng lại rất cao [9]
1.2.1.1 Công nghệ xử lý bề mặt (xi mạ).
Xi mạ thực chất là quá trình phủ một lớp bảo vệ lên trên bề mặt của các sản phẩm nhưsắt, nhôm, thép, gang, đồng, … nói chung là kim loại một lớp phủ đủ dày để tăng khảnăng chịu mòn, tăng độ cứng bề mặt, vừa làm trang trí sản phẩm vừa để bảo vệ khỏi môitrường khắc nghiệt như rỉ sét, oxy hóa, v.v…
Nhờ phản ứng bảo vệ chống ăn mòn cao của lớp phủ trên nền kim loại tốt trong khôngkhí nên ngày nay xi mạ được áp dụng rộng rãi trong đời sống của người dân Có thể tùyvào mục đích sử dụng mà người ta có thể lựa chọn những biện pháp xi mạ khác nhaunhư: xi mạ điện phân hay mạ nhúng nóng cho sản phẩn của mình
Trang 9Hình 1.5 Sơ đồ thiết bị mạ điện phân
(Nguồn: Internet [9])Công nghệ xử lý bề mặt (xi mạ) thường bao gồm các công đoạn sau:
Bề mặt của vật liệu cần mạ phải được làm sạch để lớp mạ có độ bám dính cao và không
có khuyết tật Để làm sạch bề mặt trước hết phải tẩy rửa lớp mỡ bảo quản trên bề mặtbằng cách tẩy rửa với dung môi hữu cơ hoặc với dung dịch kiềm nóng Dung môi thường
sử dụng là loại hydrocacbon đã được clo hóa như tricloetylen, percloetylen Dung dịchkiềm thường là hỗn hợp của xút, soda, trinatri photphat, popyphotphat, natri silicat vàchất hoạt động bề mặt (tạo nhũ)
Hoạt hóa bề mặt của vật liệu mạ bằng cách nhúng chúng vào dung dịch axit loãng
natri xianua
Giai đoạn mạ được tiến hành sau đó, dung dịch mạ ngoài muối kim loại còn chứa axithoặc kiềm đối với trường hợp mạ có chứa xianua
Trang 10Sau từng bước, vật liệu mạ đều được tráng rửa với nước.
Một số dung dịch mạ có các thành phần chủ yếu sau:
Dung dịch chì: axit + muối chì (II) dạng borflorua hoặc silicoflorua
Dung dịch chì- thiếc: axit, muối chì, thiếc (II) dạng borflorua
Dung dịch đồng hun: dung dịch xianua trong đó đồng nằm trong phức xianua và thiếctrong phức hydroxo Ngoài ra dung dịch còn chứa xianua tự do (NaCN)
Dung dịch cadmi: axit + cadmi dạng muối sunfat Thông dụng hơn là dung dịch cadmidạng phức xianua và xianua tự do
Dung dịch crôm: axit crômic và axit sunfuric
Dung dịch vàng: dung dịch xianua, vàng nằm trong phức NaAu(CN)2 và xianua tự do
Có thể sử dụng phức vàng-sunfit
Dung dịch đồng: axit + đồng sunfat hoặc đồng borflorua
Dung dịch đồng xianua (phức) và xianua tự do, dung dịch đồng dạng polyphotphat vàmuối amoni
Dung dịch niken: muối niken sunfat, clorua và axit yếu (axit boric) hoặc dung dịch nikentrên nền của axit amonisulfonic
Dung dịch bạc: dung dịch bạc xianua hoặc dung dịch bạc thisunfat
Dung dịch kẽm: phức kẽm xianua và xianua tự do hoặc kẽm sunfat, clorua với axit borichoặc muối amoni làm chất đệm
Trang 11Hình 1.6 Một sản phẩm mạ niken
(Nguồn: Internet [9])Quy trình công nghệ chung ngành xi mạ
Trang 12Hình 1.7 Quy trình công nghệ mạ
(Nguồn: Internet [9])Thông qua sơ đồ, ta thấy các dòng thải phát sinh qua từng giai đoạn của công nghệ xi mạ.Tuy nhiên đây là quy trình chung và tóm lược của quá trình xi mạ, trên thực tế còn phảixét đến từng phương thức riêng của mỗi nhà máy, phụ thuộc vào loại hình xi mạ: Mạđiện, mạ nhúng nóng hay mạ hóa học
1.2.1.2 Lưu lượng và thành phần, tính chất nước thải
Nước thải từ quá trình xi mạ có thành phần đa dạng về nồng độ và pH biến đổi rộng từ rấtaxit 2 – 3 đến rất kiềm 10 – 11 Đặc trưng chung của nước thải ngành xi mạ là chứa hàmlượng cao các muối vô cơ và kim loại nặng Tuỳ theo kim loại của lớp mạ mà nguồn ônhiễm có thể là Cu, Zn, Cr, Ni,… và cũng tuỳ thuộc vào loại muối kim loại được sử dụng
mà nước thải có chứa các độc tố như xianua, sunfat, amoni, crômat,… Các chất hữu cơ ít
