Tốc độ tăng đầu tư, GDP và CPI hàng năm theo các kỳ kế hoạch 5 năm giai đoạn 1996-2010 % Qua 3 kỳ kế hoạch 5 năm đồ thị 1, cho thấy rằng: Trong dài hạn, nền kinh tế có xu hướng hoạt động
Trang 1Phần I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày 24 tháng 02 năm 2011 Chính phủ ban hành Nghị quyết số
11/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế
vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội Nghị quyết số 11/NQ-CP là nền tảng cho mọi
cơ chế, chính sách của Chính phủ đối với đời sống kinh tế - xã hội năm 2011
và có tính xuyên suốt cho các năm tiếp theo Kết luận số 02-KL/TW ngày 16/3/2011 của Bộ Chính trị đã khẳng định tính đúng đắn của Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 và nêu rõ: “… Mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 gắn liền với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 là: Kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới
mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội Đây là những nhiệm vụ có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, cần được quán triệt, triển khai đồng bộ trong suốt quá trình phát triển… Tập trung ưu tiên hàng đầu cho việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội, coi đây vừa là nhiệm vụ cấp bách ngắn hạn của năm 2011, vừa là nhiệm vụ quan trọng của một vài năm tiếp theo Trong năm 2011 và một vài năm đầu của kế hoạch 5 năm 2011 - 2015, không quá câu thúc bởi mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng GDP năm 2011 cao hơn năm 2010 để tránh tạo ra lạm phát cao, tạo tiền đề vững chắc cho tăng trưởng cao hơn ở những năm cuối của kế hoạch 5 năm"
Kết quả thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP đã đem lại những kết quả quan trọng như: Lạm phát đã dần được kiềm chế; kinh tế vĩ mô được ổn định
và từng bước được cải thiện; bảo đảm an sinh xã hội là mục tiêu quan trọng
đã đạt kết quả tích cực; câu hỏi đặt ra là tại sao Chính phủ lại ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP, Nghị quyết có ý nghĩa gì, nó tác động như thế nào đối với
nền kinh tế và xã hội Việt Nam, ? chính vì lẽ đó em chọn tiểu luận “Phân tích các giải pháp kiềm chế lạm phát được nêu trong Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ”
Phần II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Khái niệm về lạm phát
Lạm phát là sự tăng mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ (cùng một lượng tiền nhưng người tiêu dùng mua được ít hàng hóa hơn so với trước đó) Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với
Trang 2các loại tiền tệ của quốc gia khác.
Trang 3Giảm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống liên tục (trái ngược với lạm phát); giảm phát thường xuất hiện khi kinh tế suy thoái (do tổng cầu giảm)
2 Cách đo lạm phát
Lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát mà nó là suất tăng của mức giá tổng quát theo thời gian
Hai thước đo thông dụng phản ánh mức giá tổng quan là chỉ số giá tiêu dùng CPI và chỉ số điều chỉnh GDP
3 Chỉ số giá tiêu dùng CPI
CPI được tính bằng cách so sánh giá trị hiện tại với giá trị tại kỳ gốc của rổ hàng hóa đã được chọn theo quy định
Tỷ lệ lạm phát =
CPI hiện tại-CPI năm
trước CPI năm trước
4 Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội GDP
Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội GDP là tỷ số tính theo phần trăm phản ánh mức giá chung của tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước Chỉ số điều chỉnh GDP cho biết một đơn vị GDP điển hình của
kỳ nghiên cứu có mức giá bằng bao nhiêu phần trăm so với mức giá của năm
cơ sở
Tỷ lệ giảm phát GDP= GDP danh nghĩaGDP thực tế
Tỷ lệ lạm phát= Chỉ số giảm phát GDP năm hiện tại-Chỉ số giảm phát GDP nămgốc
Chỉ số giảm phát GDP năm gốc
5 Các loại lạm phát
5.1 Lạm phát do cầu kéo
Là lạm phát xảy ra do tăng tổng mức cầu khi nền kinh tế đạt tới hoặc vượt quá sản lượng tiềm năng
5.2 Lạm phát do chi phí đẩy
Là lạm phát xảy ra khi chi phí sản xuất kinh doanh tăng, đẩy giá cả tăng lên ngay cả khi các yếu tố sản xuất chưa được sử dụng đầy đủ
