Trong khuôn khổ chương trình đề tài nghiên cứu về văn hóa kinh doanh do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM chủ trì, cuộc điều tra này được tiến hành tại Thành phố Hồ Chí Minh v
Trang 1TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VĂN TP HỒ CHÍ MINH
Đề tài “Hoàn thiện và nêu cao hệ giá trị Việt Nam trong văn hóa kinh doanh như một lợi thế của hội nhập
và cạnh tranh kinh tế quốc tế – Khảo sát tại TP.HCM”
(Chủ nhiệm đề tài : Nguyễn Quang Vinh)
Doanh nhân
và văn hóa doanh nghiệp
(Phúc trình kết quả cuộc điều tra ý kiến của doanh nhân TP.HCM về văn hóa doanh nghiệp)
TRẦN HỮU QUANG
Thành phố Hồ Chí Minh
10-2004
Trang 2Mục lục
Trang
Mục lục 1
Mở đầu 3
I Mục tiêu, giả thuyết, và phương pháp 3
II Các đặc điểm của mẫu điều tra 4
A Đặc điểm của doanh nghiệp : phần lớn thuộc qui mô nhỏ và vừa 6
B Chân dung nhà doanh nghiệp TP.HCM 11
1 Tuổi đời 11
2 Tỷ lệ nữ giám đốc 12
3 Trình độ học vấn khá cao 13
4 Dân tộc, tôn giáo, đoàn thể, và hiệp hội 14
5 Xuất thân từ mọi miền đất nước tụ hội về đây 15
6 Không có truyền thống gia đình kinh doanh 16
7 Từng trải qua nhiều nghề khác nhau 18
8 Tuổi lúc ra kinh doanh 20
C Vài đặc điểm của mẫu doanh nhân "2030" 21
III Những khía cạnh và những kích thước liên quan tới văn hóa doanh nghiệp 22
A Những biểu hiện bên ngoài của văn hóa doanh nghiệp 23
1 Một số biểu hiện 23
2 Những câu châm ngôn 24
3 Những qui tắc giao dịch và ứng xử của công ty 25
4 Xây dựng truyền thống công ty 26
5 Các hoạt động xã hội và từ thiện 27
B Nhãn giới của doanh nhân về tình hình kinh doanh 28
1 Đánh giá về tình hình làm ăn 28
2 Mức độ hài lòng về những việc đã làm 28
3 Những thành công lớn nhất của công ty 29
4 Những khó khăn mà công ty thường gặp 30
5 Những khó khăn trong lĩnh vực quản lý nhân sự 32
6 Dự định mở rộng qui mô kinh doanh 32
C Ý chí kinh doanh và khả năng tổ chức hoạt động kinh doanh 33
1 Ý chí kinh doanh 33
2 Khả năng tổ chức hoạt động kinh doanh 36
D Những quan niệm và những giá trị trong quản lý doanh nghiệp 42
1 Hình ảnh gia đình 42
2 Quan niệm về người đứng đầu doanh nghiệp 43
3 Quan niệm thế nào là một nhân viên giỏi 45
4 Cách thức quản lý : xu hướng quản lý theo chức năng 47
5 Mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên : xu hướng tôn trọng và phát huy vai trò của cá nhân 49
6 Những quan niệm về đạo đức trong kinh doanh 50
IV Đi tìm những nhân tố chi phối văn hóa doanh nghiệp 53
A Phân tích nhân tố 54
1 Những ý kiến đồng thuận 54
2 Những ý kiến không đồng thuận 55
3 Bảng ma trận tương quan 57
4 Phân tích nhân tố 59
Trang 35 Nhận diện các nhân tố chi phối văn hóa quản trị doanh nghiệp 61
B Tìm hiểu mức độ quan trọng của các nhân tố, xét theo một số đặc điểm của các nhà doanh nghiệp 62
1 Khảo sát theo giới tính 62
2 Khảo sát theo tuổi tác 63
3 Khảo sát nhóm đã học và nhóm chưa học chính qui về kinh doanh và quản trị kinh doanh 64
4 Khảo sát phân theo nhóm đảng viên và nhóm không đảng viên 65
5 Khảo sát theo nhóm có tham gia và nhóm không tham gia hiệp hội doanh nghiệp 65
6 Khảo sát theo qui mô lao động 66
7 Khảo sát theo qui mô doanh số 67
8 Khảo sát nhóm doanh nghiệp có xuất khẩu và nhóm không có xuất khẩu 67
9 Khảo sát theo thâm niên kinh doanh 68
10 Khảo sát theo lĩnh vực kinh tế 69
11 Nhận định tổng quát về các nhân tố 70
V Nhận diện các mô hình văn hóa quản trị doanh nghiệp 73
A Xét về tư duy quản lý 75
B Xét về quan hệ quyền lực 77
C Xét về óc mạo hiểm và óc kinh doanh 78
D Một số đặc điểm của các nhà doanh nghiệp trong các nhóm mô hình 80
Kết luận 85
A Bốn nhóm mô hình văn hóa doanh nghiệp 85
B Những yếu tố tích cực trong văn hóa kinh doanh của nhà doanh nghiệp 86
1 Ý chí kinh doanh và động lực kinh doanh 86
2 Lòng tự tôn dân tộc 87
3 Không còn những thành kiến xã hội cũ 88
4 Đạo đức kinh doanh 89
5 Tính nhân văn 90
C Những yếu tố mang tính chất cản trở trong văn hóa kinh doanh 92
1 Tư duy quản lý bao biện và tâm lý thủ cựu 92
2 Thiếu tầm nhìn chiến lược và khả năng quản trị còn kém 92
3 Thiếu óc mạo hiểm ? 92
4 Tâm lý chạy chọt và cơ chế xin-cho 93
Phụ lục 1 Kết quả bản câu hỏi 96
Phụ lục 2 Bảng ma trận hệ số tương quan 104
Tài liệu tham khảo 106
Trang 4Mở đầu
Trong lĩnh vực kinh tế, doanh nhân là một trong những chủ thể xã hội quan trọng, nếu không muốn nói là quan trọng quyết định, đối với sự nghiệp chấn hưng kinh tế của đất nước hiện nay Cho đến nay, đã có một số cuộc điều tra và nghiên cứu về lực lượng doanh nhân ở Việt Nam xét dưới những góc độ kinh tế học hay quản trị học Nhưng chúng tôi thiết nghĩ vẫn còn thiếu những công trình
tập trung vào việc khảo sát văn hóa doanh nghiệp của doanh nhân, qua đó thử
phác họa chân dung văn hóa-xã hội của các nhà kinh doanh Việt Nam Đề tài nghiên cứu xã hội học này là một nỗ lực nhằm góp phần bổ sung vào lĩnh vực tri thức liên quan tới tầng lớp doanh nhân và tới lĩnh vực văn hóa trong kinh tế
Có thể nói bản sắc văn hóa của một doanh nghiệp suy cho cùng được quyết định bởi những người đứng đầu doanh nghiệp ấy Chính vì thế, nghiên cứu
về văn hóa kinh doanh của nhà doanh nghiệp là một việc làm không thể bỏ qua trong lĩnh vực nghiên cứu về văn hóa kinh doanh của một xã hội
Trong khuôn khổ chương trình đề tài nghiên cứu về văn hóa kinh doanh
do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM chủ trì, cuộc điều tra này được tiến hành tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 5-2004, và đã tập trung vào việc tiếp xúc và phỏng vấn các doanh nhân bằng một bản câu hỏi nhằm tìm
hiểu quan niệm và cách hành xử của họ trong quá trình gây dựng văn hóa doanh
nghiệp tại chính công ty của họ
I Mục tiêu, giả thuyết, và phương pháp
Lực lượng doanh nhân Việt Nam mới được khôi phục và phát triển trở lại trong thời gian chưa bao lâu Trong khi đó, tình hình kinh tế, pháp lý và xã hội còn đang trong giai đoạn chuyển đổi, chưa ổn định, còn nhiều mặt mâu thuẫn, bất hợp lý Vì thế, chưa có đủ thời gian lẫn điều kiện khách quan để có thể định hình được một cách rõ ràng một bản sắc văn hóa kinh doanh Việt Nam
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu này là :
(1) Tìm ra những mặt mạnh và mặt yếu trong việc gây dựng văn hóa doanh nghiệp của lực lượng doanh nhân, đồng thời phát hiện ra những giá trị văn hóa vốn đang là (hay có tiềm năng trở thành) những thế mạnh của doanh nhân Việt Nam, có thể phát huy trên thương trường trong nước và quốc tế
(2) Qua đó, thử phác họa chân dung văn hóa-xã hội của lực lượng doanh nhân tại TP.HCM hiện nay ; trong đó, tách ra được những mẫu hình doanh nhân đặc trưng, nhằm góp phần gợi lên những định hướng thiết thực cho việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp, với vai trò then chốt là lực lượng các doanh nhân, và phát huy các giá trị văn hóa nhằm thúc đẩy tinh thần doanh thương trong xã hội
Những giả thuyết đã được đặt ra khi khởi sự tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu này là :
Trang 51 Giới doanh nhân hiện nay không phải là một lực lượng có đặc trưng thuần nhất, mà là một tập hợp bao gồm nhiều mẫu hình khác nhau, với những đặc tính và những yếu tố văn hóa đa dạng và nhiều khi đối lập nhau, cùng đan xen tồn tại
2 Những mẫu hình doanh nhân chủ yếu ở TP.HCM hiện nay là : mẫu hình gia đình (đặt nền tảng quản lý trên cơ sở các quan hệ gia đình), mẫu hình độc đoán (quản lý chủ yếu dựa trên cơ sở các quan hệ quyền lực mạnh), và mẫu hình quản lý theo chức năng (quản lý dựa trên nguyên tắc phân công theo chức năng
và sự chuyên môn hóa) ; những mẫu hình này đang chi phối những khuynh hướng khác nhau trong việc gây dựng văn hóa doanh nghiệp
3 Tính chất đa dạng ấy nơi lực lượng doanh nhân không phải xuất phát từ đặc điểm tâm lý hay văn hóa cá nhân của từng doanh nhân, mà chủ yếu là do đặc điểm của lịch sử hình thành của doanh nghiệp và tiểu sử xuất thân của doanh nhân, cũng như do tác động chi phối của bối cảnh kinh tế-xã hội hiện nay
4 Trong các đặc điểm văn hóa-xã hội của doanh nhân hiện nay, vẫn còn tồn tại những yếu tố không thuận lợi cho quá trình khuếch trương tinh thần kinh doanh (mà chúng tôi đã khám phá qua công trình nghiên cứu về thái độ của xã hội đối với kinh doanh và doanh nhân), đó là : quan niệm coi đồng tiền là tội lỗi,
xu hướng tin vào số phận, xu hướng cục bộ, và xu hướng chạy chọt
Phương pháp điều tra là phỏng vấn bằng một bản câu hỏi dài 10 trang, với tổng cộng 45 câu hỏi và 40 mệnh đề (xin xem phụ lục) Khách thể điều tra được nhắm tới chủ yếu là các tổng giám đốc hoặc giám đốc, nếu không tiếp cận được
vì một lý do nào đó thì mới phỏng vấn người phó tổng giám đốc hoặc phó giám đốc
II Các đặc điểm của mẫu điều tra
Chúng tôi đã tiến hành cuộc điều tra này bằng cách chọn hai mẫu điều tra khác nhau, một là mẫu điều tra ngẫu nhiên (đại diện cho các doanh nghiệp tại TP.HCM), và hai là các doanh nghiệp thuộc Câu lạc bộ Doanh nhân 2030 (thuộc
Saigon Times Club của Thời báo Kinh tế Sài Gòn) Sở dĩ chọn thêm các nhà
doanh nghiệp thuộc Câu lạc bộ Doanh nhân 2030 là vì đây là nơi tập hợp nhiều nhà doanh nghiệp trẻ (trong lứa tuổi từ 21 tới 39 tuổi), và chúng tôi muốn đưa vào khảo sát để đối chiếu với tổng thể các nhà doanh nghiệp (trong mẫu ngẫu nhiên) – dựa trên giả định rằng đó là một tầng lớp doanh nhân rất trẻ với những đặc trưng rất mới đang định hình, và có thể cho phép chúng ta hình dung những