có trong nước thải xi mạ, phần chủ yếu là chất tạo bông, chất hoạt động bề mặt … nênBOD, COD thường thấp và không thuộc đối tượng xử lý Đối tượng xử lý chính là cácion vô cơ mà đặc biệt là các muối kim loại nặng như Cr, Ni, Cu, Fe, …
Nước thải nên tách riêng thành 3 dòng riêng biệt:
Dung dịch thải đậm đặc từ các bể nhúng, bể ngâm
Nước rửa thiết bị có hàm lượng chất bẩn trung bình (muối kim loại, dầu mỡ và xàphòng )
Nước rửa loãng
Để an toàn và dễ dàng xử lý, dòng axit cromic và dòng cyanide nên tách riêng
Chất gây ô nhiễm nước thải xi mạ có thể chia thành vài nhóm sau:
Trang 13Chất ô nhiễm làm thay đổi pH như dòng axit và kiềm
Chất ô nhiễm hình thành cặn lơ lửng như hydroxit,cacbonat và photphat
Chất ô nhiễm hữu cơ như dầu mỡ, EDTA,…
Các cuộc khảo sát cho thấy các quá trình trong ngành xử lý kim loại khá đơn giản vàtương tự nhau Nguồn chất thải nguy hại phát sinh từ quá trình làm mát, lau rửa và đốtcháy dầu Xử lý kim loại đòi hỏi một số hóa chất như axit sunfuric, HCL, NaOH,…đểlàm sạch bề mặt kim loại trước khi mạ.Thể tích nước thải được hình thành từ công đoạnrửa bề mặt,làm mát hay làm trơn các bề mặt kim loại khá lớn,gây ô nhiễm nguồn nước vàảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
1.2.1.3 Ảnh hưởng của nước thải ngành xi mạ tới môi trường và con người
Là độc chất đối với cá và thưc vật nước
Tiêu diệt các sinh vật phù du, gây bệnh cho cá và biến đổi các tính chất lý hóa của nước,tạo ra sự tích tụ sinh học đáng lo ngại theo chiều dài chuỗi thức ăn Nhiểu công trìnhnghiên cứu cho thấy, với nồng độ đủ lớn, sinh vật có thể bị chết hoặc thoái hóa, với nồng
độ nhỏ có thể gây ngộ độc mãn tính hoặc tích tụ sinh học, ảnh hưởng đến sự sống củasinh vật về lâu dài
Ảnh hưởng đến đường ống dẫn nước,gây ăn mòn, xâm thực hệ thống cống rãnh
Ảnh hưởng đến chất lượng cây trồng, vật nuôi canh tác nông nghiệp, làm thoái hóa đất do
sự chảy tràn và thấm của nước thải
Ảnh hưởng đến hệ thống xử lý nước thải, cần tách riêng nếu không sẽ ảnh hưởng đếnhoạt động của vi sinh vật khi thực hiện xử lý sinh học
Trang 141.2.1.3.2 Ảnh hưởng tới con người
Xi mạ là ngành có mật độ gây ô nhiễm môi trường cao bởi hơi hóa chất, nước thải cóchứa các ion kim loại nặng, kim loại độc ảnh hưởng tới sức khỏe con người gây nhiềucăn bệnh khó chữa, nguy hiểm tới tính mạng Nước thải từ các quá trình xi mạ kim loại,nếu không được xử lý, qua thời gian tích tụ và bằng con đường trực tiếp hay gián tiếp sẽtồn đọng trong cơ thể con người và gây các bệnh nghiêm trọng như viêm loét da, viêmđường hô hấp, eczima, ung thư,…
1.2.1.4 Hiện trạng ô nhiễm môi trường do công nghiệp xi mạ tại Việt Nam
Kết quả các nghiên cứu gần đây về hiện trạng môi trường ở nước ta cho thấy, hầu hết cácnhà máy, cơ sở xi mạ kim loại có quy mô vừa và nhỏ, áp dụng công nghệ cũ và lạc hậu,lại tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, TP.HCM, Biên Hòa( Đồng Nai)…Trong quá trình sản xuất,tại các cơ sở này (kể cả các nhà máy quốc doanhhoặc liên doanh với nước ngoài), vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường còn chưa được xemxét đầy đủ hoặc việc xử lý còn mang tính hình thức, chiếu lệ bởi việc đầu tư cho xử lýnuớc thải khá tốn kém và việc thực thi Luật bảo vệ môi trường chưa được nghiêm minh.Nước thải thường gây ô nhiễm bởi các kim loại nặng như crom, niken, đồng, …và độ pHthấp Phần lớn nước thải từ các nhà máy, các cơ sở xi mạ được đổ trực tiếp vào cốngthoát nước chung của thành phố mà không qua xử lý triệt để, đã gây ô nhiễm cục bộ trầmtrọng nguồn nước