5.3 Lạm phát do thiếu hụt mức cung
Trang 4Là lạm phát xảy ra khi nền kinh tế đạt đến mức toàn dụng (các yếu tố sản xuất đã được khai thác tối ưu) Khi đó mức cung hàng hóa và dịch vụ trên thị trường có khuynh hướng giảm dần
Phần III TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
TRƯỚC VÀ TRONG NĂM 2011
1 Tình hình kinh tế, lạm phát của Việt Nam trước và trong năm 2011
Giai đoạn từ 2000 đến 2003 lạm phát của Việt Nam tương đối thấp (dưới 4%), do tác động trễ của khủng hoảng tài chính châu Á (1997-1998), khiến cầu trong nước và thế giới sụt giảm mạnh, kéo theo giá cả sụt giảm Giai đoạn từ 2004 đến 2011 lạm phát tăng vọt (từ 6,6% -19,9%), nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO (1/1/2007) Đặc biệt, lạm phát tăng cao kỷ lục vào năm 2008 Cụ thể: 7 tháng đầu năm 2008, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã vượt 25%; Tháng 7/2008, khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra khiến CPI âm vào 5 tháng cuối năm 2008, kéo CPI cả năm xuống ở mức 19,9%
Đồ thị 1 Tốc độ tăng đầu tư, GDP và CPI hàng năm theo các kỳ kế hoạch 5 năm giai đoạn 1996-2010 (%)
Qua 3 kỳ kế hoạch 5 năm (đồ thị 1), cho thấy rằng: Trong dài hạn, nền kinh tế có xu hướng hoạt động ngày càng kém hiệu quả, thể hiện ở chỗ đầu tư liên tục tăng với nhịp độ ngày càng cao trong khi tốc độ tăng GDP hầu như không thay đổi, còn lạm phát lại tăng rất nhanh
Nền kinh tế nước ta đang chuyển đổi có trình độ phát triển thấp, dựa nhiều vào kinh tế nông nghiệp - nông thôn và hộ gia đình, với mức tăng
Trang 5trưởng “sàn” của GDP được giả định là 3-4%/năm thì tương quan tốc độ nói trên của 3 biến số bộc lộ xu hướng vận động đi tới vòng xoáy “đình trệ - lạm phát” của nền kinh tế Càng đầu tư nhiều vốn, các điều kiện phát triển cơ bản (đầu tư và thương mại) càng thuận lợi thì dường như nền kinh tế càng gặp khó khăn Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng xu hướng mang tính nghịch lý này có nguyên nhân ở năng lực hấp thụ các nguồn lực phát triển của nền kinh tế chậm được cải thiện, thậm chí, ngày càng kém đi
Đây là một nhận định cần được lưu ý Nó không chỉ nói lên thực trạng
“tĩnh” của nền kinh tế Quan trọng hơn thế, nó chỉ ra một xu hướng nguy hiểm, rất khó thoát ra mà nền kinh tế nước ta đang lâm vào Đó là vòng xoáy
“đình trệ - lạm phát”
Khi nền kinh tế đã lâm vào tình thế thực sự đáng lo ngại, thì xu hướng dài hạn biểu hiện rất rõ về mặt thống kê này mới bắt đầu được chú ý nhận diện và phân tích cụ thể
Đồ thị 2
Việt Nam đã không tận dụng hiệu quả cơ hội thuận lợi do hội nhập mang lại Thậm chí, trong bối cảnh đó, mức độ thách thức và tính nguy cơ còn gia tăng do nền kinh tế thiếu năng lực chuyển hóa cơ hội thành lợi ích phát triển thực tế; xu hướng suy giảm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; tình trạng lạm phát cao với biên độ dao động mạnh (phản ánh độ bất ổn định cao)
Trang 6Đồ thị 3 và 4 minh họa rõ thêm xu hướng suy giảm tăng trưởng và gia tăng lạm phát - bất ổn vĩ mô trong một giai đoạn dài, ngay cả khi nền kinh tế bước vào quỹ đạo phục hồi tăng trưởng (2001-2006) và mở rộng nhanh chóng luồng đầu tư và thương mại dưới tác động của hội nhập (2007-2011)
Đầu
tư/GDP
Tăng trưởng GDP CPI Xuất khẩu Nhập khẩu
Nhập siêu/
Xuất khẩu
Bội chi ngân sách/GDP
(Nguồn: Báo cáo Kinh tế - Xã hội năm 2010 và 2011 của Chính phủ; đơn vị tính:
%)
Bước vào năm 2011, năm đầu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015, nước ta có những thuận lợi cơ bản: Tình hình chính trị
ổn định; kinh tế-xã hội phục hồi trong năm 2010 sau hơn một năm bị tác động mạnh của lạm phát tăng cao và suy thoái kinh tế toàn cầu
Tuy nhiên, ngay sau đó những khó khăn, thách thức tiềm ẩn trong nội tại nền kinh tế thế giới với vấn đề nợ công, tăng trưởng kinh tế chậm lại Giá hàng hóa, giá dầu mỏ và giá một số nguyên vật liệu chủ yếu tăng cao và có diễn biến phức tạp Ở trong nước, lạm phát và mặt bằng lãi suất cao gây áp lực cho sản xuất và đời sống dân cư