xu hướng phát triển của tầng lớp doanh nhân tương lai trong một hai thập niên sắp tới
Tổng số người mà chúng tôi phỏng vấn được là 281 nhà lãnh đạo doanh nghiệp, trong đó :
- 186 người thuộc mẫu điều tra ngẫu nhiên (giám đốc : 62 %, và phó giám đốc : 35 %),
- 84 người thuộc Câu lạc bộ Doanh nhân 2030 (giám đốc : 87 %, và phó giám đốc : 8 %),
- và 11 nhà lãnh đạo doanh nghiệp mà chúng tôi tiến hành phỏng vấn trong đợt điều tra thử để kiểm nghiệm và hoàn chỉnh bản câu hỏi
Trang 6Các kết quả phân tích trong bản phúc trình này sẽ chủ yếu là kết quả phân tích dựa trên mẫu điều tra chọn theo phương pháp ngẫu nhiên, và chỉ liên hệ đối chiếu với những số liệu liên quan tới các doanh nhân thuộc Câu lạc bộ 2030 khi khám phá ra những khác biệt nào đó có ý nghĩa
Đối với mẫu điều tra ngẫu nhiên, chúng tôi đã tiến hành như sau Trước hết, chúng tôi lọc ra các doanh nghiệp tại TP.HCM trong quyển danh bạ các doanh nghiệp Việt Nam năm 2003 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.1 Số lượng tổng cộng các doanh nghiệp tại TP.HCM theo danh sách này là 4.947 đơn vị, kể cả khu vực kinh tế nhà nước lẫn tư nhân Sau đó, chúng tôi sử dụng phương pháp chọn ngẫu nhiên thống kê để thiết lập danh sách mẫu điều tra với qui mô là 400 đơn vị (tức bằng 8,09 % danh sách vừa nói) từ bản danh sách này
Tuy nhiên, trong thực tế khi các điều tra viên tiến hành đi phỏng vấn, việc tìm được và xin hẹn gặp vị giám đốc của công ty trong mẫu điều tra đã diễn ra hết sức khó khăn Ngoài một lý do khách quan không thể tránh khỏi là có không
ít công ty hoặc đã giải thể vì phá sản hoặc "biến mất" mà không rõ nguyên nhân, thì các điều tra viên của chương trình nghiên cứu cũng rất thường gặp phải tình huống là người giám đốc vắng mặt vì đang đi công tác trong nước hoặc ra nước ngoài, hoặc quá bận bịu với công việc kinh doanh nên nhất định khước từ cuộc phỏng vấn mặc dù cũng có nhiều người sau thời gian do dự cuối cùng cũng nhận lời tiếp điều tra viên một cách nhiệt tình và thoải mái Chính vì những lý do
đó mà chúng tôi đã không ít lần phải sử dụng biện pháp thay thế mẫu (đối với những trường hợp không tiếp xúc được) bằng cách chọn một đơn vị khác nằm kế cận trong bản danh sách gốc của Phòng Thương mại nói trên (việc chọn lựa đơn
vị điều tra và thay thế đơn vị điều tra là do chính ban chủ nhiệm quyết định, chứ không phải do tự điều tra viên)
Sau nhiều nỗ lực trong hơn một tháng trời của toàn bộ gần 20 điều tra viên cộng tác vào chương trình nghiên cứu này (các cuộc phỏng vấn diễn ra trong tháng 5-2004), cuối cùng số đơn vị phỏng vấn được chỉ lên tới tổng cộng 186 doanh nghiệp như đã nói, tức chưa được một nửa so với số mẫu 400 doanh nghiệp dự kiến ban đầu
Phải thừa nhận rằng đây là một điểm hạn chế quan trọng xét về mặt chọn mẫu của cuộc điều tra này Tuy nhiên, do đã được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên thống kê, nên cơ cấu các ngành kinh doanh trong mẫu các doanh nghiệp điều tra, như chúng ta sẽ thấy dưới đây, cũng phản ánh khá chính xác cơ cấu của tổng thể chung (xin xem bảng 1) Dù sao đi nữa, hạn chế này cho thấy rằng kết quả cuộc điều tra này sẽ chủ yếu nhằm đi tới chỗ nêu ra vấn đề và giả thuyết, chứ không thể dùng để suy rộng Vả lại, chúng tôi cho rằng đối với một đề tài mang tính chất khai phá vào một lĩnh vực khá trừu tượng và phức tạp như đề tài nghiên cứu về văn hóa kinh doanh, thì mục tiêu của những người nghiên cứu hiển nhiên không phải là nhằm đi đến những con số hay chỉ tiêu định lượng, mà chủ yếu là làm sao phát hiện ra được những kích thước trong đời sống văn hóa doanh
1
Xem Danh bạ doanh nghiệp Việt Nam 2003 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam,
Hà Nội, 2003
Trang 7nghiệp hiện nay, và thử kiểm nghiệm lại những giả thuyết nghiên cứu của mình
để làm tiền đề cho những cuộc nghiên cứu về sau
Dưới đây là một số đặc điểm của doanh nghiệp và chân dung nhà doanh nghiệp tại TP.HCM, phân tích dựa trên mẫu điều tra ngẫu nhiên nói trên (phỏng vấn 186 giám đốc hoặc phó giám đốc)
A Đặc điểm của doanh nghiệp : phần lớn thuộc qui mô nhỏ và vừa
Phân theo loại hình doanh nghiệp, thì đông nhất là các công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) vốn trong nước, cụ thể như sau :
- công ty TNHH vốn trong nước : 66 %
- doanh nghiệp Nhà nước : 14 %
- doanh nghiệp có vốn nước ngoài : 6 %
(trong đó, công ty liên doanh : 4 %, công ty TNHH vốn nước ngoài : 2 %)
Trong tổng số mẫu điều tra, có :
- 41 % doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất và xây dựng,
- 30 % doanh nghiệp thuộc lĩnh vực thương mại,
- và 29 % thuộc lĩnh vực dịch vụ
Bảng 1 Các doanh nghiệp phân theo lĩnh vực kinh tế
Loại hình doanh nghiệp
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
Ghi chú : Số doanh nghiệp thuộc "loại hình khác" vì có số lượng quá ít (chỉ có
3 doanh nghiệp) nên không đưa vào bảng thống kê phân tổ
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Xét về ngành kinh doanh, cơ cấu ngành trong mẫu điều tra tỏ ra khá trùng khớp với cơ cấu của tổng thể các doanh nghiệp trong danh sách năm 2003 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Bảng 2 Cơ cấu ngành kinh doanh của mẫu điều tra và của tổng thể các doanh nghiệp
tại TP.HCM trong danh sách năm 2003
Ngành kinh doanh Doanh nghiệp
TP.HCM 2003 Mẫu điều tra
Trang 8Ngành kinh doanh Doanh nghiệp
TP.HCM 2003 Mẫu điều tra
15 Xây dựng, thiết kế, kinh doanh bất động sản 693 14,0 18 9,7
16 Giao thông, vận tải 306 6,2 18 9,7
17 Du lịch, khách sạn, nhà hàng 150 3,0 6 3,2
18 Tin học, máy vi tính 168 3,4 8 4,3
19 Tài chính, ngân hàng 92 1,9 5 2,7
20 Tư vấn và dịch vụ cho doanh nghiệp 191 3,9 4 2,2
21 Văn hóa, giáo dục, y tế, KHKT, giải trí 220 4,4 14 7,5
22 Thương mại tổng hợp 111 2,2 3 1,6
Tổng cộng 4.947 100,0 186 100,0
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Đại đa số (84 %) các doanh nghiệp trong mẫu điều tra đều ra đời trong thời kỳ đổi mới sau năm 1990, tức chỉ khoảng 15 năm trở lại đây, nghĩa là tuổi đời còn khá non trẻ so với những doanh nghiệp có tuổi đời hàng trăm năm như ở nhiều nước láng giềng trong khu vực
Biểu đồ 1 Thời điểm thành lập công ty
20 10
0
16
35 33 7
5
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Trang 9Bảng 3 Năm thành lập công ty, phân theo loại hình doanh nghiệp
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng trước 1975 1 1 1 - 3
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Phần lớn đều thuộc qui mô vừa và nhỏ Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ lâu nay thực ra không thống nhất Chẳng hạn theo Dự án VIE/us/95/004 hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam do Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc (UNIDO) tài trợ vào năm 1995, thì doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có lao động dưới 30 người, vốn đăng ký dưới 1 triệu đô-la ; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có lao động từ 31 người đến 200 người, vốn đăng ký dưới 4 triệu đô-la Còn Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc Chương trình Việt Nam-Liên minh châu Âu (EU) thì cho rằng doanh nghiệp vừa và nhỏ gồm các doanh nghiệp có số nhân công từ 10-500 người và vốn điều lệ từ 50.000 đến 300.000 đô-la, tức từ khoảng 650 triệu đến 3,9 tỉ đồng Việt Nam.2
Trong khi đó, theo Công văn của Chính phủ số 681/CP-KTN ngày
20-6-1998 về việc định hướng chiến lược và chính sách phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì tiêu chí doanh nghiệp vừa và nhỏ được xác định tạm thời là những doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người Còn theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23-11-2001 của Chính phủ về việc trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ thì doanh nghiệp vừa và nhỏ là những cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người
Nếu dựa theo văn bản cuối cùng là Nghị định 90 của Chính phủ vừa nêu trên, thì trong mẫu điều tra ngẫu nhiên của cuộc điều tra này, có 90,3 % thuộc diện doanh nghiệp vừa và nhỏ, tức là có không quá 300 lao động (Để so sánh,
2
Đào Duy Chữ, "Nhân hội nghị về doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Trung Quốc : Chính sách nào
cho phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ?", Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số ra ngày 8-10-1998, trang 15 Xem thêm bài "Cỡ nào là nhỏ, cỡ nào là vừa?", Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số ra
ngày 9-4-1998, trang 17
Trang 10chúng ta biết là hiện nay, trên cả nước, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 96 % trong tổng số doanh nghiệp, được xác định theo tiêu chí là có số vốn dưới 10 tỷ đồng hoặc có số lao động dưới 300 người.3)
Trong mẫu điều tra, 68 % có từ 100 lao động trở xuống, 22 % có 101-300 lao động, và chỉ có 10 % có trên 300 lao động (xem biểu đồ 2)
Còn về doanh số năm 2003 (do chính lãnh đạo công ty tự ước lượng), cũng không phải lớn : 53 % đạt dưới 20 tỉ, 24 % đạt 20-100 tỉ, và chỉ có 14 % đạt trên 100 tỉ Số công ty có sản phẩm xuất khẩu chiếm 34 % trong mẫu điều tra (xem biểu đồ 3)