Kết quả khảo sát tại một số nhà máy cơ khí Hà Nội cho thấy, nồng độ chất độc có hàmlượng các ion kim loại nặng như crom, niken, đồng…đều cao hơn nhiều so với tiệu chuẩncho phép; một số cơ sở mạ điện tuy có hệ thống xử lý nước thải nhưng chưa chú trọngđầy đủ đến các thông số công nghệ của quá trình xử lý để diều chỉnh cho phù hợp khi đặctính của nước thải thay đổi Tại TP.HCM , Bình Dương và Đồng Nai kết quả phân tíchchất lượng nước thải của các nhà máy, cơ sở xi mạ điển hình ở cả 3 địa phương này chothấy hầu hết các cơ sở đều không đạt tiêu chuẩn nước thải cho phép: hàm lượng chất hữu
Trang 15cơ cao, chỉ tiêu về kim loại nặng vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép, COD dao độngtrong khoảng 320 – 885 mg/lít do thành phần nước thải có chứa cặn sơn, dầu nhớt….Hơn 80% nước thải của các nhà máy, cơ sở xi mạ không được xử lý Chính nguồn thảinày đã và đang gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường nước mặt, ảnh hưởng đáng kểtới chất lượng nước sông Sài Gòn và sông Đồng Nai Ước tính lượng chất thải các loạiphát sinh trong ngành công nghiệp xi mạ trong những năm tới sẽ lên tới hàng ngàn tấnmỗi năm Điều này cho thấy các khu vực ô nhiễm và suy thoái môi trường ở nước ta sẽcòn gia tăng nếu không kịp thời đưa ra các biện pháp hữu hiệu.
Hình 1.8 Nước thải xi mạ tại một nhà máy
(Nguồn: Internet [9])
1.2.2 Các phương pháp xử lý nước thải xi mạ hiện nay.
Phương pháp xử lý nước thải xi mạ phổ biến nhất là dùng phương pháp hóa học rồi đếntrao đổi ion, phương pháp chưng cất, phương pháp điện thẩm tích Để có thể lựa chọnđược phương pháp thích hợp thì còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chỉ tiêu kinh
Trang 16tế - kỹ thuật cho phép, điều kiện môi trường địa phương, yêu cầu, mục đích dùng lại hoặcthải thẳng ra môi trường theo QCVN 40-2011.
1.2.2.1 Phương pháp kết tủa.
Quá trình kết tủa thường ứng dụng cho xử lý nước thải chứa kim loại nặng Kim loại
để đạt đến giá trị pH tương ứng với độ hòa tan nhỏ nhất Giá trị pH này thay đổi tùy theokim loại Độ hòa tan nhỏ nhất của Crom ở pH 7.5 và kẽm là 10.2 Ở ngoài giá trị đó, hàmlượng hòa tan tăng lên
Khi xử lý kim loại, cần thiết xử lý sơ bộ để khử đi các chất cản trở quá trình kết tủa Thí
dụ như cyanide và ammonia hình thành các phức với nhiều kim loại làm giảm hiệu quảquá trình kết tủa Cyanide có thể xử lý bằng chlorine hoá-kiềm, ammonia có thể khử bằngphương pháp chlorine hoá điểm uốn (breakthrough point), tách khí (air stripping) hoặccác phương pháp khác trước giai đoạn khử kim loại
Trong xử lý nước thải công nghiệp, kim loại nặng có thể loại bỏ bằng quá trình kết tủahydroxit với chất kiềm hóa, hoặc dạng sulfide hay carbonat
Một số kim loại như arsenic hoặc cadmium ở nồng độ thấp có thể xử lý hiệu quả khi cùngkết tủa với phèn nhôm hoặc sắt Khi chất lượng đầu ra đòi hỏi cao, có thể áp dụng quátrình lọc để loại bỏ các cặn lơ lửng khó lắng trong quá trình kết tủa
vôi hoặc xút Hoá chất khử thông thường cho xử lý nước thải chứa Crôm là
nén trong các bình chịu áp Quá trình khử hiệu quả trong môi trường pH thấp Vì vậy các
thành SO42-
Trang 17Phản ứng tổng quát như sau:
Cr 6+ + Fe2+ + H+ → Cr 3+ + Fe3+ (1-7)
Cr6+ + Na2S2O3 (hoặc SO2) + H+ → Cr 3+ + SO42- (1-8)
Cr3+ + 3OH- → Cr(OH)3 ↓ (1-9)
tính toán trên lí thuyết
pH của phản ứng khử và loại hoá chất sử dụng
Xử lý từng mẻ (batch treatment) ứng dụng có hiệu quả kinh tế, khi nhà máy xi mạ có lưu
làm đầy
dòng chảy liên tục đòi hỏi bể axit và khử, sau đó qua bể trộn chất kiềm hoá và bể lắng.Thời gian lưu nước trong bể khử phụ thuộc vào pH, thường lấy tối thiểu 4 lần so với thờigian phản ứng lý thuyết Thời gian tạo bông thường lấy khoảng 20 phút và tải trọng bể
Trong trường hợp nước rửa có hàm lượng crôm thay đổi đáng kể, cần thiết có bể điều hòatrước bể khử để giảm thiểu dao động cho hệ thống châm hóa chất
Trang 181.2.2.2 Phương pháp trao đổi ion
