1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh lớp 2 giải toán bằng sơ đồ đoạn thẳng

24 126 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 492 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp này các em đã được làm quen ngay từ khi học lớp một.Càng lên lớp trên, các dạng toán có lời văn càng phong phú hơn, các đại lượng có trong bài toán đa dạng và phức tạp hơn nê

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ:

I Lý do:

Trong chương trình học ở Tiểu học, môn toán giữ một vị trí rất quantrọng, nó giúp học sinh:

- Có những kiến thức cơ bản, nền tảng về toán học

- Hình thành những kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải các bài toán cónhững ứng dụng thiết thực trong cuộc sống

- Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lý

và diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện và cách giải quyết các vấn đề đơngiản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tậptoán; góp phần bước đầu hình thành phương pháp học tập và làm việc có kếhoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo

Là một cán bộ quản lý trường Tiểu học , bản thân tôi nhận thấy nội dung

và yêu cầu cơ bản của môn Toán được sắp xếp có chủ định từ thấp đến cao, từđơn giản đến phức tạp Ngoài việc cung cấp những kiến thức cơ bản về số học,các yếu tố hình học, đo đại lượng, giải toán, môn Toán còn giúp học sinh pháttriển trí thông minh, tư duy độc lập, sáng tạo, kích thích óc tò mò, tự khám phá

và rèn luyện một phong cách làm việc khoa học

Giải toán nói chung và giải toán ở bậc Tiểu học nói riêng là hoạt độngquan trọng trong quá trình dạy và học Toán, nó chiếm khoảng thời gian tươngđối lớn trong nhiều tiết học cũng như toàn bộ chương trình Thông qua việc giảitoán giúp học sinh ôn tập, hệ thống hoá, củng cố các kiến thức và kỹ năng đãhọc Đối với học sinh Tiểu học, để giải bài toán có lời văn, chúng ta cần rấtnhiều phương pháp để cho các em dễ nhìn, dễ hiểu hơn cả là dùng sơ đồ đoạnthẳng Phương pháp này các em đã được làm quen ngay từ khi học lớp một.Càng lên lớp trên, các dạng toán có lời văn càng phong phú hơn, các đại lượng

có trong bài toán đa dạng và phức tạp hơn nên việc dùng sơ đồ đoạn thẳng sẽgiúp các em giải bài toán được một cách dễ dàng hơn

Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng là một phương pháp giải toán mà trong đómối quan hệ giữa các đại lượng đã cho và đại lượng phải tìm trong bài toán đượcbiểu diễn bởi các đoạn thẳng Việc lựa chọn độ dài của các đoạn thẳng để biểudiễn các đại lượng và sắp xếp thứ tự của các đoạn thẳng trong sơ đồ hợp lý sẽgiúp học sinh tìm được lời giải một cách tường minh Phương pháp sơ đồ đoạnthẳng dùng để giải rất nhiều dạng toán khác nhau, chẳng hạn các bài toán đơn,các bài toán hợp và một số dạng toán có lời văn điển hình

Việc giải toán bằng sơ đồ đoạn thẳng không phải là vấn đề đơn giản có thểlàm ngay được mà thực tế tỉ lệ học sinh biết cách giải toán bằng sơ đồ đoạnthẳng còn thấp, nhiều khi cách biểu thị bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng chưachính xác nên khi nhìn vào sơ đồ chưa toát lên được nội dung cần biểu đạt

Xuất phát từ những lý do trên tôi mạnh dạn đưa ra “Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh lớp 2 giải toán bằng sơ đồ đoạn thẳng”.

Trang 2

2 Muc đích:

Trên cơ sở tìm hiểu về các tài liệu có liên quan tới môn toán ơ lớp 2 nhất là cácbài toán giải bằng phương pháp sơ đồ đoạn thẳng ở Tiểu học và qua thực tếdạy học để:

2.1 Tìm hiểu kĩ về mục tiêu nội dung, cấu trúc của mạch kiến thức các bài toángiải bằng phương pháp sơ đồ đoạn thẳng ở Tiểu học

2.2 Từ đó phát hiện những điểm mới của nội dung mạch kiến thức về giải cácbài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng ở trường Tiểu học

2.3 Trên cơ sở đó phát hiện những khó khăn, những thuận lợi của giáo viên,học sinh trong quá trình dạy giải các bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng ở trườngTiểu học

2.4 Đề xuất một số giải pháp để dạy giải các bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng ởtrường Tiểu học