Biểu đồ 2 Số lao động sử dụng
1-10 lao dong 11-20 lao dong 21-30 lao dong 31-50 lao dong 51-100 lao dong 101-200 lao dong 201-300 lao dong 301-500 lao dong Tren 501 lao dong
Ty le %
30 20
10 0
7
4
18 15 10 9
19 15
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Bảng 4 Số lao động sử dụng, phân theo loại hình doanh nghiệp
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng 1-10 lao động 24 1 1 1 27
Trang 11Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
301-500 lao động 3 - 2 - 5
từ 501 lao động 2 3 7 1 13 trở lên 1,6% 13,0% 25,9% 10,0% 7,1% Tổng cộng 123 23 27 10 183 100,0% 100,0% 100,0% 100,0% 100,0%
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài Biểu đồ 3 Qui mô doanh số năm 2003
Duoi 1 ti 1-5 ti
5-10 ti
10-20 ti
20-30 ti 30-50 ti
50-100 ti
Tren 100 ti Khong tra loi
Ty le %
20 10
0
9
14 9
7 9
13 13
19 8
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài Bảng 5 Qui mô doanh số năm 2003, phân theo loại hình doanh nghiệp
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng dưới 1 tỉ 13 - - - 13
22,8% 13,0% 7,4% 18,0% 5-10 tỉ 21 2 1 1 25 17,1% 8,7% 3,7% 10,0% 13,7% 10-20 tỉ 18 4 2 1 25 14,6% 17,4% 7,4% 10,0% 13,7% 20-30 tỉ 9 2 4 1 16 7,3% 8,7% 14,8% 10,0% 8,7% 30-50 tỉ 9 3 1 - 13 7,3% 13,0% 3,7% 7,1% 50-100 tỉ 8 3 3 2 16 6,5% 13,0% 11,1% 20,0% 8,7%
100 tỉ trở lên 7 5 13 1 26
Trang 12Ghi chú : "KTL" là không trả lời
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
B Chân dung nhà doanh nghiệp TP.HCM
Trước đây đã có một số cuộc điều tra về nhà doanh nghiệp ở Việt Nam Tuy nhiên, có lẽ chưa có công trình nào đưa ra một diện mạo tương đối rõ rệt về nhân vật này Nhân cuộc khảo sát này, do đã chọn mẫu ngẫu nhiên tại TP.HCM, tuy số lượng mẫu còn ít nhưng chúng tôi vẫn cố gắng thử phác họa chân dung nhà doanh nghiệp, trong đó có nhà doanh nghiệp tư nhân vốn là một tầng lớp mới được hình thành trở lại sau thời kỳ đổi mới các đây tròm trèm trên dưới 15 năm sau một thời gian khá dài không được thừa nhận
1 Tuổi đời
Xét theo tuổi tác, tuổi bình quân của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp hiện nay theo mẫu điều tra tại TP.HCM là 44 tuổi Người trẻ nhất là 24 tuổi, và người lớn tuổi nhất là 71 tuổi Hơn một nửa thuộc thế hệ dưới 45 tuổi (55 %), tức là thế
hệ những người trưởng thành sau ngày giải phóng miền Nam
Biểu đồ 4 Tuổi tác
21-25 tuoi 26-30 tuoi 31-35 tuoi 36-40 tuoi 41-45 tuoi 46-50 tuoi 51-55 tuoi 56-60 tuoi 61-65 tuoi 66-70 tuoi 71-75 tuoi
Ty le %
20 10
0
2
9
16 18 18 10
18 7
2
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Phân tích theo loại hình doanh nghiệp, tuổi bình quân của doanh nhân tư nhân hiện nay trẻ hơn so với nhà quản lý doanh nghiệp nhà nước : 42 tuổi so với
51 tuổi
Nơi khu vực các công ty TNHH (tư nhân), người trẻ tuổi nhất 24 tuổi, và người lớn tuổi nhất 71 tuổi Trong khi đó, nơi khu vực doanh nghiệp nhà nước, người trẻ nhất 41 tuổi, và người lớn tuổi nhất 60 tuổi
Trang 13Bảng 6 Tuổi tác
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng 21-25 tuổi 2 1 - - 3
Xét về giới tính, có 20 % nhà lãnh đạo doanh nghiệp là phụ nữ, còn lại 80
% là nam giới Tuy nhiên, có điểm khác biệt rõ rệt giữa khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân : nơi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Nhà nước, chỉ có 4 % là nữ giám đốc hoặc nữ phó giám đốc, trong khi đó nơi khu vực công ty TNHH tư nhân, tỷ lệ này lên tới 22 %, và nơi công ty cổ phần cũng là 22 %
Bảng 7 Giới tính
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Một cuộc điều tra trên phạm vi cả nước của Viện Khoa học Lao động và các Vấn đề Xã hội vào tháng 9-1995 đã từng cho thấy tình hình tương tự : trong
788 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, số nữ giám đốc chiếm 21,32 %, còn nơi 321
Trang 14doanh nghiệp Nhà nước, số phụ nữ làm giám đốc chỉ chiếm hơn 4 %.4 Một cuộc điều tra các nhà doanh nghiệp tư nhân trên phạm vi cả nước do Ngân hàng Thế giới tiến hành vào năm 2001 cũng cho biết tỷ lệ nữ giám đốc chiếm 19 % ở khu vực thành thị, và 32 % ở khu vực nông thôn.5
3 Trình độ học vấn khá cao
Về trình độ học vấn, đại đa số các nhà doanh nghiệp đều có trình độ đại học, ngoại trừ ở khu vực tư nhân có một tỷ lệ nhất định có trình độ cấp III và cấp I-II Điều này cho thấy tầng lớp các nhà doanh nghiệp có lẽ chính là một trong những tầng lớp có mặt bằng học vấn cao nhất so với các tầng lớp xã hội khác
Bảng 8 Trình độ học vấn
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng Cấp I, cấp II 2 - - - 2
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Đáng chú ý là hiện nay có tới 54 % nhà doanh nghiệp đã từng học về kinh doanh hay quản trị kinh doanh qua trường lớp chính qui (1-2 năm trở lên), 21 % từng học những môn này ở những khóa ngắn hạn (1-2 tuần hay 1-2 tháng), và 5
% trả lời là tự học Tỷ lệ đã được học chính qui những môn này nơi các nhà doanh nghiệp Nhà nước tương đối cao hơn so với các nhà doanh nghiệp tư nhân
Bảng 9 "Ông/bà có dịp học hỏi về kinh doanh hay quản trị kinh doanh qua trường lớp hay không ?" (câu hỏi 27)
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
- có học ở lớp chính qui 58 15 18 7 98 (1-2 năm trở lên) 47,2% 65,2% 66,7% 70,0% 53,6%
4
Xem Phụ nữ TP.HCM, số ra ngày 8-5-1996, trang 2
5
Xem Liesbet Steer, Markus Taussig, A Little Engine that Could : Domestic Private
Companies and Vietnam's Pressing Need for Wage Employment, World Bank Policy
Research Working Paper 2873, August 2002, page 15
Trang 15Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng Tổng cộng 123 23 27 10 183 100,0% 100,0% 100,0% 100,0% 100,0%
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
4 Dân tộc, tôn giáo, đoàn thể, và hiệp hội
Có 6 % trong số các nhà doanh nghiệp trong mẫu điều tra ở TP.HCM là người Việt gốc Hoa, và 0,5 % dân tộc khác, còn lại là người Kinh Tất cả số doanh nhân người Việt gốc Hoa này đều làm việc trong khu vực tư nhân (chiếm
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Số người có tôn giáo trong khu vực tư nhân cũng tương đối đông hơn so với khu vực Nhà nước : 28 % theo Phật giáo, 13 % Thiên Chúa giáo, 2 % tôn giáo khác (tổng cộng là 43 %), trong khi tỷ lệ có tôn giáo ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước chỉ là 7 %
Bảng 11 Tôn giáo
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
27,6% 13,0% 30,0% 21,9% Thiên chúa giáo 16 3 1 1 21 13,0% 13,0% 3,7% 10,0% 11,5% Tôn giáo khác 3 - 1 - 4
Không theo tôn giáo nào 70 17 25 6 118 56,9% 73,9% 92,6% 60,0% 64,5%
Tổng cộng 123 23 27 10 183 100,0% 100,0% 100,0% 100,0% 100,0%
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Trang 16Có tới 85 % lãnh đạo công ty Nhà nước là đảng viên Trong khi đó, nơi các công ty TNHH, có 8 % giám đốc hoặc phó giám đốc là đảng viên, và 7 % là đoàn viên TNCS.6
Bảng 12 Đoàn thể
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
30 % lãnh đạo doanh nghiệp tư nhân cho biết đã tham gia vào một hiệp hội hay câu lạc bộ doanh nhân nào đó, còn lại 70 % chưa tham gia vào tổ chức nào thuộc loại này Trong khi đó, tỷ lệ tham gia vào các hiệp hội doanh nhân nơi loại hình doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp cổ phần tương đối cao hơn (gần 60 %)
Bảng 13 Tham gia hiệp hội doanh nhân
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
5 Xuất thân từ mọi miền đất nước tụ hội về đây
Trong tổng số mẫu điều tra, chỉ có 40 % nhà doanh nghiệp cho biết là sinh sống tại TP.HCM từ nhỏ, còn lại 60 % là từ nơi khác chuyển về Tỷ lệ này nơi khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân cũng tương tự nhau Trong số những người từ nơi khác chuyển về, tương đối đông nhất là vào hai thời kỳ : 1975-1980 lúc mới giải phóng, và 1986-1990 lúc bắt đầu đổi mới Khoảng một phần ba trong số này là những người về TP.HCM để vào đại học ở lứa tuổi 17-19, rồi ở lại đây lập nghiệp sau khi học xong Trong số những người từ nơi khác chuyển
với 688 đảng viên ; xây dựng được 491 công đoàn cơ sở, và 70 chi đoàn TNCS Xem Tuổi trẻ,
6-10-2004, trang 3
Trang 17- 25 % đến từ miền Bắc (tính từ Quảng Bình trở ra),
- 15 % đến từ miền Trung và Tây nguyên,
- 18 % đến từ các tỉnh Nam bộ,
- và 3 % là Việt kiều từ nước ngoài về
Biểu đồ 5 Nơi sinh trưởng
30 20
10 0
40
18 15
25
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Con số gần hai phần ba các nhà lãnh đạo công ty ở TP.HCM vốn sinh trưởng từ khắp ba miền đất nước tụ hội về đây chứng tỏ sức mạnh của nền kinh
tế thành phố này chính là ở chỗ chiêu nạp được những tinh hoa của cả nước Và điều này cũng là một trong những đặc trưng "nội lực" của đô thị Sài Gòn, vốn là một xã hội "mở" luôn đón nhận người dân tứ xứ tới làm ăn sinh sống kể từ thời khai phá lập địa đến nay.7
6 Không có truyền thống gia đình kinh doanh
Được hỏi nghề chính của cha là gì, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã cho biết như sau :
- 14 % cán bộ quản lý cơ quan nhà nước và đoàn thể
- 8 % cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước
- 13 % nghề lao động trí óc (giáo viên, bác sĩ, kỹ sư )
- 10 % nhân viên (kể cả khu vực nhà nước và tư nhân)