Phương pháp này thường được ứng dụng cho xử lý nước thải xi mạ để thu hồi kim loại
Ví dụ để thu hồi axit crômic trong các bể xi mạ, cho dung dịch thải axit crômic qua cột
khi qua cột resin cation có thể quay trở lại bể xi mạ hoặc bể dự trữ Do hàm lượng Crôm
loãng nước thải axit crômic và sau đó bổ sung axit crômic cho dung dịch thu hồi
Đối với nước thải rửa, đầu tiên cho qua cột resin cation axit mạnh để khử các kim loại.Dòng ra tiếp tục qua cột resin anion kiềm mạnh để thu hồi crômat và thu nước khửkhoáng Cột trao đổi anion hoàn nguyên với NaOH Dung dịch qua quá trình hoàn
lượng trung bình từ 4-6% Lượng dung dịch thu được từ giai đoạn hoàn nguyên cột resincation cần phải trung hoà bằng các chất kiềm hoá, các kim loại trong dung dịch kết tủa vàlắng lại ở bể lắng trước khi xả ra cống
1.2.2.3 Phương pháp điện hóa
Dựa trên cơ sở của quá trình oxy hoá khử để tách kim loại trên các điện cực nhúng trongnước thải chứa kim loại nặng khi cho dòng điện một chiều chạy qua Phương pháp nàycho phép tách các ion kim loại ra khỏi nước mà không cần cho thêm hoá chất, tuy nhiênthích hợp cho nước thải có nồng độ kim loại cao (> 1g/l)
1.2.2.4 Phương pháp sinh học
Dựa trên nguyên tắc một số loài thực vật, vi sinh vật trong nước sử dụng kim loại nhưchất vi lượng trong quá trình phát triển khối như bèo tây, bèo tổ ong, tảo,… Với phươngpháp này, nước thải phải có nồng độ kim loại nặng nhỏ hơn 60 mg/l và phải có đủ chấtdinh dưỡng (nitơ, phốt pho,…) và các nguyên tố vi lượng cần thiết khác cho sự phát triểncủa các loài thực vật nước như rong tảo Phương pháp này cần có diện tích lớn và nướcthải có lẫn nhiều kim loại thì hiệu quả xử lý kém
Trang 191.2.3 Công nghệ xử lý nước thải xi mạ hiện nay.
Do thành phần tính chất nước thải như đã nêu ở trên, nên nước thải xi mạ cần phải đượctách ra để xử lý riêng, các công nghệ hiện nay tập trung chủ yếu vào xử lý hóa lý
Quy trình xử lý nước thải được tóm tắt như sau:
Trang 20Hình 1.9 Quy trình công nghệ xử lý nước thải xi mạ
Trang 21Nước thải xi mạ được dẫn theo đường ống thu gom riêng ra hệ thống xử lý nước thải.Nước thải được gom vào các hố thu, tại hố thu có đặt song chắn rác (SCR) để loại bỏ rácthô (các chất rắn có kích thước lớn) như: giấy vụn, mảnh gỗ, bọc nilông, lá cây … nhằmbảo vệ máy móc thiết bị ở các công trình đơn vị phía sau Nước thải từ 4 dòng phân biệt
tự chảy vào bể điều hòa của từng dòng tương ứng
Ở bể điều hòa, hệ thống đĩa phân phối khí sẽ làm nhiệm vụ xáo trộn nước thải trong bể,ngăn ngừa việc lắng cặn sinh ra mùi khó chịu và làm đồng đều nồng độ, cũng như điềuhòa lưu lượng nước thải Nước thải mang Crôm được bơm lên bể phản ứng khử Crôm VI,
mang tạp chất, dầu mỡ được bơm lên bể phản ứng keo tụ với PAC và Polimer Riêng
suất xử lý ở 2 này rất cao (> 90%) Sau phản ứng, nước thải sẽ tự chảy sang các bể kết tủatương ứng Riêng nước thải sau keo tụ từ bể phản ứng dòng tạp thì chảy trực tiếp sang bểlắng để tách bông cặn
Tại các bể kết tủa, các dung dịch NaOH cũng được châm với liều lượng phù hợp để điềuchỉnh pH và tạo kết tủa Nước thải sau kết tủa cùng với bông cặn chảy sang bể lắng.Sau lắng, nước trong sẽ tự tràn qua máng thu và chảy vào bể khử trùng Chlorine đượcchâm vào bể khử trùng và cũng là giai đoạn cuối cùng trước khi xả nước vào nguồn tiếpnhận Bùn ở bể lắng và ở các bể phản ứng được gom về bể chứa bùn và được xử lý định
kỳ bằng máy ép bùn trước khi thu gom và xử lý theo quy định Nước lắng trong từ bểchứa bùn được tuần hoàn lại bể điều hòa của dòng mang tạp chất Nước sau xử lý đạtQuy chuẩn QCVN 40 : 2011/BTNMT [9]
Trang 221.3 Tổng quan về quá trình oxy hóa nâng cao
1.3.1 Quá trình oxy hóa nâng cao AOPs
1.3.1.1 Định nghĩa.