3/ Đối tượng:

-Các bài toán có lời văn lớp 2 được giải bằng phương pháp sơ đồ đoạn thẳng.4/ Phương pháp:

4.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu cơ sở phương pháp luận, các tài liệu, văn kiện của Đảng và Nhànước vận dụng các hoạt động dạy học môn Toán Tìm tòi cái mới và hoàn thiện.Cái mới ở đây có nhiều mức độ, có thể đó là sự tổng hợp khái quát từ cái cũnhưng có thể sàng lọc cái mới từ những cái cũ bằng cách nêu bản chất từ cái cũ.4.2 Phương điều tra: Sử dụng để tập hợp, thu thập Tìm hiểu thực trạng, xácnhận một số vấn đề cần thiết để dậy học có hiệu quả

4.3 Phương pháp thực nghiệm: Dựa trên cơ sở để tìm hiểu tài liệu và nghiêncứu kĩ càng để lập kế hoạch bài học tỉ mỉ, để dậy thực nghiệm một vài tiết “ dạygiải các bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng ở trường Tiểu học” tại lớp 2 TrườngTiểu Học Đông Tân Thành phố Thanh Hóa Từ đó rút kinh nghiệm và bổ sungcho hoàn chỉnh để dậy học tốt hơn

B/ NỘI DUNG

1/ CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Cũng như khoa học khác, Toán học nghiên cứu một số mặt xác định của thếgiới vật chất, toán học có nguồn gốc thực tiễn, vật chất, sự phát triển của xã hộiloài người cũng chỉ rõ rằng các khái niệm đầu tiên của toán học như khái niệm

về số tự nhiên; các hình hình học đã nảy sinh do nhu cầu thực tiễn của conngười lao động ( đếm đo đạc ) Mục tiêu của môn toán bậc Tiểu Học đã nêu :Giáo dục môn toán ở Tiểu học nhằm giúp cho học sinh có những kiến thức banđầu về số học các số tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản và một sốyếu tố hình học đơn giản Hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành tính, đolường giải bài toán và có những ứng dụng thiết thực trong đời sống

Bước đầu hình thành và phát triển năng lục trừu tượng hóa, khái quát hóa, kíchthích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập môn toán, phát triển hợp lý khả năng

Trang 3

suy luận và diễn đạt đúng các suy luận đơn giản ; góp phần rèn luyện phươngpháp học tập, làm việc khoa học, linh hoạt, sáng tạo.

Cũng như các môn học khác ơ bậc Tiểu Học, môn toán góp phần hình thành

và rèn luyện các phẩm chất , các tính rất cần thiết của con người lao động trong

xã hội hiện đại

Phương pháp dạy học toán ở tiểu học : Phương pháp dạy học toán là cách thứchoạt đông của giáo viên và học sinh nhằm đạt được mục tiêu dạy học toán,phương pháp dạy học toán ở Tiểu Học là sự vận dụng các phương pháp dạyhọc toán nói chung cho phù hợp với mục tiêu, nội dung, các điều kiện dạy học

Do đặc điểm về nhận thức của học sinh Tiểu học, trong quá trình dạy học toán,giáo viên thường phải vận dụng linh hoạt các phương pháp trực quan, thựchành- rèn luyện, gơi mở, vấn đáp, giảng giải – minh họa Mức độ vận dụngtừng phương pháp trên từng loại bài học, ở từng lớp, từng giai đoạn dạy họccũng không giống nhau Hiện nay ở Tiểu Học đang tiến hành đổi mới phươngpháp dạy học Các phương pháp nêu trên cũng rất cần thiết, chúng được vậndụng theo hướng tích cực hóa các hoạt động học tập của học sinh để phát triểnnăng lực học tập toán của từng học sinh