Trang 7So sánh các kết quả kinh tế vĩ mô năm 2011 với năm 2010 thể hiện ở bảng trên, dễ nhận thấy có sự lên xuống không đồng hướng của các chỉ số Tuy nhiên, có thể đánh giá mức độ tiêu cực tổng quát hơn rõ rệt của năm 2011
so với năm 2010 Bộc lộ rõ nhất của xu hướng chung này là sự sụt giảm mạnh tốc độ tăng trưởng GDP trong khi lạm phát tăng vọt trong năm 2011
Tình hình kinh tế năm 2011 có những yếu tố phản ánh tính nghịch lý trong sự vận động của các biến số kinh tế, thực chất là tình trạng bất ổn vĩ mô, như xu hướng giảm lạm phát, giảm lãi suất, hiện tượng các ngân hàng thương mại “kháng lệnh” Ngân hàng Nhà nước, lách luật “vượt trần lãi suất”, sự u ám của thị trường bất động sản đi liền với mức tăng nợ xấu của các ngân hàng, tình trạng căng thẳng thanh khoản, sự gia tăng nhanh (đột biến) số lượng doanh nghiệp đóng cửa, ngừng hoạt động và cắt giảm mạnh công suất hoạt động,
2 Nguyên nhân của lạm phát
2.1 Nguyên nhân khách quan
Đến từ thị trường thế giới và thị trường trong nước; giá cả nhiều loại hàng hóa; nguyên liệu, nhiên liệu chủ chốt như: Xăng dầu, phôi thép trên thế giới tăng cao tác động đến giá cả trong nước làm ảnh hưởng đến chi phí sản xuất hay còn gọi là “chi phí đẩy”
Giá vàng trên thế giới tăng đột biến khiến giá vàng trong nước tăng mạnh gây tâm lý tăng giá lan tỏa sang các hàng hóa khác
Dịch bệnh trên vật nuôi lan rộng và kéo dài làm giảm nguồn cung thực phẩm và gia tăng chi phí chăn nuôi; đẩy giá thực phẩm lên cao
Thời tiết khắc nghiệt ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp dẫn đến nguồn cung nông sản ảnh hưởng=> đẩy giá lên
2.2 Nguyên nhân chủ quan
Chính sách tiền tệ đã nới lỏng quá mức trong các năm trước đó dẫn đến lạm phát tăng cao
Sự thiếu bài bản, thiếu linh hoạt trong chính sách điều hành nền kinh tế làm tăng lạm phát
Nhiều khoản chi tiêu, đầu tư kém hiệu quả của Chính phủ thông qua cac doanh nghiệp nhà nước
Nhiều khoản đầu tư thua lỗ, dùng tiền lãng phí ở nhiều doanh nghiệp nhà nước làm thâm hụt ngân sách
Trang 8Chính sách tài khóa mở rộng làm cho lạm phát tăng (phá giá tiền Việt Nam, tăng giá đột ngột, đồng loạt xăng dầu, điện)
Phần IV GIẢI PHÁP ĐƯỢC CHÍNH PHỦ ĐƯA RA TRONG NGHỊ QUYẾT SỐ 11/NQ-CP NGÀY 24/2/2011
1 Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương: a) Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, phối hợp hài hòa giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát; điều hành
và kiểm soát để bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán khoảng 15 - 16%; tập trung ưu tiên vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa; giảm tốc độ và tỷ trọng vay vốn tín dụng của khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực bất động sản, chứng khoán
b) Điều hành chủ động, linh hoạt, hiệu quả các công cụ chính sách tiền
tệ, nhất là các loại lãi suất và lượng tiền cung ứng để bảo đảm kiềm chế lạm phát
c) Điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường Tăng cường quản lý ngoại hối, thực hiện các biện pháp cần thiết để các tổ chức, cá nhân trước hết là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng khi có nguồn thu và được mua khi có nhu cầu hợp lý, bảo đảm thanh khoản ngoại tệ, bình ổn tỷ giá, đáp ứng yêu cầu ổn định, phát triển sản xuất kinh doanh và tăng dự trữ ngoại hối
d) Kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh vàng; trong quý II năm
2011 trình Chính phủ ban hành Nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo hướng tập trung đầu mối nhập khẩu vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do; ngăn chặn hiệu quả các hoạt động buôn lậu vàng qua biên giới
đ) Phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về thu đổi ngoại tệ, kinh doanh vàng Ban hành quy định và chế tài xử lý vi phạm, kể cả việc đình chỉ, rút giấy phép hoạt động, thu tài sản; quy định khen, thưởng đối với việc phát hiện các hành vi vi phạm hoạt động thu đổi, mua bán ngoại tệ, vàng Xử lý nghiêm
Trang 9theo pháp luật đối với hành vi cố tình vi phạm.