Một trong những công nghệ tiên tiến nổi trội lên hiện nay là công nghệ phân hủy khoánghóa chất hữu ô nhiễm trong nước và nước thải dựa trên các quá trình oxy hóa nâng cao.Các quá trình oxy hóa nâng cao được định nghĩa là những quá trình phân hủy oxy hóa
hydroxyl là một tác nhân gây oxy hóa mạnh nhất trong số các tác nhân gây oxy hóa đượcbiết từ trước đến nay, có khả năng oxy hóa mọi chất hữu cơ, dù là loại khó phân hủy nhất,
Từ những tác nhân oxy hóa thông thường như hydro peoxit, ozon, có thể nâng cao khảnăng oxy hóa của chúng bằng các phản ứng hóa học khác nhau để tạo ra gốc hydroxyl,thực hiện quá trình oxy hóa gián tiếp thông qua gốc hydroxyl Các quá trình oxy hóanâng cao như là một công nghệ cao có tầm quan trọng trong việc đẩy mạnh quá trình oxyhóa, giúp phân hủy nhiều loại chất hữu cơ ô nhiễm khác nhau trong nước và không khí.Các quá trình oxy hóa nâng cao rất thích hợp và đạt hiệu quả cao, dễ phân hủy các chất ônhiễm hữu cơ khó phân hủy (POPs), như hydrocacbon halogen hóa (trihalometan THM,tricloroetan, tricloroetylen…), các hydrocacbon aromatic (benzen, toluen…),polyclorbiphenyl (PCB), nitrophenol, các hóa chất bảo vệ thực vật, dioxin và furan, thuốcnhuộm và các chất hoạt động bề mặt… [3]
số các tác nhân oxi hóa được biết từ trước đến nay
Bảng 1.1 Thế oxy hóa của một số tác nhân oxy hóa thường gặp
Trang 23(Nguồn: Zhou, H and Smith, D.H,2001)Đặc điểm chung của các tác nhân oxy hóa mạnh là trong điều kiện phản ứng cụ thể sẽ
nhanh và không lựa chọn khi phản ứng với các hợp chất khác nhau Các gốc hydroxyl tự
do này có thể tấn công vào các phân tử chất hữu cơ nhờ vào lực hút của nguyên tử hydro.Các gốc hydroxyl tự do khoáng hóa toàn bộ chất hữu cơ để tạo thành hợp chất không độc
Ngoài ra các quá trình oxy hóa nâng cao gần đây được quan tâm nhiều bởi nó có khảnăng phân hủy nhiều loại hợp chất hữu cơ khó phân hủy như hydrocacbon halogen hóa,hydrocacbon aromatic, các hóa chất bảo vệ thực vật, dioxin, furan, thuốc nhuộm, các chấthoạt động bề mặt…Ngoài ra do tác dụng oxy hóa mạnh nên chúng có thể tiêu diệt đượccác loại vi khuẩn thông thường và các loại vi khuẩn như Campylobacter, Yersina,
phụ gây ung thư như các hợp chất chứa clortrihalometan
Oxy hóa là quá trình trong đó electron được chuyển từ chất này sang chất khác Điều nàytạo ra một hiệu điện thế được tính bằng volt dựa trên hiệu điện thế điện cực hydro bằng 0.Mỗi tác nhân oxy hóa đều có một thế oxy hóa khác nhau và đây chính là đại lượng để đo
độ mạnh yếu của chúng
1.3.1.2 Phân loại
Theo cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (USEPA), dựa theo đặc tính quá trình sử dụng hay không sử dụng nguồn năng lượng bức xạ tia tử ngoại UV có thể phân loại quá trình oxy hóa nâng cao thành hai nhóm
Trang 24Bảng 1.2 Phân loại các quá trình oxy hóa nâng cao
Các quá trình oxy hóa nâng cao không
nhờ tác nhân ánh sáng (Advanced
Non-Photochemical Process-ANPO)
Quá trình FentonQuá trình PeroxonQuá trình CatazonQuá trình oxy hóa đin hóaQuá trình Fenton điện hóaQuá trình siêu âm
Quá trình bức xạ năng lượng caoCác quá trình oxy hóa nâng cao nhờ tác
nhân ánh sáng (Advenced Photochemical
Process-APO)
Quá trình UV/H2O2Quá trình UV/O3Quá trình quang FentonQuá trình quang Fenton biến thểQuá trình quang xúc tác bán dẫnUV/TiO2
(Nguồn, US EPA, 1998:US EPA, 2001)
Các quá trình tạo ra gốc hydroxyl ˙OH
Bảng 1.3 Các quá trình tạo ra gốc hyroxyl tự do
1 H 2 O 2 và Fe 2+ H 2 O 2 + Fe 2+ → Fe 3+ + OH - + * OH Fenton
2 H 2 O 2 /Fe 3+ (ion) và
năng lượng photon UV
Fe 3+ (ion) + H 2 O 2 * OH + Fe 2+ + H + (λ>300nm)
5 H 2 O 2 và năng lượng
