Kết cấu nội dung nghiên cứu của đề tài gồm có 3 chương như sau: Chương 1: Giới thiệu về công nghệ thông tin và phương pháp giảng dạy Chương 2: Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA VŨNG TÀU VIỆN QUẢN LÝ – KINH DOANH
THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ 4.0
Chủ nhiệm đề tài: ThS Hồ Thị Yến Ly Phối hợp thực hiện: ThS Đỗ Thị Bích Hồng
Vũng tàu t2/2019
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU 1- Lý do chọn đề tài
Nhìn lại lịch sử, con người đã chứng kiến 4 cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lớn, chứa đựng sự thay đổi lớn lao không chỉ trong sự biến đổi kinh tế, văn hóa, xã hội một cách toàn diện Tuy nhiên đến cuộc cách mạng lần thứ 4 đang diễn ra, đây là cuộc cách mạng số thông qua các công nghệ như internet vạn vật (Internet of things – IoT), trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence); thực tế ảo (virtual reality), mạng xã hội (Social Network), điện toán đám mây (Cloud Computing), … chuyển toàn bộ thế giới thành thế giới số
Như vậy, cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã đánh dấu một bước phát triển vượt bậc về khoa học công nghệ của nhân loại, làm thay đổi bộ mặt các nền kinh
tế nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro
Trong thời gian vừa qua, khái niệm về cuộc cách mạng công nghệ 4.0 được hứa hẹn một cuộc đổi mới cho tất cả các ngành nghề, tạo ra một sự thay đổi vô cùng lớn trong đời sống kinh tế, xã hội và đây chính là thách thức cho ngành giáo dục trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu thời đại mới, thời đại công nghệ 4.0
2- Mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu các kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy truyền thống
và phương pháp giảng dạy tích cực và có hiệu quả Khảo sát ý kiến của giảng viên và sinh viên về phương pháp giảng dạy hiện tại đang áp dụng
- Đưa ra những giải pháp thay đổi phù hợp với thời đại phát triển của công nghệ
- Phạm vi nghiên cứu: Trường Đại học Bà Rịa Vũng Tàu
3- Đối tượng nghiên cứu:
Trang 3Nghiên cứu hướng đến đối tượng là các bộ giảng viên của Trường Đại học Bà Rịa Vũng Tàu
4- Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu của nhóm mang tính định tính do đó đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích để tìm hiểu sâu sắc vấn đề cần nghiên cứu Tổng hợp và liên kết từng mặt của bộ phận thông tin một cách có hệ thống, đầy
đủ và sâu sắc về vấn đề cần nghiên cứu
- Phương pháp điều tra: Phát phiếu điều tra khảo sát đối tượng là cán bộ giảng viên của Trường Đại học Bà Rịa Vũng Tàu, kết quả khảo sát sẽ được xử lý bằng các công cụ phần mền hỗ trợ để cho một kết quả thực tế chính xác
- Phương pháp quan sát khoa học: quan sát phương pháp giảng dạy của giảng viên để có thêm thông tin cho hướng nghiên cứu của để tài
5- Nội dung nghiên cứu
Để hòa nhập vào cuộc cách mạng công nghệ 4.0, yếu tố then chốt là nguồn lực Do đó cần phải cải cách giáo dục, đào tạo để tạo ra những con người đáp ứng đầy đủ năng lực, theo tiêu chuẩn 4.0 Đã đến lúc giáo dục Việt Nam nói chung và Trường Đại học Bà Rịa Vũng Tàu nói riêng cần có những nhận thức đầy đủ về vị trí cũng như vai trò của mình để đáp ứng làn sóng công nghệ 4.0 này, trong đó vai trò dạy và học của đội ngũ giảng viên và sinh viên là rất quan trọng
Vì vậy để có cái nhìn rõ hơn về khả năng tiếp cận và thích ứng công nghệ 4.0 của đội ngũ giảng viên Trường Đại học Bà Rịa Vũng Tàu trong việc đổi mới phương pháp dạy và học để đạt được hiệu quả cao nhất, nhóm chúng tôi đã chọn
Trang 4đề tài nghiên cứu “Một số giải pháp thay đổi phương pháp giảng dạy tại Trường Đại học Bà Rịa Vũng Tàu trong thời đại công nghệ 4.0 ”
Công nghệ thông tin mà đỉnh cao là công nghệ 4.0 thực sự đã lan tỏa và tác động mạnh mẽ đến giáo dục, việc thay đổi phương pháp giảng dạy cho phù hợp với thời đại là điều không thể tránh khỏi Do đó đề tài đi sâu phân tích để có cái nhìn rõ hơn về thực trạng sử dụng phương pháp giảng dạy của đội ngũ giảng viên Trường Đại học Bà Rịa Vũng Tàu có thực sự đã đổi mới và thích nghi hay chưa, từ đó đề ra các giải pháp để thay đổi cho phù hợp, thích nghi với sự thay đổi của thời đại công nghệ hiện nay Kết cấu nội dung nghiên cứu của đề tài gồm có 3 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu về công nghệ thông tin và phương pháp giảng dạy
Chương 2: Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy tại Trường Đại học Bà Rịa Vũng Tàu
Chương 3: Giải pháp thay đổi phương pháp giảng dạy tại Trường Đại học Bà Rịa Vũng Tàu
Trong quá trình nghiên cứu còn nhiều thiếu sót, kính mong sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học để bài nghiên cứu của nhóm chúng tôi được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Hình 1: Phạm vi đối tượng nghiên cứu của lý luận dạy học
Hình 2: Dấu hiệu của quá trình dạy học
Bảng 2: Thống kê quy mô đào tạo
Bảng 3: Số liệu cán bộ giảng viên
Bảng 4: Số lượng phiếu khảo sát phát ra và tỷ lệ phản hồi
Bảng 4.1 Ý kiến của sinh viên Viện Quản Lý – Kinh Doanh và Viện Du lịch
Bảng 4.1a: Tỷ lệ môn học lý thuyết và thực hành thuộc khối ngành quản lý – kinh doanh và du lịch
Bảng 4.2 Ý kiến của sinh viên Viện CNTT và Điện – Điện tử
Bảng 4.3 Ý kiến của sinh viên Viện Kỹ thuật – Kinh tế biển
Bảng 4.4 Ý kiến của sinh viên Viện Ngôn ngữ - Văn hóa
Bảng 5: Kết quả khảo sát mức độ tìm hiểu thông tin về công nghệ thông tin (Công nghệ 4.0)
Bảng 6: Kết quả khảo sát ứng dụng phương pháp dạy học kết hợp CNTT của giảng viên
Trang 6MỤC LỤC CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN – CÔNG NGHỆ 4.0 7
1.1.Giới thiệu về cuộc cách mạng công nghệ 4.0 7
1.1.1 Lịch sử ra đời các cuộc cách mạng công nghệ 7
1.1.2 Cách mạng công nghệ 4.0 - cơ hội và thách thức 15
1.1.3 Tác động của công nghệ 4.0 đến giáo dục Việt Nam 19
1.2 Phương pháp dạy học đại học 22
1.2.1 Lý luận dạy học và quá trình dạy học 22
1.2.1.1 Lý luận dạy học: 22
1.2.1.2 Quá trình dạy học 25
1.2.2 Phương pháp dạy học 28
1.2.3 Phương pháp dạy học thời đại công nghệ 4.0 35
1.2.3.1 Về phương pháp dạy 35
1.2.3.2 Phương pháp học 38
KẾT LUẬN 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA VŨNG TÀU 40
2.1 Giới thiệu Trường Đại học Bà Rịa Vũng Tàu 40
2.2 Thực trạng phương pháp giảng dạy của Trường Đại học Bà Rịa Vũng Tàu trong thời đại công nghệ thông tin 43
2.2.1.Giới thiệu chung 43
2.2.2 Khảo sát thực trạng sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại trường 45
2.2.2.1 Kết quả khảo sát ý kiến sinh viên về phương pháp dạy học của giảng viên: 45
2.2.2.2 Kết quả khảo sát ý kiến của giảng viên về ứng dụng CNTT trong giảng dạy: 52
KẾT LUẬN 55
Trang 7CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THAY ĐỔI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA VŨNG TÀU 57 3.1 Trường đại học và cách mạng công nghệ thông tin 57 3.2- Giải pháp thay đổi phương pháp giảng dạy tại Trường Đại học Bà Rịa Vũng Tàu trong thời đại công nghệ thông tin (CN4.0) 58