- 8 % chủ doanh nghiệp tư nhân
- 4 % chủ cơ sở tư nhân nhỏ
- 6 % lao động tiểu thủ công nghiệp, lao động tự do
7
Nhân đây, chúng tôi cho rằng từ "dân nhập cư" mà nhiều người dùng lâu nay là không ổn Trước hết là vì từ này đúng ra chỉ áp dụng cho trường hợp người di cư từ nước này vào nước
khác (immigrant) Kế đến, dùng từ này vô hình trung hàm nghĩa có sự phân biệt đối xử nào
đó giữa người "gốc" tại chỗ và người nơi khác đến, nghĩa là gián tiếp phản ánh một thứ tư duy quản lý theo "hộ khẩu" Riêng đối với trường hợp đô thị Sài Gòn-TP.HCM, dùng từ này lại càng không ổn, vì có người dân Sài Gòn nào dám khẳng định mình là người "gốc" tại đây, chứ không phải là dân "nhập cư" ! Có lẽ nên dùng từ "di dân" hay "người di dân tự do" (để phân biệt với trường hợp di dân có tổ chức) thì thích hợp hơn
Trang 18- 11 % buôn bán nhỏ, kinh doanh nhỏ
- 4 % công nhân
- 15 % nông dân
- 8 % nghề khác
Trong số các tầng lớp nghề nghiệp trên đây, có lẽ chỉ có tầng lớp "chủ
doanh nghiệp tư nhân" là tầng lớp có truyền thống kinh doanh theo đúng nghĩa
của từ này Còn những nhóm buôn bán nhỏ hoặc kinh doanh nhỏ thì khó mà nói được là có tinh thần kinh doanh đúng nghĩa
Số người có cha là "chủ doanh nghiệp tư nhân" chỉ chiếm có 8 % trong mẫu điều tra Nếu tính cả cha hoặc mẹ là chủ doanh nghiệp tư nhân, thì tỷ lệ này cũng chỉ lên tới 9 %.8 Còn nếu muốn gộp cả nhóm "chủ cơ sở tư nhân nhỏ" vào đây (bao gồm những cơ sở thủ công nhỏ hoặc hàng quán nhỏ), thì con số cũng chỉ đạt tới mức khoảng 13-14 % Như vậy, có thể nói rằng hơn 80 % các nhà lãnh đạo doanh nghiệp hiện nay không có truyền thống gia đình kinh doanh, kể cả nơi các nhà doanh nghiệp nhà nước lẫn tư nhân (ở đây chỉ tạm xem xét giới hạn trong hai thế hệ, tức là từ đời cha mẹ đến đời con)
Bảng 14 Nghề chính của cha
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
1 Nghề lao động trí óc 15 3 4 1 23 (giáo viên, bác sĩ, kỹ sư…) 12,2% 13,0% 14,8% 10,0% 12,6%
2 Cán bộ quản lý cơ quan 21 4 1 - 26 Nhà nước và đoàn thể 17,1% 17,4% 3,7% 14,2%
3 Cán bộ quản lý doanh 7 2 4 2 15 nghiệp Nhà nước 5,7% 8,7% 14,8% 20,0% 8,2%
(Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương), Điều tra về hiện trạng và phát triển tương
lai của tinh thần kinh doanh và khu vực tư nhân, Hà Nội, Vietnam-Japan Joint Research,
12-2000, trang 35
Trang 19Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng Tổng cộng 123 23 27 10 183 100,0% 100,0% 100,0% 100,0% 100,0%
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Bảng 14 cho thấy có 9 % giám đốc hoặc phó giám đốc các công ty TNHH
có cha là chủ doanh nghiệp tư nhân, trong khi thì nơi khu vực nhà nước thì không
có ai
Những nhóm nghề nghiệp của cha có tỷ lệ tương đối đông nhất nơi khu vực tư nhân (công ty TNHH) là như sau :
- 17 % cán bộ quản lý cơ quan nhà nước và đoàn thể
- 13 % buôn bán nhỏ, kinh doanh nhỏ
- 12 % nghề lao động trí óc (giáo viên, bác sĩ, kỹ sư )
- 12 % nông dân
Còn những nhóm nghề nghiệp của cha có tỷ lệ tương đối đông nhất nơi khu vực nhà nước là như sau :
- 33 % nông dân
- 15 % cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước
- 15 % nghề lao động trí óc (giáo viên, bác sĩ, kỹ sư )
- 11 % buôn bán nhỏ, kinh doanh nhỏ
7 Từng trải qua nhiều nghề khác nhau
Hầu hết các nhà lãnh đạo doanh nghiệp tư nhân ở TP.HCM hiện nay đều
là những người đã từng trải qua ít nhất một nghề hay một công việc khác trước khi đảm nhiệm vị trí giám đốc hay phó giám đốc công ty như hiện nay Rất ít người vừa rời ghế nhà trường là lập ngay công ty của mình (chỉ có 1 %) Được hỏi trước đây đã từng làm việc ở những đâu, họ cho biết như sau :
- 42 % làm ở cơ quan nhà nước
- 33 % làm ở công ty quốc doanh
- 12 % làm ở công ty có vốn nước ngoài
- 25 % làm ở công ty tư nhân
- 10 % làm ở cơ sở tư nhân, cá thể
Mặt khác, điểm cũng nổi bật qua bảng 15 là những người lãnh đạo công ty TNHH hiện nay vốn xuất thân từ nhiều ngành nghề đa dạng hơn so với các nhà
Trang 20lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước Hay nói cách khác, họ là những người đã phải trải qua những bước thăng trầm "ba chìm bảy nổi" trong cuộc đời nhiều hơn so với các giám đốc quốc doanh Trong số các doanh nhân tư nhân được phỏng vấn,
có những người từng làm bác sĩ tai mũi họng, luật gia, giáo viên sử học, giáo viên triết học, lý luận phê bình điện ảnh, họa sĩ, có người xuất thân từ bộ đội, và cũng có người từng đi khoan giếng
Điều cũng đáng chú ý nữa là tỷ lệ những người lãnh đạo doanh nghiệp tư nhân từng làm việc ở một công ty nào đó (kể cả quốc doanh lẫn tư nhân và liên doanh) lên tới 63 % có thể hiểu đây cũng là một hành trang kinh nghiệm cho quá trình thành lập công ty riêng của họ sau này
Bảng 15 Những nghề đã từng làm trước đây, phân theo loại hình doanh nghiệp
Loại hình doanh nghiệp Công ty
TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
- làm ở cơ quan nhà nước 38 15 19 5 77
100,0% 100,0% 100,0% 100,0% 100,0%
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Để so sánh, chúng ta có thể tham khảo thêm chỉ tiêu này nơi hai cuộc điều tra khác sau đây Theo kết quả cuộc điều tra 452 doanh nghiệp tư nhân trên phạm
vi cả nước do Chương trình nghiên cứu Việt Nam-Nhật Bản tiến hành vào tháng 9-2000, nghề nghiệp trước đây của các nhà quản lý doanh nghiệp là làm việc cho : công ty nhà nước (24,9 %), cơ quan nhà nước (20,0 %), quân đội (11,2 %), công ty ngoài quốc doanh (16,6 %), công ty nước ngoài (1,2 %) , nghề khác (20,4 %).9 Còn theo cuộc điều tra doanh nghiệp tư nhân cũng trên phạm vi cả nước của Ngân hàng Thế giới vào năm 2001, nghề nghiệp trước đây của các nhà quản lý doanh nghiệp là làm việc tại : công ty nhà nước (40,6 %), cơ quan Đảng,
9
Xem Nobuaki Takada (Viện nghiên cứu Nomura, Nhật Bản), Ý chí kinh doanh tại Việt Nam,
Hà Nội, Vietnam-Japan Joint Research, 12-2000, trang 9
Trang 21nhà nước và quân đội (9,0 %), công ty tư nhân (15,2 %), buôn bán nhỏ (18,5 %), lao động tiểu thủ công nghiệp (9,0 %), nông nghiệp (1,2 %), hợp tác xã (2,0 %), nghề khác (4,4 %).10
8 Tuổi lúc ra kinh doanh
Tuổi bình quân lúc bước vào con đường kinh doanh của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp là 32 tuổi, không chênh lệch bao nhiêu giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân (31,52 tuổi nơi nhà lãnh đạo doanh nghiệp tư nhân, và 32,88 tuổi nơi nhà lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước)
Khi thành lập công ty riêng của mình, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp tư nhân có tuổi bình quân là 35,42 tuổi
Nếu tính số năm bình quân bước chân vào con đường kinh doanh của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp hiện nay, thì đó là 12,24 năm Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước có thâm niên kinh doanh lâu hơn so với các nhà doanh nghiệp tư nhân (18 năm so với 10 năm), chủ yếu do họ có tuổi đời cao hơn như
đã nói trên (tuổi đời bình quân của nhà doanh nghiệp nhà nước hiện nay là 51 tuổi, trong khi nơi nhà doanh nghiệp tư nhân là 42 tuổi) Cụ thể số năm kinh doanh bình quân phân theo các loại hình doanh nghiệp như sau :
- công ty TNHH (vốn trong nước) : 10,54 năm
- doanh nghiệp Nhà nước : 17,81 năm
- doanh nghiệp có vốn nước ngoài : 12,40 năm
Còn tính về thời điểm bước chân vào con đường của các nhà doanh nghiệp trong mẫu điều tra, đại đa số (80 %) đều mới bước vào con đường này kể từ thời
kỳ đổi mới trở đi, tức là sau năm 1986 Chỉ có 20 % ra kinh doanh trong thời kỳ 1975-1985 (xem chi tiết nơi biểu đồ 6)
Biểu đồ 6 Thời điểm bắt đầu bước vào con đường kinh doanh
20 10
0
6
26 33 15
8 12
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
10
Xem Liesbet Steer, Markus Taussig, A Little Engine that Could : Domestic Private
Companies and Vietnam's Pressing Need for Wage Employment, World Bank Policy
Research Working Paper 2873, August 2002, page 16
Trang 22Tuy nhiên, nếu chúng ta xem xét số tuổi bình quân của các nhà doanh nghiệp lúc họ bắt đầu bước vào con đường kinh doanh, thì chúng ta sẽ thấy tình hình đáng lưu ý Tính từ năm 1975 tới nay, độ tuổi bình quân bước vào kinh doanh có xu hướng ngày càng tăng lên, thời kỳ 1996-2000 có vẻ giảm đi một chút, nhưng đến thời kỳ 2001-2004 lại tăng lên lại :
C Vài đặc điểm của mẫu doanh nhân "2030"
Tính đến thời điểm cuộc điều tra, Câu lạc bộ Doanh nhân 2030 có tổng cộng khoảng 180 thành viên Các điều tra viên của chúng tôi đã tiếp xúc và phỏng vấn được 84 nhà lãnh đạo các doanh nghiệp "2030", trong đó công ty TNHH (vốn trong nước) 74 %, công ty cổ phần 12 %, công ty có vốn nước ngoài
8 %, công ty nhà nước 1 %
29 % trong mẫu điều tra này kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất và xây dựng, 25 % trong lĩnh vực thương mại, và 46 % trong lĩnh vực dịch vụ Phần lớn đều mới thành lập công ty trong vòng 10 năm trở lại đây (91 %) Đa số có qui mô nhỏ : 89 % có dưới 100 lao động, và 78 % đạt mức doanh số dưới 20 tỉ đồng vào năm 2003
16 % các doanh nhân "2030" là nữ giới Lẽ tất nhiên, đại đa số đều nằm trong lứa tuổi 20-39 theo như tên gọi của câu lạc bộ này (tập trung nơi ba nhóm :
31 % 26-30 tuổi, 31 % 31-35 tuổi, 20 % 36-40 tuổi), tuy nhiên vẫn có một tỷ lệ