photon UV
H 2 O 2 2 * OH (λ = 220nm)
UV/oxy hóa
6 O 3 và năng lượng
photon UV
O 3 + H 2 O 2 * OH + O 2 (λ =253,7nm)
UV/oxy hóa
Trang 257 H 2 O 2 /O 3 và năng lượng
photon UV
H 2 O 2 + O 3 + H 2 O 4 * OH + O 2 (λ = 253,7nm)
UV/oxy hóa
8 TiO 2 và năng lượng
photon UV
TiO 2 e - + h + (λ > 387,5nm)
h + + H 2 O → * OH + H +
h + + OH - → * OH + H +
Quang xúc tác bán dẫn
(Nguồn: Zhou, H and and Smith, D.H,2001)Gốc tự do có đặc tính riêng biệt là trung hòa về điện, trong khi đó các ion đều mang điệntích âm hoặc dương Gốc tự do được hình thành từ sự tách ra hai phần bằng nhau của liênkết electron Các gốc tự do này không tồn tại sẵn có như các tác nhân oxy hóa thôngthường mà chỉ xuất hiện trong quá trình phản ứng với thời gian tồn tại rất ngắn, khoảngvài nghin giây nhưng nó được sinh ra liên tục trong suốt quá trình phản ứng
Gốc tự do được tạo thành từ sự tách ra hai phần bằng nhau của liên kết hai electron, ví dụ
HO : OH +hv → *OH + HO* (1-10)
mang điện
1.3.2 Quá trình Fenton – like
Quá trình Fenton được biết đến đầu tiên qua công trình nghiên cứu của tác giả J.J.Fenton, trong đó ông quan sát thấy phản ứng oxy hóa axit malic bằng hydrogen peoxit đã
sử dụng làm tác nhân oxy hóa rất có hiệu quả, có nhiều đối tượng rộng rãi các chất hữu
cơ và được mang tên “Tác nhân Fenton” (Fenton Reagent) Những năm về sau, hệ xúctác Fenton được nghiên cứu rất mạnh và phát triển rộng hơn bằng những công trình củaWalling C (1975), Barb W.G (1951.a, 1952.b) và DeLart J (1999) không những ở dạng
Trang 26gốc *OH, được gọi chung là các tác nhân kiểu Fenton (Fenton – like Reagents) Các quátrình kiểu Fenton được biết đến là phương pháp hiệu quả và không quá đắt cho quá trình
tương đối rẻ và có sẵn, đồng thời không độc hại và dễ vận chuyển, dễ sử dụng trong khi
dụng quá trình Fenton để xử lý nước và nước thải có thể dẫn đến khoáng hóa
điều kiện đó phải sử dụng rất nhiều hóa chất làm cho chi phí xử lý cao Do vậy trongnhiều trường hợp chỉ nên áp dụng quá trình Fenton để phân hủy từng phần, chuyển cácchất hữu cơ không thể hoặc khó phân hủy sinh học thành các chất mới có khả năng phânhủy sinh học nhằm có thể áp dụng thuận lợi quá trình xử lý sinh học tiếp sau
Quá trình Fenton – like bao gồm quá trình ăn mòn các bề mặt kim loại bằng sắt khi có
cực tím Để nâng cao hiệu quả của quá trình xử lý, gần đây đã có những nghiên cứunhằm cai thiện quá trình Fenton thông thường, trong đó có một hướng đi mới và cho thấy
2.6-3.2V)
1.3.3 Giới thiệu về gốc PS, gốc SO 4
persunfate (PS) có ưu điểm hơn so với các gốc oxy hóa khác ở chỗ nó là một hóa chất rắnnên việc lưu trữ và vận chuyển là vô cùng dễ dàng Ngoài ra, gốc persunfate có độ ổnđịnh cao, độ hòa tan trong nước cao và chi phí tương đối thấp Những ưu điểm này chophép nó trở thành một lựa chọn đầy hứa hẹn cho việc ứng dụng nó để xử lý các chất khóphân hủy Tuy nhiên, phản ứng của persunfate với các chất gây ô nhiễm hữu cơ trongnước thường diễn ra khá chậm Vì vậy việc kích hoạt persunfate là cần thiết để đẩy nhanhquá trình này lên Việc kích hoạt gốc persunfate có thể diễn ra bằng cách tăng nhiệt độ,
sử dụng tia UV hoặc thực hiện các phản ứng hóa học bởi các ion kim loại chuyển tiếp,
Trang 27chẳng hạn như Fe2+ để tạo ra một chất oxy hóa mạnh hơn, đó là gốc SO4* ( Eo =
thân nó không phải là một chất gây ô nhiễm, ngoài ra việc kích hoạt cũng vô cùng đơn
chất khó phân hủy bằng con đường AOPs
bằng phương trình (1-11) thông qua hai bước của phương trình (1-12) và (1-13) như dướiđây:
S2O82- + 2Fe2+ → 2Fe3+ + 2SO4*- (1-11)
SO4*- + OH- → SO42- + OH* (chỉ xảy ra tại pH kiềm) (1-16)