3.2.1 – Các hiệu ứng của công nghệ thông tin đối với quá trình dạy học 58 3.2.2- Giải pháp thay đổi phương pháp giảng dạy 61 3.2.2.1 Nhóm giải pháp 1: Cải cách, đổi mới công tác đào tạo, bồi
dưỡng giảng viên trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin 61 3.2.2.2 Nhóm giải pháp 2: Nhanh chóng đẩy mạnh công tác đầu tư
công nghệ giáo dục tiên tiến 63 3.2.2.3 Nhóm giải pháp 3: Thiết kế chương trình giáo dục và đào tạo
chú trọng định hướng kết quả đầu ra và định hướng năng lực 67
KẾT LUẬN 70 Tài liệu tham khảo: 71
Phiếu khảo sát ý sinh viên về phương pháp giảng dạy của giảng viên……72 Phiếu khảo sát ý kiến giảng viên về phương pháp giảng dạy đang áp dụng 73
Trang 8CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ THÔNG
TIN – CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ 4.0 1.1 Giới thiệu về cuộc cách mạng công nghệ 4.0
1.1.1 Lịch sử ra đời các cuộc cách mạng công nghệ
Cách mạng công nghiệp (Industrial Revolution) là cuộc cách mạng thay đổi trong lĩnh vực sản xuất, dịch vụ Là sự thay đổi cơ bản các điểu kiện kinh tế, văn hóa, xã hội Cho đến nay, thế giới xảy ra 4 cuộc cách mạng công nghệ
Lịch sử các cuộc cách mạng công nghệ trên thế giới diễn ra là cả một quá trình lịch sử bắt đầu từ nửa đầu thế kỷ XVIII Cuộc cách mạng bắt đầu từ những phát minh máy móc ngành dệt ở Anh sau đó lan sang các nước Mỹ, Pháp, Đức,…
Sự thay đổi này kéo dài đến giữa thế kỷ XIX Đây là cuộc cách mạng tạo sự chuyển biến từ lao động thủ công của con người sang lao động của máy móc, từ sản xuất thủ công sang nền sản xuất cơ khí
Cuộc cách mạng lần đầu tiên:1 mở ra một trang sử mới làm thay đổi cơ bản những điều kiện kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, xã hội loài người Cuộc cách mạng công nghệ lần đầu tiên diễn ra thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX (1708 – 1835) diễn ra ở Tây Âu và Bắc Mỹ với thành tựu cơ bản là chế tạo máy móc, giao thông, đường sắt
Với sức mạng của khoa học công nghệ, các nước tư bản Châu Âu đã bành trướng khắp thế giới thông qua chủ nghĩa thực dân Đại diện cho nửa đầu của cuộc cách mạng công nghệ lần đầu tiên (1708 – 1935)
- 1709: Abraham Draby phát minh lò cao
1 nguồn Sổ tay thuật ngữ quan hệ quốc tế - Đào Minh Hồng, Lê Hồng Hiệp – ĐHKHXH và NV, TpHCM 2013
Trang 9- 1712: Newcomen chế tạo động cơ hơi nước dung trong hầm mỏ
- 1733: John Kay áp dụng máy dệt cơ khí
- 1759: Nhà máy sản xuất đồ sứ của Wedgwood bắt đầu hoạt động tại Anh
- 1764: Hargreaves phát min máy xe sợi Jenny
- 1769: Thomas Arkwright phát minh máy xe sợi chạy bằng sức nước
- 1769: Nicolas Cugnot chế tạo xe chạy bằng hơi nuớc
- 1773: Arkwright xây dựng nhà máy sợi đầu tiên
- 1773: Chiếc cầu bằng gang đầu tiên được xây ở Coalbrookdale (Anh) Eli Whitney phát minh máy tỉa hạt bông ở Mỹ
Cuộc cách mạng này diễn ra xoáy sâu vào mâu thuẫn đối kháng gay gắt của giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Mâu thuẫn đấy đã khiến các nhà xã hội không
tưởng như Saint Simon, Charles Fourrier và Robert Owen chủ trương xây dựng một
xã hội công nghiệp hạn chế bóc lột, hạn chế sự cách biệt giàu nghèo, khắc phục những mặt tiêu cực của xã hội tư bản trên cơ sở thuyết phục các nhà tư bản
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, khái niệm “công nghiệp hóa” xuất hiện
và được dùng thay thế cho Cách mạng Công nghiệp Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi cơ bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý kinh tế, quản lý xã hội từ lao động thủ công sang lao động theo hình thức công nghiệp nhằm tạo ra năng suốt lao động cao hơn Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nhờ công nghiệp hóa, một số các quốc gia phương Tây phát triển thành quốc gia công nghiệp Nhiều nước thuộc Thế giới thứ ba cũng bắt đầu các chương trình công nghiệp hóa
dưới sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ hoặc Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh nửa cuối
thế kỷ 20 Nỗ lực này ở một số nước Đông Á thành công hơn ở các nơi khác trên thế giới
Trang 10Nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX (1836 – 1913), đây được xem là giai đoạn của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 2 được diễn ra Nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX (1836 – 1913) diễn ra trên diện rộng toàn thế giới và phát triển mạnh mẽ, thành tựu của giai đoạn này là động cơ đốt trong và điện Đại diện các nhà khoa học
- 1837: Samuel Morse nghĩ ra mã Morse
- 1838: Brunel đóng tàu thủy hơi nước Great Western
- 1842: James Nasmyth sáng chế búa hơi đầu tiên Những năm
- 1850: Các thành phố công nghiệp ở Anh đựơc nối với nhau bằng kênh đào
và đuờng sắt
- 1851: “Đại triển lãm” được tổ chức ở điện Crystal
- 1856: Bessemer phát minh ra lò chuyển Bessemer
- 1859: Giếng dầu đầu tiên đựơc khoan ở Pennsylvania (Mỹ)
- 1867: Nobel phát minh ra thuốc nổ
- 1868: Georges Leclanché, người Pháp, phát minh ra pin khô
- 1869: Mendeleyev lập ra bảng tuần hoàn nguyên tố hóa học
- 1870: Kênh đào Suez hoàn tất giúp việc đi lại sang Ấn Độ dễ dàng
- 1875: Bell thực hiện cuộc gọi điện thoại đầu tiên
- 1877: Nikolaus Otto sáng chế động cơ xăng bốn kì
- 1877: Lắp đặt tổng đài điện thoại công cộng đầu tiên
- 1882: Nhà máy thủy điện đầu tiên được xây
- 1885: Sản xuất những chiếc ôtô đầu tiên tại Đức
- 1887: Dunlop phát minh ra lốp bơm hơi
Trang 11- 1896: Marconi phát minh hệ thống rađiô đầu tiên
- 1900: Cả Mỹ và Đức vượt Anh về sản lượng thép
- 1903: Anh em nhà Wright thực hiện chuyến bay đầu tiên có động cơ và có điều khiển
- 1909: Leo Baekeland phát minh chất dẻo đầu tiên là bakelit
Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 2 1 : với sự phát minh trong các lĩnh vực
về điện, cơ khí đã thay đổi từ sản xuất đơn lẻ sang sản xuất hàng loạt bằng máy móc chạy bằng năng lượng điện
Về quản lý trong nền đại công nghiệp là dây chuyền sản xuất hàng loạt - áp dụng nguyên lý quản trị của F.W Taylor ứng dụng vào thực tiễn năm 1913 - hãng Ford đi tiên phong Các nhà khoa học đã có những phát minh lớn về những công cụ sản xuất mới: máy tính, máy tự động và hệ thống máy tự động, người máy, hệ điều khiển tự động Các nhà sáng chế thời kỳ này cũng nghiên cứu, tạo ra những vật liệu mới như chất polymer; Các nguồn năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thủy triều… cũng được tìm ra để thay thế cho nguồn năng lượng cũ Những tiến bộ thần kì trong giao thông vận tải và thông tin liên lạc như máy bay siêu âm khổng lồ, tàu hỏa tốc độ cao và những phương tiện thông tin liên lạc, phát sóng vô tuyến qua hệ thống vệ tinh nhân tạo, những thành tựu chinh phục
vũ trụ như phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất, bay vào vũ trụ
và đặt chân lên mặt trăng là những thành tựu đi vào lịch sử của cuộc cách mạng công nghiệp lần hai này Bên cạnh đó, cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp với những tiến bộ nhảy vọt trong cơ khí hóa, thủy lợi hóa, phương pháp lai tạo
Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 3 1 một hành trình nổ lực cải cách năng lượng xanh, gồm 5 trụ cột (1)
(1) Sự chuyển dịch sang năng lượng tái tạo
Trang 12(2) Chuyển hóa các công trình xây dựng ở tất cả các lục địa thành những nhà máy điện mini để thu gom năng lượng tái tạo tại chỗ
(3) Áp dụng công nghệ Hydro và các công nghệ lưu trữ khác trong mọi công trình và xuyên suốt cơ sở hạ tang để lưu trữ năng lượng gián đoạn
(4) Sử dụng công nghệ internet để chuyển đổi lưới điện của tất cả các lục địa thành một liên mạng lưới chia sẻ năng lượng hoạt động giống như internet
(5) Chuyển các phương tiện vận tải sang phương tiện chạy điện và pin nhiên liệu
có thể mua và bán điện thông qua một lưới điện thông minh ở cấp châu lục
Cuộc cách mạng công nghiệp lần 3 diễn ra vào những năm 1970 với sự ra đời của sản xuất tự động dựa vào máy tính, thiết bị điện tử và Internet, tạo nên một thế giới kết nối
Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba diễn ra khi có các tiến bộ về hạ tầng điện
tử, máy tính và số hoá vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990)
Cho đến cuối thế kỷ 20, quá trình này cơ bản hoàn thành nhờ những thành tựu khoa học công nghệ cao Vệ tinh, máy bay, máy tính, điện thoại, Internet… là những công nghệ hiện nay chúng ta thụ hưởng là từ cuộc cách mạng này
Năm 2013, một từ khóa mới là “Công nghiệp 4.0” bắt đầu nổi lên xuất phát
từ một báo cáo của chính phủ Đức đề cập đến cụm từ này nhằm nói tới chiến lược công nghệ cao, điện toán hóa ngành sản xuất mà không cần sự tham gia của con người Đây được gọi là cuộc cách mạng số, thông qua các công nghệ như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tại ảo (AR), mạng xã hội, điện toán đám mây, di động, phân tích dữ liệu lớn (SMAC)… để chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số
Trang 13Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 (CMCN 4.0) 1 là xu hướng hiện tại của tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất Nó bao gồm các hệ thống mạng vật lý, mạng Internet kết nối vạn vật và điện toán đám mây Công nghiệp 4.0 tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo ra các “nhà máy thông minh” hay “nhà máy số” Trong các nhà máy thông minh này, các hệ thống vật lý không gian ảo sẽ giám sát các quá trình vật lý, tạo ra một bản sao ảo của thế giới vật lý Với IoT, các hệ thống vật lý không gian ảo này tương tác với nhau và với con người theo thời gian thực,
và thông qua IoS, người dùng sẽ được tham gia vào chuỗi giá trị thông qua việc sử dụng các dịch vụ này…
Tất cả những phát triển mới và các công nghệ mới đều có đặc điểm chung: chúng tận dụng sức mạnh lan tỏa của số hóa và công nghệ thông tin (CNTT) Các
xu thế lớn của công nghệ có thể được chia thành 3 nhóm: vật lý/hữu hình, kỹ thuật
số và sinh học Cả ba đều liên quan chặt chẽ với nhau và với các công nghệ khác để đem lại lợi ích cho nhau dựa vào những khám phá và tiến bộ của từng nhóm
1 Vật lý/hữu hình: Bốn đại diện chính của xu hướng lớn về phát triển công
có trước Công nghệ này khác hoàn toàn so với chế tạo trừ, lấy đi các vật liệu thừa
từ phôi ban đầu cho đến khi thu được hình dạng mong muốn Ngược lại, công nghệ
in 3D bắt đầu với vật liệu rời và sau đó tạo ra một sản phẩm ở dạng ba chiều từ mẫu
kỹ thuật số
Trang 14- Khoa học robot cao cấp: Siêu tự động hóa cộng với trí tuệ nhân tạo (AI) khiến việc tự động hóa phát triển mạnh hơn, thậm chí với những kỹ năng trước đây chỉ có con người sở hữu Siêu tự động hóa cực cao có thể cho phép sự tham gia của robot và các cỗ máy có trí thông minh nhân tạo phân tích kết quả, đưa ra các quyết định phức tạp và ứng dụng những kết luận vào hoạt động sản xuất
- Vật liệu mới: Với thuộc tính mà mà chỉ cách đây vài năm vẫn còn được coi là viễn tưởng, những vật liệu mới đang được đưa ra thị trường về tổng thể, chúng nhẹ hơn, bền hơn, có thể tái chế và dễ thích ứng
2 Kỹ thuật số:
Từ CMCN 4.0, sự hội tụ giữa ứng dụng vật lý và ứng dụng kỹ thuật số là sự xuất hiện IoT Mô tả đơn giản nhất, có thể coi IoT là mối quan hệ giữa vạn vật (các sản phẩm, dịch vụ, địa điểm, ) và con người thông qua các công nghệ kết nối và các nền tảng khác nhau Theo các chuyên gia, IoT có thể tạo ra một cuộc cách mạng công nghiệp mới, khiến cả nền kinh tế thế giới và đời sống nhân loại phải chuyển mình theo
Không giống như các cuộc cách mạng trước - thường diễn ra theo xu hướng phát minh mới làm mờ đi phát minh cũ, IoT được tin là sẽ tạo cơ hội cho tất cả các ngành nghề đều được hưởng lợi IoT gia tăng cũng có nghĩa là việc truyền tải dữ liệu và giao tiếp qua internet tăng lên Chính vì thế mà tất cả các công ty, ngành nghề đều có thể sử dụng các dữ liệu đó để phân tích và quyết định chiến lược cạnh tranh giành lấy thành công cho mình trong tương lai
Theo Công ty nghiên cứu Rand Europe (Anh), đến năm 2020, IoT sẽ đem lại doanh thu tiềm năng khổng lồ cho các ngành trên thế giới vào khoảng từ 1,4 nghìn
tỷ - 14,4 nghìn tỷ USD - tương đương với mức GDP của cả Liên minh châu Âu Không những thế, một báo cáo mới nhất của hãng phân tích kinh tế Business Insider Intelligence còn dự báo, đến năm 2020 nhiều ngành kinh tế cơ bản sẽ tăng
Trang 15cường đầu tư cho hệ sinh thái IoT với tổng số tiền đầu tư cho các giải pháp IoT ước chừng 6 nghìn tỷ USD Trong đó, các nhà sản xuất công nghiệp chế tạo sẽ tăng 35% đầu tư cho việc sử dụng các cảm biến thông minh
Ngành giao thông sẽ có hơn 220 triệu xe hơi được kết nối Ngành công nghiệp quốc phòng sẽ chi 8,7 tỷ USD cho các phương tiện không người lái và sẽ có
126 nghìn robot quân sự được xuất xưởng Sản xuất nông nghiệp sẽ cài đặt 75 triệu thiết bị IoT, chủ yếu là các thiết bị cảm biến được đặt ở trong đất để theo dõi nồng
độ axít, nhiệt độ và các chỉ số khác để giúp nông dân tăng năng suất mùa vụ Ngoài
ra, còn nhiều lĩnh vực khác cũng tăng cường đầu tư hệ sinh thái IoT như lĩnh vực bán lẻ, dịch vụ vận tải, ngân hàng, y tế Nói chung, trong vài năm nữa, IoT sẽ bao trùm hầu khắp các ngành nghề trong ba khu vực chính: Chính phủ, DN và người tiêu dùng, với ước tính có 24 tỷ thiết bị được kết nối Internet và tham gia vào hệ sinh thái IoT
3 Sinh học
Với sức mạnh của máy tính, các nhà khoa học không còn phải dùng phương pháp thử, sai và thử lại, thay vào đó họ thử nghiệm cách thức mà các biến dị gen gây ra các bệnh lý đặc thù Bước tiếp theo sẽ là sinh học tổng hợp Công nghệ này
sẽ giúp chúng ta có khả năng tùy biến cơ thể bằng cách sửa lại ADN Đặt những vấn đề đạo đức qua một bên, sinh học tổng hợp sẽ phát triển hơn nữa, những tiến bộ này sẽ không chỉ tác động sâu và ngay tức thì về y học mà còn về nông nghiệp và sản xuất nhiên liệu sinh học
Báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố tháng 9 năm 2015 đã xác định 21 sản phẩm công nghệ sẽ định hình tương lai kỹ thuật số và thế giới siêu kết nối Đó là những sản phẩm mà mọi người kì vọng sẽ xuất hiện trong 10 năm bắt nguồn từ những thay đổi sâu sắc của CMCN 4.0 Sau đây là 21 sản phẩm được sắp xếp theo số lượng ý kiến giảm dần:
Trang 16- 10% dân số mặc quần áo kết nối với internet
- 90% dân số có thể lưu trữ dữ liệu không giới hạn và miễn phí (kèm quảng cáo)
- 1 nghìn tỷ cảm biến kết nối với internet
- Dược sĩ robot đầu tiên ở Mỹ
- 10% mắt kính kết nối với internet
- 80% người dân hiện diện số trên internet
- Chiếc ôtô đầu tiên được sản xuất hoàn toàn bằng công nghệ in 3D
- Chính phủ đầu tiên thay thế điều tra dân số bằng các nguồn dữ liệu lớn
- Chiếc điện thoại di động cấy ghép vào người đầu tiên được thương mại hóa
- 5% sản phẩm tiêu dùng được sản xuất bằng công nghệ in 3D
- 90% dân số dùng điện thoại thông minh
- 90% dân số thường xuyên truy cập internet
- 10% xe chạy trên đường ở Mỹ là không người lái
- Cấy ghép gan dựa trên công nghệ in 3D
- 30% việc kiểm toán ở công ty được thực hiện bằng trí tuệ nhân tạo
- Lần đầu tiên chính phủ thu thuế qua một blockchain (một giao thức an toàn trong đó một mạng các máy tính cùng nhau xác thực một giao dịch trước khi được lưu trữ và chấp thuận)
- Hơn 50% lượng truy cập internet ở nhà liên quan đến các thiết bị dân dụng
- Trên toàn cầu những chuyến đi du lịch hay công tác sẽ được thực hiện qua các phương tiện chia sẻ cũng nhiều hơn so với các phương tiện cá nhân
- Thành phố đầu tiên với hơn 50.000 người không có đèn giao thông
- 10% tổng sản phẩm nội địa toàn cầu được lưu trữ trên blockchain
- Máy trí tuệ nhân tạo đầu tiên được sử dụng cho một hội đồng quản trị công
ty
1.1.2 Cách mạng công nghệ 4.0 - cơ hội và thách thức
Trang 17Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 được xây dựng trên cơ sở của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 3, là sự hợp nhất các công nghệ, thu hẹp ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số và sinh học
Việc áp dụng rộng rãi những tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông ICT, như IoT, điện toán đám mây, công nghệ thực tế - ảo vào hoạt động sản xuất công nghiệp làm mờ đi ranh giới giữa thế giới thực và thế giới ảo, được gọi là hệ thống sản xuất thực - ảo/điều khiển - vật lý CPPS (cyber-physical production system) Đây là nền tảng cho việc xây dựng các nhà máy thông minh, nhà máy số ngày nay CPPS là mạng lưới giao tiếp trực tuyến giữa các máy móc với nhau, được
tổ chức như mạng xã hội
Trong nhà máy số, các thiết bị máy móc thông minh giao tiếp với nhau bằng
hệ thống mạng và liên tục chia sẻ thông tin về lượng hàng hiện tại, về sự cố hoặc lỗi, về những thay đổi trong đơn đặt hàng hoặc mức độ nhu cầu Quá trình sản xuất
và thời hạn sản xuất được phối hợp với mục tiêu tăng hiệu suất và tối ưu hóa thời gian sản xuất, công suất và chất lượng sản phẩm trong các khâu phát triển, sản xuất, tiếp thị và thu mua Các cảm biến, chấp hành và điều khiển cho phép các máy móc liên kết đến nhà máy, các hệ thống mạng khác và giao tiếp với con người Các mạng thông minh này là nền tảng của các nhà máy thông minh, nhà máy số ngày nay
Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 tạo ra động lực chính cho nền kinh tế, đó là
sự thay đổi trong kỳ vọng của người dùng, sự hội tụ của các công nghệ mới cùng với sự xuất hiên của các mô hình kinh doanh mới
Thế giới đang chứng kiến hàng loạt những đột phá khoa học và tiến bộ công nghệ, đây là những xu hướng và động lực dẫn dắt CMCN 4.0 Vô số tổ chức đã sử dụng các công nghệ khác nhau sẽ thúc đẩy CMCN 4.0 Những đột phá khoa học và công nghệ mới dường như là vô hạn, diễn ra trên rất nhiều mặt khác nhau và ở nhiều nơi khác nhau Các công nghệ quan trọng cần xem xét được dựa trên nghiên
Trang 18cứu do Diễn đàn Kinh tế Thế giới thực hiện và các công việc của một số hội đồng chương trình nghị sự toàn cầu
Do đó, CMCN 4.0 được đánh giá sẽ vượt ra khỏi quy mô công xưởng, DN khi vạn vật được kết nối bởi internet Cụ thể, không những tất cả máy móc thiết bị trong công xưởng được kết nối với nhau thông qua internet, rất nhiều cảm biến cũng đồng thời được lắp đặt để thu thập dữ liệu Cách làm này giúp máy móc có thể “giao tiếp” với nhau mà không cần sự có mặt của con người, hay dây chuyền sản xuất sẽ được vận hành tự động một cách thích hợp ứng với lượng tồn kho
Các DN sản xuất chi tiết cũng sẽ được kết nối với DN lắp ráp, DN vận chuyển, cửa hàng phân phối và tiêu thụ để thành một thể thống nhất Điều này cũng
có nghĩa là cuộc cách mạng lần này không chỉ hướng tới tăng năng suất và giảm lao động Khi lượng thông tin trao đổi sẽ tăng lên gấp hàng trăm tới hàng nghìn lần, đồng thời nảy sinh ra 3 sự thay đổi lớn:
• Thứ 1: thời đại sản xuất một sản phẩm với số lượng lớn sẽ dần kết thúc Thay
vào đó là khả năng tiếp nhận nhu cầu của khách hàng và truyền tới công xưởng sản xuất ngay trong thời gian thực Các dây chuyền sản xuất sẽ tự động kết hợp với nhau để sản xuất đơn chiếc mới mức giá thấp như hiện nay Đây gọi là thời đại sản xuất hàng loạt sản phẩm đơn chiếc theo nhu cầu của khách hàng Đi tiên phong trong lĩnh vực này là nước Đức
• Thứ 2, sự thay đổi trong khái niệm thay đổi thiết kế mới của sản phẩm như ô
tô, xe máy Hiện nay, giá trị gia tăng của ngành sản xuất phụ thuộc chủ yếu vào việc gia công vật liệu như kim loại thành sản phẩm, đưa vào đó phần mềm hoặc hệ thống điều khiển Tuy nhiên trong tương lai hệ thống kết nối internet sẽ thu thập nhu cầu của khách hàng, dựa trên cở sở đó nhà sản xuất sẽ chỉ cập nhật phần mềm
để lên đời sản phẩm như những chiếc điện thoại thông minh hiện nay Không những sản phẩm mà thiết bị sử dụng trong sản xuất cũng chỉ cần cập nhật phần mềm để
Trang 19thêm tính năng mới mà không cần phải thay mới chi tiết hay bộ phận Nắm đầu xu thế này đang là các công ty của Mỹ
• Thứ 3, thế giới sẽ chứng kiến một cuộc lật đổ ngoạn mục của các doanh
nghiệp công nghệ thông tin, khi họ biến các doanh nghiệp sản xuất trở thành “tay sai” cho mình Với khả năng thu thập và phân tích dữ liệu các doanh nghiệp công nghệ thông tin sẽ nắm được nhu cầu của khách hàng và tự đưa ra được sản phẩm tương ứng Sau đó họ sẽ thuê doanh nghiệp sản xuất làm sản phẩm giúp mình Vì thế, thời đại của một “cuộc đảo chính” trong nền sản xuất đang tới gần
Cũng như các cuộc cách mạng công nghệ trước đó, cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 có tiềm năng nâng cao mức thu nhập toàn cầu và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân trên toàn thế giới CMCN 4.0 sẽ tạo ra các lợi ích hết sức
to lớn Người tiêu dùng dường như được hưởng lợi nhiều nhất từ cuộc cách mạng công nghệ này Cuộc CMCN 4.0 đã tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới với chi phí không đáng kể phục vụ người tiêu dùng Chỉ đơn giản với một thiết bị như một máy tính bảng, chúng ta có thể đọc sách, lướt web và thông tin liên lạc, sở hữu khả năng
xử lý tương đương với 5.000 máy tính để bàn của 30 năm trước, với chi phí lưu trữ thông tin gần như bằng không (ngày nay lưu trữ 1GB có chi phí trung bình ít hơn 0,