2 Thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước
a) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:
- Chỉ đạo phấn đấu tăng thu ngân sách nhà nước 7-8% so với dự toán ngân sách năm 2011 đã được Quốc hội thông qua Tăng cường kiểm tra, giám sát trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế; triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số nợ thuế mới
- Các Bộ, cơ quan, địa phương chủ động sắp xếp lại các nhiệm vụ chi
để tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên của 9 tháng còn lại trong dự toán năm 2011 (không bao gồm chi tiền lương và các khoản có tính chất lương, chi chế độ chính sách cho con người và tiết kiệm 10% chi thường xuyên để tạo nguồn cải cách tiền lương theo kế hoạch đầu năm) Các Bộ, cơ quan, địa phương tự xác định cụ thể số tiết kiệm, gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 3 năm 2011 Số tiết kiệm thêm 10% này các
Bộ, cơ quan, địa phương tự quản lý; từ quý III năm 2011 sẽ xem xét, bố trí cho các nhiệm vụ cấp bách phát sinh ngoài dự toán hoặc chuyển về ngân sách Trung ương theo hướng dẫn của Bộ Tài chính Tạm dừng trang bị mới xe ô-tô, điều hòa nhiệt độ, thiết bị văn phòng; giảm tối đa chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, xăng dầu, ; không bố trí kinh phí cho các việc chưa thật sự cấp bách Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương, tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước chịu trách nhiệm tiết giảm tối đa chi phí hội nghị, hội thảo, tổng kết, sơ kết, đi công tác trong và ngoài nước, Không bổ sung ngân sách ngoài dự toán, trừ các trường hợp thực hiện theo chính sách, chế
độ, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh do Thủ tướng Chính phủ quyết định Xử lý nghiêm, kịp thời, công khai những sai phạm
- Giảm bội chi ngân sách nhà nước năm 2011 xuống dưới 5% GDP Giám sát chặt chẽ việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp, nhất là vay ngắn hạn Thực hiện rà soát nợ Chính phủ, nợ quốc gia, hạn chế nợ dự phòng, không mở rộng đối tượng phạm vi bảo lãnh của Chính phủ Bảo đảm
dư nợ Chính phủ, dư nợ công, dư nợ nước ngoài trong giới hạn an toàn và an toàn tài chính quốc gia
b) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:
- Không ứng trước vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm
Trang 102012 cho các dự án, trừ các dự án phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách
- Không kéo dài thời gian thực hiện các khoản vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ kế hoạch năm 2011, thu hồi về ngân sách Trung ương các khoản này để bổ sung vốn cho các công trình, dự án hoàn thành trong năm 2011
- Thành lập các đoàn kiểm tra, rà soát toàn bộ các công trình, dự án đầu
tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ đã được bố trí vốn năm 2011, xác định cụ thể các công trình, dự án cần ngừng, đình hoãn, giãn tiến độ thực hiện trong năm 2011; thu hồi hoặc điều chuyển các khoản đã bố trí nhưng chưa cấp bách, không đúng mục tiêu, báo cáo và đề xuất với Thủ tướng Chính phủ biện pháp xử lý trong tháng 3 năm 2011
- Kiểm tra, rà soát lại đầu tư của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ các biện pháp
xử lý, loại bỏ các dự án đầu tư kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, kể cả các dự án đầu tư ra nước ngoài
c) Ngân hàng Phát triển Việt Nam giảm tối thiểu 10% kế hoạch tín dụng đầu tư từ nguồn vốn tín dụng nhà nước
d) Các Bộ, cơ quan, địa phương:
- Chưa khởi công các công trình, dự án mới sử dụng vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ, trừ các dự án phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách, các dự án trọng điểm quốc gia và các dự án được đầu tư từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Rà soát, cắt giảm, sắp xếp lại
để điều chuyển vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm
2011 trong phạm vi quản lý để tập trung vốn đẩy nhanh tiến độ các công trình,
dự án quan trọng, cấp bách, hoàn thành trong năm 2011
- Báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 4 năm 2011 danh mục các
dự án cắt giảm đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ, danh mục các dự án cắt giảm đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước trong phạm vi quản lý, đồng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Chính phủ trong phiên họp thường kỳ tháng 5 năm 2011
đ) Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước rà soát, cắt giảm, sắp xếp lại các dự án đầu tư, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 4 năm 2011 danh mục các dự án cắt giảm đầu tư, đồng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Chính