Trong quá trình dạy học toán, giáo viên là người tổ chức và hướng dẫn hoạtđộng của học sinh, mọi học sinh đều hoạt động học tập để phát triển năng lựccủa cá nhân Giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh huy động vốn hiểu biết vàkinh nghiệm của bản thân để tự học chiếm lĩnh tri thức mới Rồi vận dụng cáctri thức mới đó trong thực hành Vì vậy giáo viên nói ít giảng giải ít, làm mẫu ítnhưng lại thường xuyên làm việc với từng nhóm học sinh hoặc từng học sinh.Cách làm như vậy đòi hỏi giáo viên phải biết các tổ chức các hoạt động của họcsinh , đồng thời phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để

có thể đáp ứng kíp thời những tình huống có thể xẩy ra trong quá trình hoạtđộng học tạp của học sinh Khi tổ chức vác hướng dẫn các hoạt động học tập củahọc sinh và giáo viên vận dụng một cách hợp lí mặt tích cực của các phươngpháp dạy học cũ để giúp học sinh huy động các kiến thức của mình tham gia tíchcực vào các hoạt động như : quan sát, điều tra, đóng vai , thảo luận Từ đó

mà phát hiện ra và tham gia vào việc giải quyết các tình huống có thể xảy ratrong đời sống ở mỗi địa phương mỗi trường , mỗi lớp , tùy điều kiện và hoàncảnh cụ thể đều có thể tự xác định mức độ, cách thức thực hiện phương phápdạy học cho phù hợp

Nền giáo dục hiện đại không chỉ cải tiến nội dung dạy học hoặc chỉ cải tiếnphương pháp dạy học Toàn bộ giáo dục hiện đại cả nội dung và phương phápcủa nó phải tạo ra sự phát triển tự nhiên của trẻ em hiện đại Nền giáo dục hiệnđại xem trẻ em là nhân vật trung tâm, là linh hồn của trường Phải tiến hànhgiáo dục trẻ bằng phương pháp nhà trường Vai trò của nội dung dạy học vàphương pháp dạy học đặc biệt quan trọng Nó coa ảnh hưởng , tác động đénnhận thức của học sinh tiểu học Học sinh tiểu học tri giác còn mang tính đạithể, ít vào chi tiết và mang tính không chủ động Do đó , các em phân biệt

Trang 4

những đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm có khi còn lẫn lộn ở cáclớp đầu cấp, tri giác của các em còn gắn với hành động, cới hành động thực tiễncủa trẻ Tri giác với sự vật là phải làm cái gì đó với sự vật: cầm nắm, sờ mó, sờ

mó sự vật ấy Tính cảm xúc thể hiện rất rõ khi các em tri giác Vì thế cái trựcquan cái rực rỡ , cái sinh động được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tíchcực cho trẻ Tri giác và đánh giá thời gian, không gian của các em còn hạn chế

Về tri giác độ lớn các em gặp khó khăn khi phải quan sát các vật có kích thướclớn hoặc quá nhỏ Tri giác không tự nó phát triển được Trong quá trình họctập, khi tri giác trở thành hoạt động của mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp vàsâu sắc, trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp và sâu sắc,trở thành hoạt động có phân tích , có phân hóa thì tri giác sẽ mang tính chất của

sự quan sát có tổ chức Trong sự phát triển của tri giác , vai trò của giáo viênTiêu học là rất lớn ở lứa tuổi này, chú ý có chủ động của các em còn yếu, khảnăng điều chỉnh chú ý một cách có ý chí chưa mạnh Sự chú ý của học sinhđòihỏi động cơ gần thúc đẩy Sự tập trung chú ý của học sinh lớp một , lớp 2 cònyếu, thiếu bền vững Điều này có căn nguyên là quá trình ức chế ở bộ não củacác em còn yếu Do vậy, chú ý của các em còn bị phân tán, các em sẽ quênnhững điều cô giáo dặn cuối buổi học, bỏ sót chữ cái trong từ Sự chú ý củahọc sinh chỉ tập trung và duy trì sự chú ý liên tục trong khoảng 30-40 phút Sựchú ý còn phụ thuộc vào nhịp độ học tập Nhịp độ quá nhanh hay quá chậm đềukhông thuận lợi cho tính bền vững và sự tập trung chú ý

Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ơ lứa tuổi này tương đối chiếm

ưu thế nên trí nhớ trực quan- hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ gic Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật hiện tượng cụ thể nhanh hơntốt hơn những định nghĩa , những lời giải thích dài dòng nhiệm vụ của giáoviên là gây cho học sinh tâm thế để ghi nhớ, hướng dẫn các em thủ thật ghi nhớtài liệu học tập, chỉ cho các em đâu là điểm chính điểm quan trọng của bài họctránh để các em ghi nhớ máy móc