03 USD một năm, so với hơn 10.000 USD thời điểm cách đây 20 năm)
Trong tương lai, sáng tạo công nghệ cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi diệu kỳ từ phía cung, với những lợi ích lâu dài về hiệu quả và năng suất Chi phí giao thông vận tải và thông tin liên lạc sẽ giảm xuống, hậu cần và các chuỗi cung ứng toàn cầu
sẽ trở nên hiệu quả hơn, các chi phí thương mại sẽ giảm Tất cả những điều đó sẽ giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Đồng thời, như các nhà kinh tế Erik Brynjolfsson và Andrew McAfee đã chỉ
ra, CMCN 4.0 có thể mang lại sự bất bình đẳng lớn hơn, đặc biệt là ở khả năng phá
vỡ thị trường lao động Khi tự động hóa thay thế con người trong toàn bộ nền kinh
tế, người lao động sẽ bị dư thừa và điều đó làm trầm trọng hơn khoảng cách giữa lợi
Trang 20nhuận so với đồng vốn và lợi nhuận so với sức lao động Mặt khác, xét về tổng thể, các công việc an toàn và thu nhập cao hơn có thể sẽ gia tăng sau khi công nghệ thay thế dần con người
Ngoài mối quan tâm kinh tế, sự bất bình đẳng là mối quan tâm xã hội lớn nhất gắn liền với CMCN 4.0 Những người hưởng lợi lớn nhất của sự đổi mới có xu hướng là các nhà cung cấp vốn trí tuệ và vật chất - những nhà sáng tạo, các cổ đông
và nhà đầu tư - điều này giải thích chênh lệch tăng lên về sự giàu có giữa những người phụ thuộc vào vốn và với lao động Do đó, công nghệ là một trong những lý
do chính giải thích tại sao thu nhập đã chững lại, hoặc thậm chí giảm, đối với phần lớn dân số ở các nước có thu nhập cao: nhu cầu lao động có tay nghề cao đã tăng trong khi nhu cầu đối với người lao động ít được đào tạo và kỹ năng thấp đã giảm
Thời đại IoT cũng tạo ra những thách thức nhất định mà các quốc gia cần phải có sự chuẩn bị trước Chẳng hạn như việc gia tăng sử dụng hệ sinh thái IoT sẽ làm tăng nguy cơ xâm phạm đời tư, an ninh mạng và những vấn đề liên quan đến trách nhiệm của con người trong sử dụng các sản phẩm kết nối không dây hay các phương tiện không người lái Các vấn đề bảo mật sẽ trở nên quan trọng hơn rất nhiều Ngoài ra, cần phải duy trì tính toàn vẹn của quá trình sản xuất, tránh các rủi
ro nào về công nghệ thông tin, những yếu tố sẽ gây hậu quả sản xuất, cần bảo vệ bí quyết công nghiệp (được chứa trong các tập tin điều khiển cho các thiết bị tự động hóa công nghiệp)
1.1.3 Tác động của công nghệ 4.0 đến giáo dục Việt Nam
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã tạo ra những thay đổi lớn trong đời sống kinh tế xã hội, đó cũng là những thách thức cho ngành giáo dục phải làm thế nào để đào tạo ra những nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của thời đại
Trang 21Để hòa nhập vào cuộc cách mạng công nghệ 4.0, yếu tố then chốt là nguồn lực Do đó cần phải cải cách giáo dục, đào tạo để tạo ra những con người đáp ứng đầy đủ năng lực, theo tiêu chuẩn 4.0 Đã đến lúc giáo dục Việt Nam cần có những nhận thức đầy đủ về vị trí cũng như vai trò của mình để đáp ứng làn sóng công nghệ 4.0 này, trong đó vai trò dạy và học của đội ngũ giáo viên, giảng viên và học sinh, sinh viên là rất quan trọng
Với sự lan truyền ứng dụng rộng rãi của công nghệ 4.0, các lĩnh vực, ngành nghề khi đó sẽ tự động hóa thay thế con người và đòi hỏi yêu cầu về kỹ năng lao động của con người ngày một cao Khi đó nếu người lao động không nâng cao năng lực tay nghề, kỹ năng thích ứng nhanh sẽ bị đào thải khỏi thị trường lao động Vì vậy câu hỏi đặt ra không chỉ ở Việt Nam mà cho cả thế giới làm thế nào để đào tạo
ra nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển trong bối cảnh mới
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 cùng với những cơ hội và thách thức liên tiếp được đưa ra tại nhiều hội thảo khoa học, từ lĩnh vực sản xuất, công nghệ đến dịch vụ, trong đó lĩnh vực giáo dục cũng là một trong những lĩnh vực cần có sự thay đổi tích cực thích nghi và là lĩnh vực quan trọng, nơi đào tạo, cung cấp nguồn lực có chất lượng cho thị trường lao động Bước đầu, ngành giáo dục Việt Nam đã
có những bước tiếp cận, tìm hiểu, mổ xẻ bằng các hội thảo khoa học có liên quan như:
- Hội thảo “cách mạng 4.0 và ứng dụng tại các trường đại học, cao đẳng Việt Nam”, diễn ra ngày 24-25/2/2017 do Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng tổ chức
- Mô hình đại học 4.0- nền tảng giáo dục thế kỷ 21” diễn ra ngày 20/7/2017 tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
- Hội thảo “Giáo dục trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0” ngày 2/8/2107 tại trường Đại học Sư Phạm Hà Nội
Trang 22- Hội thảo “Cách mạng công nghiệp 4.0 - Cơ hội và thách thức đối với Doanh nghiệp dược Việt Nam” ngày 5/8/2018 tại triễn lãm Y tế Quốc tế Việt Nam lần thứ
13 Tp.HCM
- Hội thảo “Nhu cầu nhân lực chất lượng cao cho phát triển trong bối cảnh cách mạng 4.0 và những đáp ứng của giáo dục đại học Việt Nam” ngày 23/11/2018 tại trường Đại học Kinh tế TpHCM
Hòa nhập vào cuộc cách mạng công nghệ 4.0, hệ thống giáo dục cần phải có những đổi mới để đào tạo ra những sinh viên có có đầy đủ năng lực đáp ứng nhu cầu thị trường, cần phải thay đổi tư duy quá trình dạy và học bởi quá trình dạy và học là một trong những yếu tố then chốt để tiến tới đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo hướng công nghệ 4.0
Cách mạng công nghệ 4.0 đã ảnh hưởng toàn diện đến nền giáo dục Việt Nam, từ bậc phổ thông đến đại học Vì vậy nó đặt ra những khó khăn vô cùng lớn cho nền giáo dục Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập và cần có sự thay đổi lớn để muốn hòa nhập với thế giới và có mặt trong bảng xếp hạng về giáo dục Đặc biệt là đối với các trường đại học, là nơi đào tạo cuối cùng để cung cấp nguồn lực đáp ứng nhu cầu cho các nhà tuyển dụng, cho nền kinh tế
Giáo dục trong thời đại 4.0 sẽ đặt ra cho các trường đại học những thách thức
vô cùng lớn, bởi các trường đại học ở Việt Nam vẫn có những hạn chế trong việc đáp ứng nhu cầu ngày càng cao đội ngũ nhân lực có trình độ, có chất lượng Do đó, với cuộc cách mạng 4.0 sẽ đặt ra cuộc đua cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ trong nước mà mang tính toàn cầu Người lao động cần phải có tư duy sáng tạo, khả năng thích nghi môi trường làm việc tránh nguy cơ thất nghiệp, bị
sa thải
Nhằm đổi mới, bắt kịp theo bối cảnh số hóa nền kinh tế 4.0, các trường đại học cần phải đổi mới nhanh chóng, thay đổi mục tiêu, nội dung, hình thức và
Trang 23phương pháp dạy và học, phương thức đánh giá đầu ra của người học, bồi dưỡng người dạy theo hướng thực học, thực hành và thực nghiệm định hướng vào công nghệ
Như vậy có thể thấy sự tác đông của công nghệ 4.0 tới giáo dục là to lớn, cụ thể:
- Tạo ra nhu cầu đào tạo cho các cơ sở giáo dục
- Hệ thống giáo dục nghề nghiệp sẽ bị tác động mạnh và toàn diện, danh mục ngành nghề đào tạo cần phải điều chỉnh, cập nhật liên tục, hàng loạt nghề nghiệp cũ