10 % trên 40 tuổi – chắc hẳn số này muốn tham gia sinh hoạt và gắn bó với tập thể trẻ này Người có tuổi thấp nhất là 22 tuổi, và cao nhất là 52 tuổi
Trình độ học vấn của các doanh nhân trẻ này cao hơn hẳn so với mẫu doanh nhân chung của TP.HCM nói trên : 77 % có trình độ đại học, 19 % trên đại học, và chỉ có 4 % cấp III Tỷ lệ đã từng học về kinh doanh hoặc quản trị kinh doanh cũng cao hơn : 71 % từng học chính qui, và 14 % từng học ở những lớp ngắn hạn
Lớp doanh nhân này bước chân vào con đường kinh doanh sớm hơn so với các thế hệ trước Tuổi bình quân lúc họ ra kinh doanh là 26 tuổi, trẻ hơn 6 tuổi so với chỉ báo này nơi các doanh nhân tư nhân trong mẫu điều tra chung (32 tuổi) Và tuổi bình quân lúc họ thành lập công ty riêng là 29 tuổi, sớm hơn 6 năm
so với các doanh nhân tư nhân (35 tuổi)
Trang 23Như vậy, có thể hình dung rằng lớp doanh nhân trẻ hiện nay bước vào con đường kinh doanh khá sớm, khoảng 3-4 năm sau khi tốt nghiệp đại học, và sau
đó cũng khoảng 3-4 năm nữa thì họ bắt tay khởi nghiệp và thành lập công ty lúc chưa đầy 30 tuổi
Họ từng làm gì trước khi mở công ty ? So sánh giữa mẫu điều tra tầng lớp doanh nhân tư nhân chung tại TP.HCM hiện nay với mẫu điều tra doanh nhân Câu lạc bộ 2030, chúng ta có thể thấy vài khác biệt có ý nghĩa Họ xuất thân từ các cơ quan nhà nước ít hơn (18 % so với 31 %), nhưng lại đã từng đi làm cho các doanh nghiệp có vốn nước ngoài nhiều hơn (38 % so với 16 %) Họ cũng tương đối ít phải trải qua những nghề lao động tự do hoặc buôn bán nhỏ vất vả như tầng lớp doanh nhân đàn anh, mà ngược lại, phần lớn đều từng có thời gian làm cho một công ty nào đó (hơn 80 %), trước khi ra mở công ty riêng Có thể hình dung đây cũng là những lợi thế trong hành trang kinh nghiệm của họ
Bảng 16 Những nghề đã từng làm trước đây, phân theo mẫu điều tra
Mẫu điều tra
Công ty TNHH* CLB 2030
Tổng cộng
- làm ở cơ quan nhà nước 38 15 53
* Ghi chú : Đây là các giám đốc hoặc phó giám đốc công ty TNHH (vốn trong
nước) nằm trong mẫu điều tra ngẫu nhiên
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
III Những khía cạnh và những kích thước liên quan tới văn hóa doanh nghiệp
"Văn hóa doanh nghiệp" là một khái niệm khá trừu tượng và tổng quát, bao gồm nhiều khía cạnh và kích thước khác nhau, từ những biểu hiện cụ thể bên ngoài như đồng phục, kỷ luật của công ty, tập quán ứng xử… cho tới phong cách quản lý, cùng những thái độ và quan niệm trong tư duy Mặt khác, văn hóa doanh
Trang 24nghiệp cũng bao trùm nhiều lĩnh vực quan hệ khác nhau, từ các mối quan hệ quản lý giữa lãnh đạo và nhân viên, cho tới các quan hệ với khách hàng, với đối tác, và với cộng đồng xã hội
Cuộc điều tra này lẽ dĩ nhiên không thể đi vào tất cả mọi khía cạnh ấy, mà chỉ khảo sát một số mà thôi, trong đó tập trung phần lớn vào khía cạnh quản trị doanh nghiệp và các mối quan hệ trong quản lý Trong phần này, dựa trên kết quả phỏng vấn bằng bản câu hỏi, thoạt tiên chúng tôi sẽ tìm hiểu một số biểu hiện bên ngoài của văn hóa doanh nghiệp, kế đó sẽ đi vào tìm hiểu ý chí kinh doanh và khả năng tổ chức hoạt động kinh doanh các nhà doanh nghiệp, và sau
đó sẽ phân tích một số quan niệm và giá trị của nhà doanh nghiệp trong hoạt động quản lý doanh nghiệp
A Những biểu hiện bên ngoài của văn hóa doanh nghiệp
Trước khi đi vào những vấn đề chiều sâu của văn hóa kinh doanh, chúng tôi tìm hiểu qua bản câu hỏi một số biểu hiện bên ngoài dễ thấy
1 Một số biểu hiện
Được hỏi rằng "trong đời sống thường ngày, người bên ngoài công ty có thể nhận thấy màu sắc riêng của công ty ông/bà qua những biểu hiện cụ thể nào dưới đây ?" (có thể đánh dấu vào nhiều biểu hiện đã có), các nhà doanh nghiệp trong mẫu điều tra đã trả lời như sau :
- cung cách riêng tiếp nhận điện thoại và tiếp khách 26,9
là lẫn lộn với khái niệm tiếp thị hoặc thậm chí quảng cáo), nhưng dù sao chăng nữa, chỉ báo trên đây cũng bộc lộ một thực tế là sự quan tâm của phần đông doanh nghiệp đối với vấn đề này đang gia tăng Phân tích theo loại hình doanh nghiệp, chúng ta cũng thấy có vài khác biệt
Bảng 17 Những biểu hiện bên ngoài của văn hóa doanh nghiệp (câu hỏi 12)
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
- đồng phục công ty 37 12 14 7 70 30,1% 52,2% 51,9% 70,0% 38,3%
- logo công ty 79 20 22 9 130 64,2% 87,0% 81,5% 90,0% 71,0%
- bài ca của công ty 1 - 2 - 3
Trang 25Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Điều có thể thấy rõ qua bảng 17 là ở nhóm các công ty TNHH tư nhân, hầu hết các chỉ tiêu biểu hiện bên ngoài của văn hóa doanh nghiệp đều tương đối thấp hơn so với các doanh nghiệp nhà nước cũng như các doanh nghiệp cổ phần
và các công ty có vốn nước ngoài
2 Những câu châm ngôn
Về châm ngôn hay khẩu hiệu của công ty, có một câu hỏi khác hỏi riêng
về chuyện này (câu hỏi 14), và có tổng cộng 32 % công ty cho biết đã có đặt ra châm ngôn hay khẩu hiệu hành động cho công ty của mình (Riêng nơi các doanh nghiệp thuộc Câu lạc bộ 2030 thì tỷ lệ này lên tới 57 %.)
Các câu châm ngôn hay khẩu hiệu mà các nhà doanh nghiệp nêu ra đều khá phong phú và thú vị Tựu trung, có thể chia ra làm mấy nhóm chính sau đây,
và ở đây chúng tôi chỉ trích lại một số câu tương đối tiêu biểu (có thể xem đầy đủ các câu châm ngôn của các công ty trong mẫu điều tra tại phần phụ lục)
* Những câu hướng đến khách hàng :
- "Luôn hướng đến sự hoàn hảo để phục vụ khách hàng" (phiếu số 6)
- "Khách hàng là thượng đế" (phiếu số 11)
- "Khách hàng là sự sống hàng đầu của công ty - Chất lượng hàng hoá là
sự đảm bảo đồng lương của người công nhân" (phiếu số 59)
- "Lịch sự nhã nhặn" (phiếu số 70)
- "Lấy chữ tín làm đầu" (phiếu số 154)
- "Đến tiếp đón niềm nở, ở chăm sóc tận tình, về dặn dò chu đáo" (phiếu
số 76)
- "Tất cả vì khách hàng" (phiếu số 93)
- "Hãy bảo quản xe của khách coi như xe của chính mình" (phiếu số 100)
- "Luôn luôn đáp ứng nhu cầu của khách hàng" (phiếu số 160)
* Những câu hướng đến chất lượng :
- "Chất lượng, uy tín và trung thực" (phiếu số 2)
Trang 26- "Sản phẩm chất lượng- Bảo hành chu đáo-Phục vụ nhanh chóng" (phiếu
số 42)
- "Chất lượng là trên hết" (phiếu số 121)
- "Hiệu qủa chất lượng liên tục phát triển" (phiếu số 135)
- "Danh dự và chất lượng là trên hết" (phiếu số 184)
* Những câu hướng đến nhân viên và qui trình lao động :
- "An toàn lao động là hạnh phúc" (phiếu số 111)
- "Làm hết việc chứ không hết giờ" (phiếu số 114)
- "Trung thực với nhau và trung thực với khách hàng" (phiếu số 131)
- "Giảm chi phí, tăng lợi nhuận" (phiếu số 152)
- "Đồng lòng nhất trí" (phiếu số 175)
- "Đoàn kết, siêng năng làm việc" (phiếu số 183)
- "Cẩn trọng trong sản xuất - Mềm dẻo trong kinh doanh" (phiếu số 198)
* Những câu độc đáo khác :
- "Vững tiến" (phiếu số 9)
- "Chuyên nghiệp để cạnh tranh" (phiếu số 20)
- "Singer là bạn của mọi gia đình" (phiếu số 73)
- "Góp phần tôn vinh vẻ đẹp của phụ nữ" (phiếu số 67)
- "Ngày hôm nay bạn đã làm được gì hơn ngày hôm qua" (phiếu số 83)
- "Hơn nữa cho tương lai" (phiếu số 160)
- "Cánh cữa mở đường phát triển" (phiếu số 185)
- "TTT think" (phiếu số 196)
3 Những qui tắc giao dịch và ứng xử của công ty
Kết quả câu hỏi về những qui tắc giao dịch và ứng xử đã được xây dựng trong nội bộ công ty cho thấy phần lớn các doanh nghiệp đều đã có quan điểm hướng đến khách hàng, hay nói cách khác, lấy khách hàng làm trung tâm điểm cho hoạt động của mình Những câu trả lời cụ thể về các qui tắc nội bộ công ty như sau (câu hỏi 13) :
- qui tắc giao dịch và ứng xử với khách hàng 81,7 %
- với việc bảo hành sản phẩm 52,2
- qui tắc khác đã hình thành 5,9
- không quan tâm lắm vấn đề này 8,6
Phân tích theo loại hình doanh nghiệp, thì điều đáng chú ý là các công ty
tư nhân tỏ ra chú ý tới khâu bảo hành sản phẩm nhiều hơn so với các công ty nhà nước (xem bảng 18)
Bảng 18 Những qui tắc giao dịch và ứng xử trong công ty
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
- qui tắc giao dịch và ứng 97 21 23 8 149
xử với khách hàng 78,9% 91,3% 85,2% 80,0% 81,4%
Trang 27Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
- với bạn hàng 67 15 11 4 97 54,5% 65,2% 40,7% 40,0% 53,0%
- với đối tác quốc tế 39 14 10 8 71 31,7% 60,9% 37,0% 80,0% 38,8%
- với cấp trên, cấp dưới 54 14 15 7 90 43,9% 60,9% 55,6% 70,0% 49,2%
- với việc bảo hành 71 7 12 5 95 sản phẩm 57,7% 30,4% 44,4% 50,0% 51,9%
- với đối thủ cạnh tranh 36 5 8 3 52 29,3% 21,7% 29,6% 30,0% 28,4%
- qui tắc khác đã hình 8 2 1 - 11 thành 6,5% 8,7% 3,7% 6,0%
- không quan tâm lắm 12 1 3 - 16 vấn đề này 9,8% 4,3% 11,1% 8,7%
Tổng cộng 123 23 27 10 183 100,0% 100,0% 100,0% 100,0% 100,0%
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
4 Xây dựng truyền thống công ty
Một trong những nét đặc trưng trong văn hóa công ty là truyền thống của công ty, hiểu theo nghĩa rộng, tức là bao gồm bề dày lịch sử của công ty và những nề nếp, tập quán hoặc phong cách tốt đẹp của công ty Kết quả điều tra cho biết phần lớn các doanh nghiệp đều đã có ý thức ít nhiều về chuyện này Số chưa quan tâm tương đối ít (chỉ có 14 %) Không có sự khác biệt gì lớn giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân về mặt này "Những truyền thống tốt của công