1.3.4 Một số hệ oxy hóa sử dụng persunfate.
1.3.4.1 Hệ PS/UV.
Theo một số nghiên cứu trước đây cho thấy các phản ứng oxy hóa nâng cao nếu đặt dướibức xạ của ánh sáng UV hoặc lân cận UV và ánh sáng khả kiến đều được nâng cao rõ rệt
và nhờ đó có thể khoáng hóa dễ dàng các chất ô nhiễm hữu cơ, ngay cả những chất hữu
cơ khó phân hủy như các loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ dại Quá trình này được gọi là quátrình quang Fenton, thực chất là quá trình Fenton được nâng cao nhờ bức xạ của các
Trang 28photon ánh sáng Từ đó, các nhà khoa học đã có một hướng đi mới bằng việc sử dụng tia
Phương pháp này có rất nhiều ưu điểm: độ hòa tan trong nước cao, phản ứng không chọnlọc và có hiệu quả rộng rãi với các chất gây ô nhiễm môi trường
S2O82- +uv → 2SO4*- (1-18)
SO4*- + H2O → OH* + H+ + SO42- (1-19)
SO4*- + OH- → OH* + SO42- (1-20)Khi hệ UV và muối persunfat tham gia phản ứng với các chất hữu cơ khó bị phân hủy,
được mô tả bằng sơ đồ sau:
Trang 291.3.4.2 Hệ PS/Fe 2+
trình oxy hóa Quá trình này tương tự như quá trình Fenton cổ điển mà ta đã được biếtđến qua các nghiên cứu trước đây
S2O82- + 2Fe2+ → 2Fe3+ + 2SO4*- (1-23)
1.3.5 Động học quá trình oxy hóa
Động học phản ứng là một bộ thông số quan trọng trong việc áp dụng các quá trình phảnứng vào xử lý nước, nó dùng để dự đoán tốc độ tách chất ô nhiễm ra khỏi dung dịchnước Tuy nhiên các tham số động học thực rất khó xác định vì quá trình hấp phụ rấtphức tạp, vì vậy người ta thướng áp dụng các phương trình động học hình thức để xácđịnh các hằng số tốc độ phản ứng
Trang 30Để đánh giá được khả năng tách chất ô nhiễm, trong đồ án này có sử dụng 2 mô hìnhđộng học là phương trình động học bậc 1 (pseudo-first order) và phương trình động họcbậc 2 (pseudo-second order).
Phương trình động học bậc 1 dạng tuyến tính được biểu diễn như sau:
= Phương trình động học bậc 2 dạng tuyến tính được biểu diễn như sau:
Hồi quy tuyến tính các giá trị và các giá trị ( theo thời gian t từ đó xác định được các
Trang 312 CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM 2.1 Quy trình thí nghiệm
2.1.1 Kế hoạch thực hiện
Bước 1: chuẩn bị dụng cụ thí nghiệm
Bước 2: chuẩn bị hóa chất và pha mẫu
Bước 3: điều chỉnh pH ở dung dịch mẫu
Bước 4: tiến hành thí nghiệm, xác định dung dich mẫu sau khi xử lý, tìm ra các điều kiệntối ưu
Trang 32Máy nung COD reactor của Hach (Mỹ).
Natri hydroxit (NaOH 0,5M)
Hoá chất phân tích COD: axit sunfuric (; bạc sunfat (), kalbicromat (
2.1.2.3 Chuẩn bị mẫu và một số dung dịch hóa chất
37,2 g EDTA vào 1000 ml nước cất để tạo ra dung dịch Cu(II)-EDTA có nồng độ 0,1MDung dịch NaOH 0,5M: cân 20g NaOH định mức đến 1000ml
Hóa chất xác định COD:
Hỗn hợp axit đặc và : hòa tan 22g vào 4,09 kg axit (bằng cách hòa tan 5,5g vào 500mlaxit ), khuấy 1-2 ngày để có thể tan hết
Trang 33Dung dịch : Hòa tan 5,1g và 84ml H2SO4 đặc cho vào bình định mức đến 500ml bằngnước cất 2 lần.