sẽ mất đi thay vào đó là cơ hội phát triển cho những ngành nghề đào tạo mới
- Thị trường lao động sẽ có sự phân hóa cao giữa nhóm lao động có trình độ, tay nghề thấp với nhóm lao động có trình độ, tay nghề cao
- Cách mạng công nghiệp 4.0 không chỉ tạo ra cơ hội đào tạo những người mới chưa qua đào tạo, còn đòi hỏi ngay cả những người đã đi làm, từ công nhân đến kỹ
sư đều phải thay đổi, cập nhật về kiến thức, kỹ năng ở mức độ cao hơn
- Làm thay đổi mọi hoạt động trong các cơ sở đào tạo, để đáp ứng nhân lực cho nền kinh tế thì cần phải thay đổi các hoạt động đào tạo, nhất là đối với ngành nghề đào tạo, hình thức đào tạo và phương pháp đào tạo, phương thức ứng dụng giảng dạy cho phù hợp với thời đại và phù hợp với nhu cầu Điều đó có nghĩa là với những mô hình truyền thống sẽ thay thế bằng những mô hình hiện đại theo công nghệ Với mô hình hiện đại mới sẽ gắn kết giữa cơ sở giáo dục và đào tạo với doanh nghiệp, đẩy mạnh hình thành các cơ sở đào tạo trong lòng doanh nghiệp để phân chia nguồn lực chung, sử dụng nguồn lực tối ưu nhất
1.2 Phương pháp dạy học đại học
1.2.1 Lý luận dạy học và quá trình dạy học
1.2.1.1 Lý luận dạy học
Lý luận dạy học là một bộ phận của khoa học giáo dục, được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử lâu dài và ngày nay nó trở thành một môn khoa
Trang 24học độc lập trong hệ thống khoa học giáo dục Có rất nhiều mô hình dạy học và mỗi một mô hình đều có bản chất riêng biệt của nó
- Thế kỷ 18, trên thế giới có 3 dòng tư tưởng về lý luận dạy học:
+ Trường phái theo chủ nghĩa duy vật biện chứng: xuất phát từ tư tưởng của Karl Marx (1818 – 1883).Theo tư tưởng này có Lothar Klingberg và Hacker (Đức); Leontjew, Wygotsky, Galiperin (Liên xô),…
+ Trường phái theo chủ nghĩa duy tâm: được hình thành từ tư tưởng của Ernst Schleiermacher (1768 -1834); đại diện lý thuyết cho trường phái này có: Wilhelm Dilthey (Đức 1833 – 1911); Max Frischeisen Koehler (1878 – 1923), Herman Nohl (1879 – 1963), John Deway (1859 – 1952)
+ Trường phái chủ nghĩa khoa học phân tích kiểm chứng: tư tưởng hình thành trường phái này là August Comte người Pháp (1789 – 1857), đại diện cho trường phái này là Skinner, Bloom,…
- Cuối những năm 70 đầu những năm 80 xuất hiện khủng hoảng về mô hình lý luận dạy học cơ sở cho mỗi một trường phái Đầu thập nhiên 90 những mô hình lý luận dạy học có sự liên kết học hỏi lẫn nhau và vận dụng của nhau những kết quả nghiên cứu
Hiện nay trên thế giới có các mô hình lý luận dạy học chính như sau:
- Mô hình lý luận day học biện chứng (Dialec)
- Mô hình lý luận dạy học lý thuyết thông tin (Informativ)
- Mô hình lý luận quan điểm điều khiển (Kybernetiv)
- Mô hình lý luận dạy học lý thuyết học tập (Learn Theorie)
- Mô hình lý luận dạy học thực dụng (Pragmatismus)
- Mô hình lấy giáo viên, học sinh làm trung tâm
Trang 25Hình 1: Phạm vi đối tượng nghiên cứu của lý luận dạy học
(Nguồn: Lý luận dạy học TS Nguyễn Văn Tuấn)
Do sự phát triển của xã hội cũng như nhu cầu của việc dạy và học trong những điều kiện và đặc thù nội dung khoa học khác nhau, lý luận dạy học đã có sự chuyên biệt hóa nhưng tổng thể lý luận dạy học cũng chỉ có 2 bộ phận đó là lý luận dạy học đại cương và lý luận dạy học chuyên biệt
Nhiệm vụ của lý luận dạy học đại cương là nghiên cứu phát hiện ra quy luật bản chất chung cho tất cả các quá trình dạy học và tìm ra điều kiện để thực hiện quy luật trong thực tiễn dạy học Lý luận dạy học chuyên biệt có mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của từng môn học, từng bậc học Do đó, với sự kết hợp của lý luận dạy học đại
Bằng cái gì Ai
Trang 26cương, thống nhất giữa cái chung cái riêng chúng bổ sung cho nhau giúp giải quyết các vấn đề cơ bản của lý luận dạy học
Một số luận điểm cơ bản của lý luận dạy học:
- Komensky (1592 – 1670) là người đặt nền móng cho lý luận dạy học với hai tác phẩm xuất bản tại Nurmberg năm 1657, ngoài ra ông cũng là người sáng lập khoa sư phạm mới Tư tưởng sư phạm của ông vẫn còn tác dụng đến ngày nay, hai tác phẩm của ông là:
+ Lý luận dạy học vĩ đại (Great Didactic)
+ Dạy học bằng tranh ảnh (Orbis Picture)
- Jen Jacques Rousseau (1712 – 1778) là nhà sư phạm và xã hội, và là người gây ra hai cuộc cách mạng xã hội và cách mạng giáo dục ở Pháp Quan điểm dạy học của ông là:
+ Dạy học là phát triển các giác quan
+ Thực tiễn cuộc sống đem lại kinh nghiệm tốt nhất
+ Hoạt động dạy học phải trên cơ sở hoạt động
+ Khuyến khích học nghề
- Johann Heinrich Pestalozzi (1746 – 1827), với quan điểm dạy học là nghệ thuật sáng tạo nâng cao lòng khát vọng của con người
+ Thích nghi việc dạy học với những vấn đề tâm lý
+ Nền tảng của sự hiểu biết là trực giác và ngôn ngữ
+ Giáo dục kỹ thuật số là yếu tố cần thiết và mang lại giá trị thực tiễn
+ Giáo dục là khoa học và là nghệ thuật để rèn luyện trí tuệ, cải tạo xã hội
1.2.1.2 Quá trình dạy học
a Khái niệm:
Quá trình dạy học là một chuỗi các hành động liên tiếp các hoạt động dạy, hành động của người dạy và người đọc đan xen và tương tác với nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học
Trang 27Dạy học là một hoạt động đặt thù của xã hội, nhằm truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm của xã hội trên cơ sở đó hình thành và phát triển nhân cách người học
Đó là sự vân động của hoạt động kép trong đó diễn ra hai hoạt động có chức năng khác nhau, đan xen và tương tác lẫn nhau đó là hoạt động dạy và hoạt động học
+ Hoạt động học, chủ thể người học, hướng vào đối tượng học,tiếp nhận và chuyển hóa nó, biến thành của riêng, qua đó phát triển chính bản thân mình
+ Hoạt động dạy, chủ thể là người dạy, hướng vào đối tượng dạy làm cho nó trở thành đối tượng của sự điều kiển mình
+ Hoạt động dạy và hoạt động học đề phải được tiến hành trên bản thể của quá trình dạy học
+ Kết quả của quá trình dạy học làm biến đổi ở người học những đặc tính nào
đó đã được xác định từ trước và tương ứng với nội dung dạy học
Giảng viên
tra Dạy học
Trạng thái của người học ở
thời điểm bắt đầu được thể
Điều kiện ngoại cảnh
Trang 28Hình 2: Dấu hiệu của quá trình dạy học
(Nguồn: Lý luận đại học TS Nguyễn Văn Tuấn)
Hoạt động dạy học gồm hai măt của một quá trình đó là dạy và học luôn đi kèm biện chứng với nhau Hoạt động dạy – học có đặt trưng như sau:
- Thể hiện vai trò chủ đạo của giảng viên
- Là một hoạt động có mục đích rõ ràng
- Có nội dung, chương trình kế hoạch cụ thể
- Diễn ra trong một môi trường nhất định (lớp học, phòng thực hành, phòng thí nghiệm, …)
- Sử dụng phương tiện đa dạng
- Đa dạng về hoạt động: nhận thức, trí tuệ, vận động, thao tác,…
- Kết quả hoạt động dạy được đánh giá thông qua kết quả học tập
b Bản chất của quá trình dạy học
+ Quá trình dạy học là một phận của quá trình sư phạm tổng thể
+ Quá trình dạy học là một quá trình nhận thức
+ Quá trình dạy học là một quá trình tâm lý
+ Quá trình dạy học là một quá trình xã hội