lô-Tượng tượng là một trong quá trình nhận thức quan trọng Tưởng tượng của họcsinh Tiểu học được hình thành và phát triển trong hoạt động học và hoạt độngkhác của các em Tưởng tượng là tái tạo từng bước hoàn thiện gắn liền vớinhững hình tường đã tri giác trước và tạo ra những hình tượng phù hợp vớinhững điều mô tả, sơ đồ cái biểu tượng của tưởng thượng, dần dần trở nênhiện thực hơn, phản ánh đúng đắn hơn nội dung các môn học Tưởng tượng củahọc sinh gắn liền với sự phát triển của tư duy và ngôn ngữ Trong dạy học ơTiểu học, giáo viên cần hình thành biểu tượng thông qua sự mô tả bằng lời nói

cử chỉ, điệu bộ của giáo viên trong các giờ lên lớp được xem là phương tiện trựcquan trong dạy học Ngôn ngữ chính xác giầu nhịp điệu tình cảm của giáo viên

là yêu cầu bắt buộc Trong dạy học giáo viên cần sử dụng đồ dùng dậy học, tàiliệu dạy học sinh động

Tư duy của trẻ mới đến trường là tư duy cụ thể bằng cách dựa vào những đặcđiểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể Hoạt động phân tích

Trang 5

tổng hợp còn sơ đẳng, học sinh ơ các lớp đầu bặc Tiểu học chủ yếu tiến hànhhoạt động phân tích trực quan hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng Họcsinh ơ cuối bặc học này có thể phân tích không cần tới những hoạt động thựctiễn đối với đối tượng đó Học sinh các lớp này có khả năng phân biệt những dấuhiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ Tóm lạiđặc điểm đối tượng tư duy của học sinh tiểu học không có ý nghĩa tuyệt đối mà

có ý nghĩa tương đối Trong quá trình học tập, tư duy của học sinh tiểu học thayđổi rất nhiều Sự phát triển của tư duy dẫm đến sự tổ chức lại một cách văn bảnquá trình nhận thức

Quá trình nhận thức của học sinh Tiểu học cũng tuân theo con đường nhận thứccủa loài người Quá trình nhận thức của trẻ cũng chuyển dần từ tính trực quan cụthể sang nhận thức có trừu tượng, khái quát Tư duy ở mức độ nhận thức caohơn những tư duy không tách rời nhận thức cảm tính Vì vậy trong dạy học ,người giáo viên cần nắm được mục tiêu, nội dung phương phát dạy học toánđồng thời nắm được đặc điểm về trình độ nhận thức của học sinh tiểu học Trên

cơ sở đó, có sự lựa chọn , phối hợp các phương pháp và hình thưc dạy học hợp

lý góp phần năng cao hiệu quả trong dạy học

II THỰC TRẠNG.

- Chúng ta biết rằng phương pháp giải toán bằng sơ đồ đoạn thẳng thườngđược dùng để giải các bài toán số học, toán liên quan đến tỉ lệ, toán suy luận lôgic Trong những bài toán đó, ta gặp các đối tượng hoặc một số nhóm đối tượngkhác nhau giữa chúng có mối quan hệ với nhau, để giải được các bài toán dạngnày người ta dùng đoạn thẳng để biểu diễn mối quan hệ giữa các đối tượng vìvậy để có được sơ đồ điều quan trọng là biết phân tích bài toán Qua nghiên cứubài dạy, tôi nhận thấy nguyên nhân dẫn đến kết quả dạy học trên là:

- Giáo viên chưa có kinh nghiệm tổ chức các hoạt động dạy học theohướng phát huy tính tích cực của học sinh, cho rằng việc vẽ sơ đồ là “quá tải”đối với học sinh lớp 2 nên còn vẽ thay cho học sinh

- Học sinh không đọc kĩ bài, thiếu suy nghĩ cặn kẽ về dữ kiện và điều kiệnđưa ra trong bài toán

- Học sinh chưa thiết lập được mối quan hệ giữa các yếu tố trong bài toán

để vẽ sơ đồ nên vẽ chưa chính xác và cách diễn đạt của học sinh còn hạn chế

* Từ thực trạng trên, tôi nhận thấy việc sử dụng phương pháp sơ đồ đoạnthẳng trong giải toán là cần thiết góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môntoán nói chung và môn toán lớp 2 nói riêng

- Kết quả của thực trạng

Cuối năm học 2014 - 2015, để chuẩn bị cho dạy thực nghiệm các năm họctới tôi đã cho học sinh làm một bài kiểm tra, với thời gian làm bài 20 phút

* Đề bài như sau:

Bài 1: Nhà Bình có 30 con gà, số vịt ít hơn số gà là 10 con Hỏi nhà Bình

có bao nhiêu con vịt?