ty đã được truyền lại cho những người mới vào công ty sau này bằng cách nào ?" (câu hỏi 20) Kết quả trả lời như sau :
- giới thiệu cho người mới tới khi bắt đầu nhận nhiệm vụ 76,3 %
- nhắc lại trong các lễ hội, họp mặt công ty 37,1
- qua các chuyện kể truyền miệng trong công ty 40,3
- công ty chưa quan tâm lắm lĩnh vực này 14,5
Ngoài ra, nhiều nhà doanh nghiệp còn trả lời cho biết có những cách thức khá đa dạng và phong phú trong việc xây dựng và phát triển truyền thống của công ty mà chúng tôi trích lại một số dưới đây :
- "Lớp người đi trước chỉ bảo người đi sau" (phiếu số 65)
- "Kèm cặp lẫn nhau giữa nhân viên" (phiếu số 69)
- "Hội nghị khách hàng cho nhân viên tham gia" (phiếu số 105)
- "Trưởng phòng lo đào tạo nhân viên của mình" (phiếu số 137)
- "Giới thiệu trên Internet" (phiếu số 196)
- "Tổ chức lễ cưới cho công nhân" (phiếu số 198)
- "Tạo tập kỷ yếu của công ty (lịch sử thành lập, qui tắc làm việc )" (phiếu số 224)
- "Tổ chức đi chơi một năm hai lần để hiểu về công ty" (phiếu số 230)
- "Qua bản văn hoá doanh nghiệp của công ty soạn" (phiếu số 247)
- "Sự gương mẫu của lãnh đạo trong công việc hàng ngày" (phiếu số 279)
Trang 285 Các hoạt động xã hội và từ thiện
Một nét thể hiện văn hóa doanh nghiệp khác nữa là các hoạt động xã hội
và từ thiện Hầu hết các nhà doanh nghiệp đều trả lời cho biết có nhiều loại hoạt động đa dạng khác nhau thể hiện trách nhiệm và sự gắn kết của doanh nghiệp với môi trường xã hội mà mình đang hoạt động Chỉ có 5 % nói là chưa quan tâm tới lĩnh vực này Cũng không có khác biệt gì giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân trong nhận thức về trách nhiệm xã hội này "Công ty ông/bà đã có những hoạt động nào thể hiện trách nhiệm xã hội và sự gắn bó với các cộng đồng gần gũi với công ty ?" (câu hỏi 21)
- đóng góp cho các quĩ xóa đói giảm nghèo, học bổng,
- xây dựng lớp học, đường sá, hệ thống điện nước cho cộng đồng 25,3
- đóng góp xã hội kết hợp với hoạt động tiếp thị 17,7
- nói chung, công ty chưa quan tâm đến lĩnh vực này 5,4 Các nhà doanh nghiệp trong mẫu điều tra còn cho biết thêm nhiều dạng hoạt động xã hội phong phú và thiết thực khác như :
- "Giúp đào tạo kỹ năng cho sinh viên về định hướng công việc sau khi ra trường" (phiếu số 21)
- "Hỗ trợ trẻ em tàn tật" (phiếu số 36)
- "Tự thăm nom người già" (phiếu số 60)
- "Quĩ hỗ trợ cho phụ nữ nghèo vượt khó của thành phố" (phiếu số 67)
- "Các giải thi đấu cờ vua ở Lâm Đồng" (phiếu số 105)
- "Xây dựng nhà tình thương" (phiếu số 108)
- "Lũ lụt, học bổng cho con em nhân viên" (phiếu số 120)
- "Gia đình nhân viên công ty" (phiếu số 126)
- "Nhận trẻ mồ côi về học nghề" (phiếu số 188)
- "Tài trợ xúc tiến thương mại" (phiếu số 202)
- "Quĩ chia sẻ tấm lòng ở công ty" (phiếu số 210)
- "Có quan tâm đến nhưng không biết nguồn để giúp đỡ" (phiếu số 232)
- "Trồng rừng" (phiếu số 233)
- "Tặng quà cho trẻ em khuyết tật vào các ngày lễ" (phiếu số 237)
- "Ủng hộ các học viên cai nghiện tại trung tâm" (phiếu số 256)
- "Hướng dẫn sinh viên thực tập và giới thiệu việc làm" (phiếu số 278) Mặc dù trong thời gian những năm gần đây chúng ta có thể nhận thấy ngày càng có nhiều công ty có những sáng kiến đa dạng tham gia và tài trợ những hoạt động văn hóa, văn nghệ, xã hội, thể thao…, nhưng các biểu hiện bên ngoài của văn hóa doanh nghiệp nhìn chung dường như chưa được nhiều và phong phú Điều này có thể được lý giải là do quá trình hình thành doanh nghiệp chưa được bao lâu, vả lại, vấn đề văn hóa doanh nghiệp thực ra cũng mới được đặt ra và bàn luận tương đối nhiều trong vài năm trở lại đây mà thôi Những biểu hiện bên ngoài nói trên, tuy chưa hẳn đã phản ánh chiều sâu của một nền văn hóa doanh nghiệp thực thụ, nhưng dù sao chăng nữa chúng ta vẫn có thể coi đấy là những dấu ấn khởi đầu chứng tỏ giới doanh nhân đã bắt đầu quan tâm tới chuyện này và đã bắt tay vào một số hoạt động thiết thực nhất định
Trang 29B Nhãn giới của doanh nhân về tình hình kinh doanh
Bảng 19 "Tình hình làm ăn của công ty ông/bà hiện nay có khá hơn so với năm ngoái ?" (câu hỏi 1)
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là khi được hỏi tiếp về mức độ "hài lòng"
về những việc đã làm trong 5 năm qua, thì các nhà lãnh đạo doanh nghiệp tư nhân lại tỏ ra có phần hài lòng hơn so với các nhà quản lý doanh nghiệp nhà nước (xem bảng 20) Chúng tôi cho rằng điều này phải chăng bộc lộ sức mạnh tiềm tàng trong ý chí kinh doanh của tầng lớp kinh doanh tư nhân khi họ duy trì được sự tự tin một cách lạc quan về những gì mình đã làm, mặc dù vẫn còn gặp nhiều khó khăn
Bảng 20 "Nhìn chung, ông/bà có hài lòng về những công việc mà ông/bà đã làm tại công ty trong 5 năm vừa qua hay không ?" (câu hỏi 2)
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
- rất hài lòng 42 7 4 4 57 34,1% 30,4% 14,8% 40,0% 31,1%
- tương đối hài lòng 53 11 16 6 86 43,1% 47,8% 59,3% 60,0% 47,0%
Trang 30100,0% 100,0% 100,0% 100,0% 100,0%
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Riêng nơi các doanh nhân trẻ thuộc Câu lạc bộ 2030 thì có tới 73 % đánh giá tình hình làm ăn năm nay khá hơn so với năm ngoái, và cũng có mức độ hài lòng của công việc của mình cao hơn hẳn so với các doanh nhân trong mẫu ngẫu nhiên : 41 % rất hài lòng, và 45 % tương đối hài lòng
3 Những thành công lớn nhất của công ty
Khi được hỏi về "những thành công lớn nhất của công ty ông/bà trong vòng 5 năm trở lại đây" (câu hỏi 3, có thể chọn tối đa 5 ý), các nhà doanh nghiệp trả lời như sau (xếp theo thứ tự tỷ lệ % từ cao tới thấp) :
- mở rộng địa bàn hoạt động 52,2 %
- tạo được thương hiệu có giá trị 41,4
- nâng cao trình độ nhân viên 39,2
- tạo nhiều công ăn việc làm 33,9
- áp dụng công nghệ mới 30,1
- tìm được thị trường mới 28,5
- có chiến lược kinh doanh khả thi 28,5
- mở thêm phân xưởng, chi nhánh 20,4
- gây dựng văn hóa doanh nghiệp 16,7
- xuất khẩu được sản phẩm 12,4
Những thành công này cũng có khác biệt tùy theo loại hình doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp nhà nước, thì những thành công có tỷ lệ cao nhất là :
- mở rộng địa bàn hoạt động 55,6 %
- có chiến lược kinh doanh khả thi 55,6
Còn đối với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài :
- mở rộng địa bàn hoạt động 60,0 %
- tạo được thương hiệu có giá trị 60,0
- có chiến lược kinh doanh khả thi 50,0
Đối với các công ty cổ phần :
- mở rộng địa bàn hoạt động 56,5 %
- nâng cao trình độ nhân viên 39,1
Thế nhưng đối với các công ty TNHH (tư nhân vốn trong nước), thì những thành công lớn nhất không phải là lợi nhuận, mà cũng không phải là có chiến lược kinh doanh như các công ty nhà nước hay công ty có vốn nước ngoài :
- mở rộng địa bàn hoạt động 50,4 %
- tạo được thương hiệu có giá trị 43,1
- nâng cao trình độ nhân viên 41,5
Trang 31Chúng ta có thể ghi nhận vài điều qua những con số trên đây
(a) Toàn bộ các nhà lãnh đạo ở các loại hình doanh nghiệp khác nhau đều cho rằng thành công lớn nhất của công ty mình trong 5 năm qua là "mở rộng địa bàn hoạt động", điều này phải chăng phản ánh xu hướng phát triển doanh nghiệp
của TP.HCM trong thời gian qua chủ yếu là phát triển theo chiều rộng, chứ chưa
phải là theo chiều sâu ? Mấy năm nay, nhiều nhà kinh tế đã từng lên tiếng về nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế TP.HCM do chưa chuyển dịch được cơ cấu kinh
tế sang những ngành sản xuất và dịch vụ cao cấp hơn, chưa khuếch trương và khai thác được những ngành có hàm lượng chất xám cao và có giá trị gia tăng nhiều hơn Một chỉ báo được tính toán gần đây cho thấy sự giảm sút về hiệu quả
và sức cạnh tranh của nền công nghiệp ở TP.HCM : năm 1995, giá trị gia tăng trên một đồng giá trị sản xuất công nghiệp ở TP.HCM là 0,4, nhưng đến năm
2004, còn số này sụt đi còn 0,32 Điều này cho thấy ngành công nghiệp vẫn còn tập trung vào những ngành thâm dụng lao động và gia công lắp ráp, chứ chưa đầu
tư nhiều vào những ngành thâm dụng công nghệ và chất xám.11
(b) Ngày càng có nhiều doanh nghiệp quan tâm hơn tới vấn đề xây dựng thương hiệu Dù sao đây cũng là một dấu hiệu tích cực trong hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, tỷ lệ trả lời là "gây dựng văn hóa doanh nghiệp" chỉ đạt có
17 % Điều này cũng gián tiếp xác nhận nhận định mà chúng tôi đã nêu ra ở đoạn trên rằng quá trình xây dựng văn hóa doanh nghiệp hiện nay vẫn còn đang ở bước khởi đầu
(c) Điều đáng chú ý là nơi các công ty tư nhân trong nước, tỷ lệ trả lời "có chiến lược kinh doanh khả thi" và "lợi nhuận tăng" đều khá thấp (chỉ có trên dưới
20 %), thấp hơn hẳn so với mấy loại hình doanh nghiệp kia Làm kinh doanh mà thiếu một chiến lược, một tầm nhìn dài hạn thì quả là điều đáng lo ngại (chúng ta
sẽ trở lại với điểm này ở một phần sau) Mặt khác, trong khi nhà nước đang hô hào khuyến khích bỏ vốn liếng ra kinh doanh, nhưng chính những người kinh doanh phần lớn lại thấy không có lời bao nhiêu, thì rõ ràng nhà nước phải coi lại
về mặt chính sách, vì tình hình này có nguy cơ sẽ đi đến triệt tiêu động lực kinh doanh
4 Những khó khăn mà công ty thường gặp
Trong hoạt động kinh doanh, các nhà doanh nghiệp cho biết công ty của
họ thường gặp những "khó khăn lớn nhất" như sau (câu hỏi 5, có thể chọn tối đa