+ Quá trính dạy học là quá trình người học vừa là khách thể vừa là chủ thể + Quá trình dạy học là một quá trình vận động, vừa mang tính ổn định và bất
Trang 291.2.2 Phương pháp dạy học
1.2.2.1 Khái niệm
Phương pháp là hình thức vận động bên trong nội dung, là cách thức, con đường để đạt được mục tiêu nhất định, giải quyết những nhiệm vụ nhất định
Đặc điểm của phương pháp dạy học:
- Tính mục tiêu là dấu hiệu cơ bản của phương pháp dạy học
- Tính cấu trúc trên con đường đi tới mục tiêu
- Gắn liền với nội dung và thay đổi theo từng đối tượng nghiên cứu
Trong quá trình dạy học, phương pháp dạy học là nhân tố cơ bản vô cùng quan trọng Cùng với nội dung mà người học có thể chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo theo những phương pháp khác nhau và kết quả đạt được cũng sẽ khác nhau
Một số khái niệm cơ bản về phương pháp dạy học như sau:
- Theo Bách khoa toàn thư Liên Xô năm 1965: “Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của người dạy và người học, nhờ đó mà người học nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành thế giới quan, phát triển năng lực nhận thức”
- Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Cách thức làm việc của người dạy và người học dưới sự chỉ đạo của người dạy làm người học nắm vững kiến thức kỹ năng, kỹ xảo một cách tự giác, tích cực tự lực, phát triển những năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành thế giới quan duy vật khoa học”
- Phương pháp dạy học là những cách thức, con đường, là phương hướng hành động để giải quyết về nhận thức của người học nhằm đạt được mục tiêu dạy học
1.2.2.2 Các phương pháp dạy học
a Phân loại phương pháp dạy học
Trang 30Phương pháp dạy học rất đa dạng vì hoạt động dạy và học chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố, mục tiêu, nội dung Quan điểm phân loại phương pháp dạy học như sau:
❖ Căn cứ vào mục đích của lý luận dạy học:
M.A Đanhilốp và B.P ExiPốp đã phân ra các nhóm sau:
(1) Nghiên cứu tài liệu mới, hình thành kỹ năng, kỹ xảo
(2) Củng cố hoàn thiện kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
(3) Ứng dụng kiến thức kỹ năng, kỹ xảo
(4) Kiểm tra đánh giá kiến thức kỹ năng, kỹ xảo
❖ Căn cứ nguồn kiến thức và tính đặc trưng của sự tri giác thông tin
Quan điểm E.I PrôpXki; E.I Golant phân ra nhóm sau:
(1) Phương pháp dùng ngôn ngữ
(2) Phương pháp trực quan
(3) Phương pháp thực hành
❖ Căn cứ vào đặc trưng hoạt động nhận thức của người học
I.A Lerơme M N Skatkin phân nhóm như sau:
(1) Giải thích, minh họa, tái hiện
(2) Trình bày nêu vấn đề
(3) Tìm hiểu từng thành phần
(4) Nghiên cứu
❖ Căn cứ vào mức độ tích cực, sang tạo của người học
R.C Sharmar phân nhóm như sau:
Trang 31(1) Dạy hoc lấy người dạy làm trung tâm; vai trò và hoạt động của người dạy là chủ yếu, người học thụ động
(2) Dạy học lấy người học làm trung tâm, quá trình dạy học hướng vào nhu cầu, khả năng hứng thú của người học, phát triển năng lực tự nhận thức, năng lực độc lập, phát triển tư duy Người dạy và người học cùng khảo sát từng khía cạnh của vấn đề Người dạy đóng vai trò hướng dẫn
❖ Căn cứ theo mặt trong và mặt ngoài
(1) Phương pháp giới thiệu tài liệu mới
(2) Phương pháp vận dụng kiến thức kỹ năng, kỹ xảo
(3) Phương pháp hệ thống hóa, khái quát hóa
(4) Các phương pháp kiểm tra – đánh giá kiến thức kỹ năng, kỹ xảo
(5) Cấu trúc con đường lĩnh hội tri thức đơn giản (phương pháp logic): các bước tiến hành theo thứ tự của cấu trúc con đừong lĩnh hội tri thức đơn giản của con người như theo quy nạp, diễn dịch, phân tích hay tổng hợp, kế thừa và phát triển
Trang 32(6) Cấu trúc con đường lĩnh hội tri thức phức hợp, chuyên biệt: gồm các phương
pháp như dạy học theo chương trình hóa, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học
Algorit, …
Mục tiêu chung về giáo dục hay những định hướng chung về phương pháp dạy học
PP dạy học tính toàn diện, pp dạy học định hướng hành năng (hoạt động), pp dạy học định hướng giải quyết vấn đề, PP dạy học tích cực
Kiểu phương pháp chung (Concept)
Kiểu phương pháp dạy học mở, kiểu thông báo tái hiện, kiểu daỵ học phát hiện, kiểu dạy học kiến tạo, kiểu dạy học thông báo…
CẤU TRÚC BÊN NGOÀI (Hình thức tổ chức) CẤU TRÚC TRONG (Vận động của nội dung
dạy học) Hình thức tổ chức Mục đích,
chức năng lý luận
Theo con đường nhận thức
Hình thức hoạt động (kiểu hoạt động)
- Dạy học theo nhóm
- Dạy học theo cá nhân
- Nhóm pp truyền thụ:
Thuyết trình, diễn trình
- Nhóm pp đối thoại: đàm
thoại, thảo luận
- Nhóm pp nghiên cứu, thực hành: PP
nghiên cứu, pp thực hành
- PP gây động
cơ
- PP nghiên cứu nội dung tri thức mới
- PP ứng dụng tri thức, KN
- PP củng cố
- PP kiểm tra đánh giá
- PP phân tích tổng hợp
- PPP qui nạp
- P diễn dịch
- PP Kế thừa phát triển
- PP hệ thống hóa …
- Phương pháp dạy học giải quyết vấn
đề,
- PP dạy học chương hóa,
- PP dạy học Algorit
Hình 3: các phương pháp dạy học
(Nguồn: Lý luận đại học TS Nguyễn Văn Tuấn)
Trang 33b Các phương pháp dạy học
(1) Kiểu phương pháp dạy học thông báo – tiếp nhận
Cấu trúc hoạt động là theo hình thức dạy học: người dạy thông báo – người học tiếp nhận tri thức Thông thường có sự thay đổi thường xuyên giữa các hình thức thông báo tri thức của người dạy và các bài luyện tập của người học
Đưa ra cấu trúc tri thức
đã sắp xếp
Tích cực hóa tự động
Thông báo tri thức Thấy được tổng quan về cấu trúc logic
của tài liệu học tập Tiếp nhận tri thức
Hình 4 : cấu trúc hành động của phương pháp dạy học thông báo – tiếp nhận
(Nguồn: Lý luận đại học TS Nguyễn Văn Tuấn)
(2) Phương pháp khám phá và giải quyết vấn đề
Mục đích của phương pháp là nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Để giải quyết một vấn đề cần đòi hỏi phải nắm bắt những quy luật của phương pháp giải quyết vấn đề với tư cách là chiến lược của việc tìm kiếm và phát hiện Dạy học theo phương pháp này cần hướng vào việc khám phá những mối quan hệ còn chưa biết đối với chủ thể học tập
Trang 34Bản chất của dạy học giải quyết vấn đề là người học nhận thức và giải quyết vấn đề, lập kế hoạch giải quyết, thực hiện giải quyết vấn đề và thường xuyên tự kiểm tra giải quyết vấn đề
Đặt vấn đề
Giúp đỡ quá trình học tập
Giúp đỡ, định hướng kết quả
NHẬN BIẾT VẤN ĐỀ Phân tích vấn đề và các giả thuyết đã đưa ra
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Kiểm tra giả thuyết và tìm cách giải quyết vấn đề
VẬN DỤNG Đánh giá cách giải quyết vấn đề
Vận dụng cách giải quyết vấn đề
Hình 5: cấu trúc hành động của dạy học khám phá – giải quyết vấn đề
(Nguồn: Lý luận đại học TS Nguyễn Văn Tuấn)
(3) Phương pháp truyền thụ
Thuyết trình: là cách thức người dạy dùng lời nói để trình bày một nội dung nào đó theo hệ thống chủ động trước lớp và học sinh bị động Điểm nổi bật của phương pháp là tính chất thông báo trong lời giảng của người dạy, người học tiếp nhận một cách thụ động những thông tin đó mà không tác động gì đến đối tượng nghiên cứu Người học chỉ nghe, nhìn và ghi nhớ