Chất chỉ thị Feroin : Cân chính xác 0,75g và 0,35g FeS.7 cho vào cốc thủy tinh Địnhmức 50ml, khuấy cho đến khi tan hết Rót dung dịch vào bình sẫm màu
2.1.3 Xây dựng mô hình thí nghiệm
2.1.3.1 Các bước tiến hành thí nghiệm
Bước 1: Pha chế các dung dịch cần sử dụng trong quá trình làm thí nghiệm, sau đó chuẩn
Bước 2: Thí nghiệm định hướng xác định các thông số cơ bản như: điều kiện pH, thời
Cu-EDTA bằng phương pháp oxy hóa nâng cao
Để lựa chọn được các thông số thích hợp cho việc xử lý phức Cu-EDTA chủ yếu dựa trênhai tiêu chí: hiệu quả loại bỏ chất ô nhiễm và tính kinh tế
Bước 3: Xây dựng phương trình động học đối với các hệ trên từ đó so sánh khả năng xử
Trang 342.2.2.1 Nguyên tắc và cơ chế của phản ứng
Sau khi tiến hành thí nghiệm đối với các hệ oxy hóa nâng cao, phức Cu-EDTA sẽ bị phân
đây ta sẽ sử dụng dung dịch NaOH để tiến hành thí nghiệm
này sau quá trình nung đã trở thành CuO
Sử dụng dung dịch NaOH 0,5M để nâng pH của dung dịch lên 11
Tiến hành cân giấy lọc để xác định khối lượng của giấy trước khi lọc dung dịch, ghi kết
mCu2+= (g/l)Trong đó:
m là khối lượng CuO được xác định
Trang 35V là thể tích dung dịch đã lọc.
2.2.3 Phân tích COD
2.2.3.1 Nguyên tắc
Xác định chỉ số COD dựa vào phương pháp phân tích Kalidicromat (TCVN 6491 –
1999 Chất lượng nước – xác định nhu cầu oxy hóa học)
2.2.3.2 Cơ chế của phản ứng
trong khoảng 2 giờ Hầu hết các hợp chất hữu cơ bị oxy hóa bởi hỗn hợp sôi của và axitsunfuric đặc với xúc tác
Chất hữu cơ + + (+ 14 + 6e → + 14)
Để mọi chất hữu cơ bị oxy hóa hết thì một lượng dư thừa của kali dicromat phải tồn tạitrong dung dịch Lượng biết trước sẽ giảm tương ứng với lượng chất hữu cơ có trongmẫu Khi quá trình oxy hóa đã kết thúc, khối lượng kali dicromat dư thừa phải được đolại để đảm bảo là lượng có thể được xác định với độ chính xác cao Để làm điều này,lượng kali dicromat dư được chuẩn độ với sulfat amoni sắt (FAS) Fe(S).((S).6 cho đến
hóa-khử Feroin cũng được thêm vào trong quá trình chuẩn độ này Khi mọi lượngdicromat dư thừa đã bị khử hết thì tại điểm cuối chuẩn độ, màu của dung dịch chuyển từmàu lục-lam sang nâu ánh đỏ Khối lượng của sulfat amoni sắt đã bổ sung là tươngđương với lượng dicromat kali dư thừa đã được thêm vào trong mẫu gốc Lượng còn lạisau phản ứng sẽ được chuẩn độ bằng dung dịch FAS 0,025N Lượng chất hữu cơ bị oxyhóa được tính bằng lượng tương đương thông qua lượng bị khử Lượng oxy tươngđương này chính là COD Do phép đo COD về nhu cầu oxy của các hợp chất hữu cơtrong mẫu nước, nên một điều quan trọng là không thể có chất hữu cơ nào khác từ bên
Trang 36ngoài có thể ngẫu nhiên thêm vào trong mẫu cần đo Để kiểm soát điều này, cần thiết cómẫu rỗng Một mẫu rỗng được tạo ra bằng cách thêm thuốc thử như axit vào trong mộtthể tích nước cất COD được đo cho cả mẫu nước và cho mẫu rỗng, và hai chỉ số nàyđược đem so sánh với nhau.
2.2.3.3 Cách tiến hành
Chuẩn bị mẫu
Lấy vào ống đun dung dịch 1ml dung dịch 0,25N và 3ml dung dịch axit sufuric đặc vớixúc tác Hút chính xác 2ml mẫu cần chuẩn độ cho vào ống đun trên Đậy chặt nắp ốngnghiệm, lắc đều dung dịch, tiến hành phá mẫu trong thiết bị đun 2 giờ ở nhiệt độ 150°C.Tiến hành làm tương tự với một mẫu trắng : thay 2ml nước mẫu môi trường bằng 2mlnước cất
Chuẩn độ:
Chuẩn độ nồng độ muối FAS: hút chính xác 1 ml dung dịch 0,25N và 3 ml axit sufuricđặc nguyên chất, thêm 2 giọt feroin vào bình nón
Chuẩn độ bằng dung dịch muối FAS tới khi màu nâu đỏ xuất hiện thì dừng lại
Nồng độ FAS tính theo công thức:
Mẫu sau khi phá để nguội đến nhiệt độ phòng và chuyển vào bình nón 100 ml
Thêm 2 giọt chỉ thị feroin vào bình nón, lắc đều, dung dịch có màu xanh lục
Tiến hành chuẩn độ bằng dung dịch muối FAS, màu của dung dịch sẽ chuyển từ màu
tốn