- môi trường kinh tế không ổn định 37,6
Trang 32- trình độ của đội ngũ quản lý 28,0
- giao dịch với thị trường nước ngoài 15,1
Trong số các khó khăn trên đây, có khá nhiều cái là do môi trường ở bên ngoài doanh nghiệp, đặc biệt đáng chú ý là hai khó khăn được nêu ra nhiều nhất
là "thị trường biến động" và "do chính sách và cách quản lý của nhà nước" Điều
này cho thấy tình hình hoạt động của các công ty hiện nay phần lớn chịu tác
động và phụ thuộc nặng nề vào môi trường bên ngoài, chứ không dựa chủ yếu
vào sức mạnh nội lực của công ty hay năng lực của bản thân đội ngũ lao động của công ty Lẽ tất nhiên, hoạt động kinh doanh lúc nào cũng nhắm tới thị trường
và phụ thuộc vào môi trường bên ngoài, nhưng nếu đến mức mà nhà doanh nghiệp coi đây là những "khó khăn lớn nhất", nhất là khi chính những "chính sách và cách quản lý của nhà nước" trở thành điều ám ảnh mà nhà doanh nghiệp phải thường xuyên đối phó thì rõ ràng tình hình này không ổn và không bình thường
Trong số các khó khăn khác mà các nhà doanh nghiệp nêu lên, có một số điểm đáng ghi nhận như sau :
- "Khó khăn trong việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp" (phiếu số 67)
- "Chảy máu chất xám do mình đào tạo ra" (phiếu số 96)
- "Thuế VAT, thu nhập doanh nghiệp nặng (10%) Vay vốn ngân hàng rất khó khăn vì phải thế chấp bằng tài sản Giá thành cao tiêu thụ ít" (phiếu số 71)
- "Thông tin về người tiêu dùng" (phiếu số 45)
- "Cạnh tranh không lành mạnh" (phiếu số 121)
- "Cách quản lý từ công ty chủ quản" (phiếu số 134)
- "Chính sách đền bù giải toả đất" (phiếu số 151)
- "Hàng hoá nhập lậu" (phiếu số 159)
Mỗi loại hình doanh nghiệp cũng có những khó khăn có tỷ lệ cao nhất khác nhau Đối với các công ty TNHH tư nhân :
cách quản lý của nhà nước 60,0
Trong khi đó, ở khu vực các doanh nghiệp nhà nước, thì chính các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cũng than phiền khó khăn do chính chính sách nhà nước :
- những khó khăn do chính sách và
Trang 33cách quản lý của nhà nước 55,6
5 Những khó khăn trong lĩnh vực quản lý nhân sự
Riêng trong lĩnh vực quản lý nhân sự, các nhà doanh nghiệp cho biết những khó khăn mà họ thường gặp như sau (câu hỏi 15, có thể chọn tối đa 3 khó khăn) :
- trình độ của nhân viên 48,4 %
- khả năng của cán bộ quản lý 33,9
- động lực làm việc của nhân viên 31,2
- thu nhập của nhân viên 24,2
- quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên 5,9
Kết quả này cho thấy một trong những thách thức lớn của tương lai phát
triển của các doanh nghiệp ở TP.HCM chính là trình độ của nhân viên và của cán
bộ quản lý, cũng như năng lực quản lý Qua phản ánh trên báo chí trong thời gian
qua, chúng ta đều biết là lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp cho lực lượng lao động hiện nay còn rất yếu kém và mất cân đối Trong khi đó, đối với lĩnh vực quản lý, ngành quản trị học và ngành quản trị xí nghiệp tuy đã được nhiều đại học và trung tâm tổ chức mở lớp, nhưng so với yêu cầu của sự phát triển thì chắc hẳn vẫn chưa đáp ứng đủ Mặt khác, cho đến nay, cũng mới chỉ có một số công ty lớn quan tâm tới nhu cầu đào tạo cán bộ quản lý của mình.12
6 Dự định mở rộng qui mô kinh doanh
Được hỏi là "có dự định mở rộng thêm qui mô hoạt động của công ty" trong vòng 5 năm tới hay không, các nhà doanh nghiệp trả lời như sau (câu hỏi 6):
- có dự định, nhưng chưa biết có làm được hay không 21,0
Tỷ lệ có dự định mở rộng qui mô khá cao (64 %) có thể cho phép chúng ta
dự đoán tiềm năng phát triển hoạt động kinh doanh trong những năm tới là khả
12
Xem thêm Yến Dung, "Khi doanh nghiệp đầu tư đào tạo cán bộ quản lý", Thời báo Kinh tế
Sài Gòn, số ra ngày 30-9-2004, trang 32-33
Trang 34quan Tuy nhiên, nếu đi vào chi tiết theo từng loại hình doanh nghiệp, thì tình hình tỏ ra có vẻ thận trọng hay ngần ngại hơn nơi khu vực kinh doanh tư nhân (chỉ có 55 % "có dự định, và sẽ làm", trong khi tỷ lệ này nơi doanh nghiệp nhà nước là 85 % và doanh nghiệp có vốn nước ngoài là 70 %), như chúng ta thấy trong bảng 21
Bảng 21 "Trong vòng 5 năm tới, ông/bà có dự định mở rộng thêm qui mô hoạt động của công ty hay không ?" (câu hỏi 6)
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
- có dự định, và sẽ làm 68 20 23 7 118 55,3% 87,0% 85,2% 70,0% 64,5%
- có dự định, nhưng chưa 33 1 3 2 39 biết có làm được hay không 26,8% 4,3% 11,1% 20,0% 21,3%
- chưa dự định 22 2 1 1 26 17,9% 8,7% 3,7% 10,0% 14,2%
Tổng cộng 123 23 27 10 183 100,0% 100,0% 100,0% 100,0% 100,0%
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Đáng chú ý là những doanh nghiệp hiện đang có sản phẩm xuất khẩu có tỷ
lệ dự định mở rộng qui mô hoạt động nhiều hơn so với những doanh nghiệp chỉ tiêu thụ hàng hóa trên thị trường nội địa (xem bảng 22)
Bảng 22 Dự định mở rộng qui mô hoạt động của công ty (câu hỏi 6), phân tổ theo câu hỏi 42 (có sản phẩm xuất khẩu)
Câu hỏi 6
Câu 42 Công ty có sản phẩm xuất khẩu
Tổng cộng
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
C Ý chí kinh doanh và khả năng tổ chức hoạt động kinh doanh
1 Ý chí kinh doanh
Qua khảo sát các câu hỏi điều tra, chúng tôi nhận thấy một trong những
đặc điểm nổi bật của nhà doanh nghiệp hiện nay là có ý chí kinh doanh mạnh mẽ
và rõ rệt, nhất là nơi nhà doanh nghiệp tư nhân
Khi được hỏi rằng "theo ông/bà, một nhà doanh nghiệp lý tưởng phải là người như thế nào ?" (câu hỏi 28), có 70 % trả lời đó là người "có ý chí", đứng cao vào hàng thứ hai trong các phẩm chất mà họ chọn lựa (chúng ta sẽ trở lại với kết quả của câu hỏi này ở phần sau)
Trang 35Phần lớn các nhà doanh nghiệp đều là những người không cho rằng "giầu nghèo là do số phận" (67 % không đồng ý) (câu hỏi m1), và cũng không cho rằng
"trong cuộc đời, thành công hay thất bại là do cái số của mỗi người" (71 % không đồng ý) (câu hỏi m3) Nói cách khác, họ xác định điều quan trọng nhất là nỗ lực của chính bản thân
Ý chí kinh doanh cũng được thể hiện khi họ trả lời cho câu hỏi rằng
"ông/bà có suy nghĩ hoặc mong muốn gì khi quyết định đảm nhiệm vị trí lãnh đạo doanh nghiệp hiện nay ?" (câu hỏi 26) (được chọn tối đa ba ý) :
- muốn làm việc phù hợp với khả năng chuyên môn 57,0 %
- muốn đóng góp một cái gì đó có ích cho xã hội 52,7
So sánh giữa các khu vực kinh tế, chúng ta có thể nhận thấy ý chí kinh
doanh được bộc lộ nơi các nhà doanh nghiệp tư nhân rõ rệt hơn hẳn so với các nhà quản lý doanh nghiệp nhà nước Ý kiến được các doanh nhân tư nhân chọn
nhiều nhất là "muốn tạo dựng sự nghiệp riêng" (63 %) ; tỷ lệ này nơi các giám đốc công ty nhà nước chỉ có 7 % Mặt khác, nơi khu vực nhà nước, điều cũng dễ hiểu là câu trả lời nổi lên hàng đầu là "do sự phân công của nhà nước" (74 %) (xem bảng 23)
Bảng 23 "Ông/bà có suy nghĩ hoặc mong muốn gì khi quyết định đảm nhiệm vị trí lãnh đạo doanh nghiệp hiện nay ?" (câu hỏi 26) (được chọn tối đa ba ý)
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
- do nảy ra ý tưởng kinh 22 4 1 1 28 doanh 17,9% 17,4% 3,7% 10,0% 15,3%
- kế tục truyền thống gia 15 3 2 1 21 đình 12,2% 13,0% 7,4% 10,0% 11,5%
- muốn đóng góp một cái gì 58 11 19 7 95
đó có ích cho xã hội 47,2% 47,8% 70,4% 70,0% 51,9%
Trang 36Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
- do sự phân công của nhà 1 7 20 6 34 nước 0,8% 30,4% 74,1% 60,0% 18,6%
Tổng cộng 123 23 27 10 183 100,0% 100,0% 100,0% 100,0% 100,0%
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Chúng ta thấy là nơi khu vực tư nhân, chuyện "muốn kiếm được nhiều tiền" (30 %) cao hơn so với khu vực nhà nước (0 %) hoặc cổ phần (22 %), nhưng
có phần thấp hơn so với khu vực có vốn nước ngoài (40 %) Sau thời kỳ đổi mới, việc muốn làm giàu đã trở thành một chuyện hoàn toàn chính đáng và bình thường Tuy vậy, những động lực nổi trội nơi nhà doanh nghiệp tư nhân vẫn là ba yếu tố đáng chú ý như sau :
- muốn làm việc phù hợp với khả năng chuyên môn 55,3
- muốn đóng góp một cái gì đó có ích cho xã hội 47,2
Nhìn chung, những động lực cá nhân được phát biểu và thể hiện rõ rệt nơi
các nhà doanh nghiệp tư nhân Trong khi đó, ngược lại, nơi các nhà quản lý doanh nghiệp nhà nước, mặc dù có tỷ lệ muốn đóng góp cho xã hội cao hơn (70
%), nhưng chúng tôi nghĩ rằng một khi không có những động lực cá nhân (thể hiện năng động tính chủ quan) gắn với bản thân sự nghiệp của công ty (như không xuất phát từ chỗ nảy ra ý tưởng kinh doanh như nhiều nhà doanh nghiệp tư nhân, không muốn tạo dựng sự nghiệp riêng, cũng không muốn có nhiều tiền – ít
ra là theo những câu trả lời chính thức của họ, mà chỉ nhấn mạnh lý do chính để đảm nhiệm vị trí giám đốc hiện nay là do sự phân công của nhà nước), thì e rằng
ý chí làm việc cũng như ý chí kinh doanh khó lòng mà mạnh mẽ bằng doanh nhân tư nhân
Riêng nơi các doanh nhân thuộc Câu lạc bộ 2030, các động lực cá nhân lại còn bộc lộ mạnh hơn nữa so với các doanh nhân tư nhân trong mẫu điều tra ngẫu nhiên chung Đối với các nhà doanh nghiệp trẻ này, ý chí "muốn tạo dựng sự nghiệp riêng" lên tới 80 %, kế đó là muốn đóng góp cho xã hội (48 %), muốn làm việc hợp với khả năng (42 %), nhưng rất đáng chú ý là số nói rằng do "nảy ra ý tưởng kinh doanh" lên tới 30 %, cao hơn hẳn so với các nhà doanh nghiệp tư nhân trong mẫu điều tra ngẫu nhiên (18 %)