Diễn trình làm mẫu: là phương pháp người dạy trình bày các thao tác với đồ dùng dạy học để người học trực tiếp quan sát nhằm nhận thức đúng đắn sự vật hiện tượng, các thí nghiệm,… hoặc các thao tác thuộc kỹ năng nghề nghiệp, qua đó người học nhận thức, ghi nhớ và làm mẫu
Trang 35(4) Phương pháp đối thoại
Đàm thoại: là phương pháp hỏi đáp trong dạy học, trong đó người dạy đặt ra câu hỏi, khích lệ để gợi mở người học dựa vào kiến thức đã học mà trả lời nhằm rút
ra những kiến thức mới hay củng cố hoặc kiểm tra
(5) Phương pháp thảo luận:
Là phương pháp dùng lời nói trong đó người dạy hoặc trưởng nhóm gợi mở, động viên và tổ chức cho người học tham gia ý kiến về một vấn đề trên cơ sở đó rút
ra kết luận, kiến thức mới, xác định và làm sang tỏ vấn đề, trao đổi ý kiến, tin tức liên quan đến bài học, chuẩn bị cho một kế hoạch tìm tòi hay nghiên cứu vấn đề
(6) Tổ chức dạy thực hành
Là phương pháp dạy học để người học lĩnh hội và hình thành một kỹ năng,
kỹ xảo hoạt động nghề nghiệp sau đó
Hình 6: Quy trình hình thành kỹ năng hoạt động của người dạy và người học
(Nguồn: Lý luận đại học TS Nguyễn Văn Tuấn)
Quá trình hình thành kỹ năng cho người học gồm ba giai đoạn như sau:
NH
ND
Lĩnh hội hiểu biết kỹ thuật
Động hình vận động
Bắt chước Luyện tập
Kỹ năng
Định hướng thông tin kỹ thuật
Làm mẫu hình
Hình ảnh, biểu tượng, vận động
KQ
Trang 36- Giai đoạn 1: Giai đoạn hình thành động cơ và lĩnh hội hiểu biết cần thiết cho hoạt động Kết quả của giai đoạn này là hình thành biểu tượng và hình ảnh động bao gồm nhận thức về mục đích, nhiệm vụ và trình tự các động tác cần thực hiện
Để đạt được kết quả này người dạy phải định hướng tạo động cơ học tập và hiểu biết cần thiết cho người học
- Giai đoạn 2: giai đoạn tạo dựng động hình vận động nhằm chuyển biểu tượng vận động thành các vận động tay chân Động hình có được nhờ quan sát và bắt chước một cách có ý thức những động tác đang và đã có trước đây Để hỗ trợ người học thì người dạy phải làm mẫu, giải thích kỹ về hành động cần hình thành kỹ năng
- Giai đoạn 3: giai đoạn hình thành kỹ năng, giai đoạn này kỹ năng dần dần hình thành nhờ tái hiện, lặp đi lặp lại nhiều lần
1.2.3 Phương pháp dạy học thời đại công nghệ 4.0
Để hòa nhập vào cuộc cách mạng công nghệ 4.0, hệ thống giáo dục cần phải
có những đổi mới để đào tạo ra những sinh viên có có đầy đủ năng lực đáp ứng nhu cầu thị trường, cần phải thay đổi tư duy quá trình dạy và học bởi quá trình dạy và học là một trong những yếu tố then chốt để tiến tới đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo hướng công nghệ 4.0 các trường đại học cần phải đổi mới nhanh chóng, thay đổi mục tiêu, nội dung, hình thức và phương pháp dạy và học, phương thức đánh giá đầu ra của người học, bồi dưỡng người dạy theo hướng thực học, thực hành và thực nghiệm định hướng vào công nghệ
1.2.3.1 Về phương pháp dạy
Giáo dục Việt Nam để đào tạo ra những nguồn lực có chất lượng cao, đáp ứng tiêu chuẩn 4.0, các trường đại học cần phải thay đổi tư duy quá trình dạy và học Đội ngũ giảng dạy cần phải đổi mới quá trình dạy, từ cách dạy truyền thống trước đây sang phương pháp dạy hiện đại phù hợp với thời đại 4.0 bằng cách
Trang 37chuyển từ truyền thụ kiến thức sang hình thành phẩm chất và phát triển năng lực người học, phát huy tối đa tiềm năng của người học
Do đó, để thích nghi, ứng phó với những thách thức, các trường đại học cần giảng dạy những kiến thức tích hợp, đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng cường giảng dạy kỹ năng làm việc nhóm, tự học, biết cách tìm hiểu vấn đề, giải quyết vấn
đề, xử lý thông tin
Giáo dục Việt Nam để đào tạo ra những nguồn lực có chất lượng cao, đáp ứng tiêu chuẩn 4.0, các trường đại học cần phải thay đổi tư duy quá trình dạy và học Đội ngũ giảng dạy cần phải đổi mới quá trình dạy, từ cách dạy truyền thống trước đây sang phương pháp dạy hiện đại phù hợp với thời đại 4.0 bằng cách chuyển từ truyền thụ kiến thức sang hình thành phẩm chất và phát triển năng lực người học, phát huy tối đa tiềm năng của người học
Tiêu chí
Phương
pháp
Phương tiện giảng dạy, học tập
Phương pháp giảng dạy
Phương cách học tập
Tâm lý vận dụng
Phương pháp đánh giá
Kết quả giáo dục
Thuyết minh
Lắng nghe, ghi chép, học thuộc, lặp lại
Trí nhớ,
ký ức
Gợi lại trí nhớ
Chấm điểm
Phương
pháp hiện
đại
Trực tuyến, internet, thư viện điện
tử, phòng thí nghiệm, phòng thực hành mô phỏng
Đặt vấn
đề, nêu tình huống, phân tích, tìm hiểu, thảo luận
Tìm tòi, quan sát,
so sánh, nghiên cứu tình huống, thảo luận, báo cáo
Động não tuy duy, phân tích, suy luận, đối chiếu, phê bình, tổng hợp, sáng tạo
Bài tiểu luận cá nhân, nghiên cứu khoa học
Công trình nghiên cứu, phát minh mới
Bảng 1: Tiêu chí phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại 2
2 Nguyễn Thanh Hải, Phùng Thúy Phượng và Đồng Thị Bích Thủy- Một số giải pháp giảng
dạy cải tiến giúp sinh viên học tập chủ động và trải nghiệm đạt các chuẩn đầu ra theo CDIO
Trang 38Việc dạy học thời đại 4.0 không chỉ đóng khung trong giảng đường, lớp học, phòng thí nghiệm mà còn cần phải mở rộng liên kế với bên ngoài với các doanh nghiệp, với thị trường lao động, không chỉ thể, vận dụng internet để liên kết với thế giới, tìm kiếm thông tin, xử lý thông tin, giải quyết các vấn đề liên quan tới thực tiễn của cuộc sống
Phương pháp giảng dạy cần phải đổi mới mạnh mẽ, mạnh dạn sử dụng các công cụ như internet, giáo dục trực tuyến, sử dụng công nghệ điện toán đám mây cho phép người dạy có thể cung cấp tài liệu cho người học và thu thập lại kết quả của người học trong quá trình dạy học một cách linh hoạt và liên tục, ngoài ra phương pháp giảng dạy này sẽ linh hoạt về thời gian cũng như tạo ra một không gian phù hợp với điều kiện và nhu cầu của người học Ngoài việc vận dụng công nghệ thông tin mà còn là việc thay đổi tư duy và cách tiếp cận để tận dụng hết những cơ hội mà công nghệ 4.0 mang lại
Việc sử dụng số hóa có thể sẵn sàng giúp người học khai thác nội dung làm việc bên ngoài bài giảng dưới dạng số hóa Ngoài ra, người dạy cần phải tìm ra phương thức giảng dạy và cấu trúc hỗ trợ người học phát triển các kỹ năng học tương tác, cộng tác và độc lập với nhau Người dạy cần phải nuôi dưỡng ý nghĩ phê phán, sáng tạo, tư duy và nhiệt tình của người học, bên cạnh đó người dạy cần phải
hỗ trợ tâm lý, tư vấn, cố vấn và hướng nghiệp cho người học
Để việc dạy đuổi kịp theo xu thế, người dạy còn phải sử dụng các nguồn lực thư viện điện tử, tài nguyên mở, khéo léo trong việc lựa chọn tài liệu, phát triển và làm giàu tư liệu dạy học với cấu trúc số hóa theo phương thức mọi lúc, mọi nơi Việc này sẽ giúp cho sinh viên lấy được thông tin và tri thức qua cữa sổ kỹ thuật số, nên việc đánh giá học tập của người học không còn nằm trong khuôn khổ của lớp học, vai trò của người dạy trở thành là cộng tác với người học
Như vậy, quá trình dạy cần phải chuyển từ truyền thụ kiến thức sang hình thành phẩm chất và kỹ năng phát triển năng lực người học, tổ chức một nền giáo