Cũng cần ghi nhận là có một số nhà doanh nghiệp còn bổ sung một số câu trả lời cụ thể không kém phần đáng quan tâm như :
- "Tạo được việc làm cho nhiều người" (phiếu số 38)
- "Muốn tạo công ăn việc làm cho người khác" (phiếu số 74)
- "Muốn tự mình kinh doanh" (phiếu số 194)
- "Yêu âm nhạc" (phiếu số 36, một doanh nghiệp chuyên kinh doanh nhạc
cụ và giảng dạy âm nhạc)
- "Muốn khẳng định giá trị thẩm mỹ về thiết kế ở Việt Nam" (phiếu số
223, một doanh nghiệp chuyên về thiết kế và design)
- "Đam mê môn khoa học quản lý" (phiếu số 120)
Trang 37- "Đam mê ngành kinh doanh" (phiếu số 257)
- "Yêu thích công việc" (phiếu số 204)
- "Muốn chứng tỏ chính mình" (phiếu số 274)
- "Có thêm được mối quan hệ xã hội" (phiếu số 278)
2 Khả năng tổ chức hoạt động kinh doanh
Lẽ tất nhiên, khuôn khổ của cuộc điều tra này không cho phép đi sâu vào chi tiết trong lĩnh vực quản trị kinh doanh của công ty Tuy vậy, chúng tôi cũng vẫn tìm hiểu một vài chỉ tiêu trong lĩnh vực này, nhằm thử khảo sát và đo lường trình độ tổ chức khoa học trong hoạt động kinh doanh của nhà doanh nghiệp
a Lập kế hoạch
Được hỏi là công ty có lập kế hoạch trong năm 2003 hay không, 42 % trả lời là có xây dựng "kế hoạch chi tiết và cụ thể", 41 % nói là chỉ xây dựng "kế hoạch tổng quát mà thôi", và 15 % nói là "công ty không lập kế hoạch năm 2003" Chúng ta hãy xem bảng phân tích câu hỏi này theo các loại hình doanh nghiệp
Bảng 24 "Trong năm 2003 vừa qua, nếu công ty ông/bà đã có lập kế hoạch, thì đó là kế hoạch theo dạng nào ?" (câu hỏi 4)
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
- kế hoạch chi tiết 41 11 17 8 77
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Điều có thể thấy rõ qua bảng 24 là có 20 % các công ty TNHH không lập
kế hoạch trong năm ngoái, 45 % chỉ lập kế hoạch tổng quát mà thôi, trong khi các công ty nhà nước, nhất là các công ty có vốn nước ngoài, có tỷ lệ đã xây dựng kế hoạch chi tiết cao hơn hẳn so với các công ty TNHH
Dĩ nhiên việc xây dựng kế hoạch là một chuyện, còn kế hoạch đó có khả thi hay không và có được hoàn thành hay không lại là chuyện khác Mặt khác, chúng tôi cũng biết là bản thân hành vi xây dựng kế hoạch chưa phải là chỉ tiêu cần và đủ để đánh giá trình độ quản lý khoa học của công ty, bởi lẽ điều còn quan
trọng hơn nhiều là công ty có xác lập được một chiến lược kinh doanh cho mình
hay không – điều mà hiện nay nhiều người cho là còn yếu nơi chính các doanh nghiệp nhà nước Kết quả câu hỏi 3 trình bày ở phần trên đã cho thấy chỉ có 28 % nhà doanh nghiệp cho biết thành công lớn nhất của công ty trong 5 năm qua là xây dựng được "chiến lược kinh doanh khả thi"
Tuy vậy, kết quả câu hỏi trên đây ít ra cũng cho chúng ta thấy một thực tế
là phần lớn các công ty tư nhân hiện nay, đa số vốn thuộc qui mô vừa và nhỏ như
Trang 38đã nói ở phần đầu bản phúc trình, dường như chưa tiến hành hoạt động kinh doanh một cách bài bản và khoa học, ít nhất bắt đầu bằng một bản kế hoạch được tính toán và xây dựng một cách chi tiết cho hoạt động của cả năm
Đối chiếu kết quả câu hỏi về việc lập kế hoạch này với kết quả câu hỏi về
dự định mở rộng qui mô hoạt động của công ty trong vòng 5 năm tới (câu hỏi 6), chúng ta nhận thấy phần lớn những doanh nghiệp có lập kế hoạch đều có dự tính khuếch trương hoạt động trong tương lai, nhất là những doanh nghiệp đã có lập
kế hoạch chi tiết (77 %) (xem bảng 25) Điều này cho thấy những nhà doanh nghiệp nào làm việc có phương pháp, có tổ chức, thì thường có tầm nhìn dài hạn hơn, chiến lược hơn
Kết quả này cũng gián tiếp kiểm nghiệm lại dự định mở rộng qui mô kinh doanh của nhà doanh nghiệp : những người nói là sẽ mở rộng qui mô phần lớn đều là những người có cân nhắc, tính toán, chứ không phải họ nói theo cảm tính hay võ đoán Mặt khác, lẽ tất nhiên dự định tương lai cũng phải xuất phát từ hiện thực của ngày hôm nay : chúng ta thấy những người có dự định phát triển hoạt động trong 5 năm tới phần lớn cũng là những người đánh giá tình hình làm ăn của công ty năm nay khá hơn năm ngoái (xem bảng 26)
Bảng 25 Dự định mở rộng qui mô hoạt động của công ty trong vòng 5 năm tới (câu hỏi 6), phân tổ theo câu hỏi số 4 (về việc lập kế hoạch năm 2003)
Câu hỏi 4 Lập kế hoạch năm 2003
Câu hỏi 6 Kế hoạch
chi tiết
Kế hoạch tổng quát
Khg lập năm 2003 Ý khác
Tổng cộng
- có dự định, và sẽ làm 61 49 9 1 120 77,2% 63,6% 33,3% 33,3% 64.5%
- có dự định, nhưng chưa 11 17 10 1 39 biết có làm được hay không 13,9% 22,1% 37,0% 33,3% 21.0%
- chưa dự định 7 11 8 1 27 8,9% 14,3% 29,6% 33,3% 14.5%
Tổng cộng 79 77 27 3 186 100,0% 100,0% 100,0% 100,0% 100,0%
Hệ số Gamma = 0,438 (mức độ ý nghĩa : 0,000)
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Bảng 26 Dự định mở rộng qui mô hoạt động của công ty trong vòng 5 năm tới (câu hỏi 6), phân tổ theo câu hỏi số 1 (về tình hình làm ăn của công ty hiện nay)
Câu hỏi 1 Tình hình làm ăn của công ty hiện nay Câu hỏi 6 khá hơn cũng vậy kém hơn Tổng
Trang 39b Hoạt động xúc tiến thương mại
Trong bối cảnh ngày càng cần tăng cường năng lực hoạt động để bước vào hội nhập và cạnh tranh trong thị trường khu vực và thị trường thế giới (có 34 % công ty trong mẫu điều tra đang có sản phẩm xuất khẩu), chúng tôi đã hỏi thử về những cách thức mở rộng các hoạt động hợp tác quốc tế của công ty Kết quả cho thấy phần lớn các doanh nghiệp đều chưa có nhiều biện pháp đa dạng nhằm bước vào thị trường thế giới, mà nếu có phần lớn chỉ dừng lại ở việc giao dịch với các đối tác quốc tế mà thôi, và hiệu quả thu về cũng không được bao nhiêu, vì số trả lời đạt được thành công rất thấp (xem bảng 27) Điều này cho thấy đa số các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa chuẩn bị đủ cho quá trình hội nhập, và có thể nói đây cũng là một dấu hiệu phản ánh nguy cơ tụt hậu tiềm ẩn trong tương lai kinh tế của nước ta
Bảng 27 "Xin ông/bà vui lòng cho biết về những cách thức mở rộng các hoạt động hợp tác quốc tế của công ty" (câu hỏi 19)
Cách thức mở rộng
hợp tác quốc tế
Chưa làm
Có làm,
ít kết quả
Có làm, kết quả khá
Thành công lớn
a Tự tổ chức khảo sát thị trường quốc tế 55,9% 17,7% 21,5% 3,8%
b Tham gia trong đoàn xúc tiến thương mại của
nhà nước, hiệp hội
72,0% 14,0% 10,8% 3,2%
c Mở gian hàng tại hội chợ quốc tế 76,9% 11,3% 9,1% 1,6%
d Giao dịch với các đối tác quốc tế (tìm gặp trực
tiếp hoặc qua thư từ, Internet )
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Bảng 27 trên đây cho thấy số doanh nghiệp tìm đến các tổ chức tư vấn khá
ít, chỉ khoảng 27 % Trong khi đó, kết quả một câu hỏi khác cũng đưa ra một tỷ
lệ tương tự : 29 % thường tìm đến các công ty tư vấn (câu hỏi 9) Chúng ta hãy xem kết quả câu hỏi này (tìm đến ai để hỏi ý kiến tư vấn mỗi khi doanh nghiệp gặp khó khăn) :
- tổ chức xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh 11,3
- những người thân cận trong công ty 37,6
- những người thân hữu trong giới làm ăn 57,5
Trang 40những định chế chính thức như công ty tư vấn (29 %), cơ quan nhà nước (33 %), hiệp hội doanh nhân (16 %) hay các tổ chức xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh (11 %) đều có tỷ lệ được tham vấn ít hơn
Một điều cũng cần ghi nhận là trường đại học vốn là một nơi đáng lý ra có thể tư vấn hoặc hỗ trợ giải quyết nhiều vấn đề của doanh nghiệp (về mặt kỹ thuật, công nghệ, hoặc quản trị xí nghiệp…) lại có một tỷ lệ rất thấp (4 %) – điều này cũng gián tiếp phản ánh tình trạng cách ly hiện nay giữa khu vực đại học và khu vực nghiên cứu với thế giới sản xuất-kinh doanh mà nhiều người đã lên tiếng lâu nay
Mặt khác, giới doanh nhân đến với báo chí cũng rất hãn hữu (4 %) – ngoài tâm lý sợ tiếp xúc với báo chí như nhiều nhà doanh nghiệp đã nói lâu nay, điều này còn cho thấy một thực tế là phần lớn các tờ báo hiện nay chưa thực sự hỗ trợ bao nhiêu một cách thiết thực và có hiệu quả cho hoạt động kinh doanh
Bảng phân tích kết quả câu hỏi này theo loại hình doanh nghiệp cho thấy
có nhiều khác biệt có ý nghĩa
Bảng 28 "Ông/bà thường tìm đến ai để hỏi ý kiến tư vấn mỗi khi gặp những khó khăn lớn trong hoạt động kinh doanh ?" (được chọn tối đa 3 nơi thường hỏi nhất) (câu hỏi 9)
Loại hình doanh nghiệp
Công ty TNHH
Công ty
cổ phần
DN nhà nước
DN có vốn nước ngoài
Tổng cộng
- công ty tư vấn 25 11 9 7 52 20,3% 47,8% 33,3% 70,0% 28,4%
- cơ quan Nhà nước 26 12 14 8 60 21,1% 52,2% 51,9% 80,0% 32,8%
- tổ chức xúc tiến và 17 2 1 1 21
hỗ trợ kinh doanh 13,8% 8,7% 3,7% 10,0% 11,5%
- những người thân cận 50 7 11 2 70 trong công ty 40,7% 30,4% 40,7% 20,0% 38,3%
- những người thân hữu 73 11 16 5 105 trong giới làm ăn 59,3% 47,8% 59,3% 50,0% 57,4%
- hiệp hội doanh nhân 18 6 4 2 30 14,6% 26,1% 14,8% 20,0% 16,4%
- gia đình 17 - - - 17
- người khác 12 6 2 2 22 9,8% 26,1% 7,4% 20,0% 12,0%
- không trả lời 2 - - - 2
Tổng cộng 123 23 27 10 183 100,0% 100,0% 100,0% 100,0% 100,0%
Nguồn : Cuộc khảo sát doanh nhân tháng 5-2004 của đề tài
Bảng 28 cho thấy các nhà doanh nghiệp thuộc khu vực công ty nhà nước, công ty cổ phần, và nhất là công ty có vốn nước ngoài, là những người đã sử dụng nhiều nhất các định chế chính thức như công ty tư vấn hay cơ quan nhà