Bài 2: Giải bài toán theo sơ đồ tóm tắt sau:

Tuổi anh: 12tuổi

Trang 6

* Kết quả thu được:

- Qua thực tế khảo sát chất lượng cuối năm môn toán của lớp 2B năm học

2014 - 2015 cho thấy chất lượng thấp, tỉ lệ học sinh khá, giỏi ít

III CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:

Việc ứng dụng phương pháp sơ đồ đoạn thẳng trong giải toán ở các lớplớn khi học sinh đã học các dạng toán cơ bản: tổng - hiệu, tổng - tỉ, hiệu - tỉ cóphần tương đối dễ dàng với học sinh lớp 4-5 nhưng với học sinh lớp 2 làm thếnào để học sinh hiểu và ứng dụng được là điều tôi trăn trở vì công bằng mà nóihọc sinh lớp 2 còn quá nhỏ, vốn hiểu biết còn hạn chế, thậm chí có em đặt thước

kẻ còn chưa thẳng Sau một thời gian nghiên cứu, tôi mạnh dạn đưa ra một sốgiải pháp sau:

1 Phân dạng các bài toán giải có sử dụng phương pháp sơ đồ đoạn thẳng ở lớp 2

2 Áp dụng cách dạy học tích cực để dạy học sinh giải toán bằng phương pháp sơ đồ đoạn thẳng cho các dạng toán giải trên.

3 Dạy thử nghiệm, tổ chức kiểm tra so sánh, đối chứng kết quả học tập trong 3 năm.

IV CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

1 Phân dạng các bài toán giải có sử dụng phương pháp sơ đồ đoạn thẳng ở lớp 2:

Mặc dù không có bài học riêng về phương pháp sơ đồ đoạn thẳng nhưng

ta có thể phân dạng các bài toán để có cách hướng dẫn học sinh nhận dạng bàitoán và vẽ sơ đồ chính xác Qua nghiên cứu chương trình toán 2, tôi thấy có thểđưa các bài toán giải bằng sơ đồ đoạn thẳng về các dạng sau:

1.1 Bài toán giải bằng một phép tính cộng.

Ví dụ: Hàng trên có 5 quả cam, hàng dưới có nhiều hơn hàng trên 2 quả

cam Hỏi hàng dưới có mấy quả cam? (trang 24 SGK Toán 2)

Ở bài toán này, sau khi cho học sinh tìm hiểu nắm rõ yêu cầu của đề bài, tôihướng dẫn giải như sau:

Trước tiên tôi sẽ hướng dẫn HS cách vẽ sơ đồ đoạn thẳng

Hàng trên có 5 quả cam biểu thị 1 đoạn thẳng tương ứng với 5 quả cam:Hàng dưới có nhiều hơn hàng trên 2 quả cam nên ta biểu thị 1 đoạn thẳng nhưtrên rồi vẽ thêm 1 đoạn tương ứng 2 quả nữa:

Ta vẽ sơ đồ đoạn thẳng biểu thị nội dung bài toán như sau: (vừa vẽ vừanêu cách vẽ)

Trang 7

số cam của hàng dưới bằng phép tính: 5 + 2 = 7

Trình bày bài giải như sau:

Số quả cam hàng dưới là:

5 + 2 = 7 (quả) Đ

áp số: 7 quả.

1.2 Bài toán giải bằng một phép tính trừ.

Ví dụ: Vườn nhà Mai có 17 cây cam, vườn nhà Hoa có ít hơn vườn nhà

Mai 7 cây Hỏi vườn nhà Hoa có mấy cây cam?

Hướng dẫn giải:

Ta vẽ sơ đồ đoạn thẳng biểu thị nội dung bài toán:

Vườn nhà Mai:

Vườn nhà Hoa:

Nhìn vào sơ đồ trên ta thấy: Vườn nhà Hoa có ít cam hơn vườn nhà Mai

là 7 cây Vậy số cây cam vườn nhà Hoa được tính như sau:

Số cam vườn nhà Hoa là:

17 - 7 = 10 ( quả)

1.3 Bài toán giải bằng một phép tính nhân.

Ví dụ: Đội văn nghệ lớp 2A có 6 bạn nam Số bạn nữ gấp hai lần số bạn

nam Hỏi đội văn nghệ có bao nhiêu bạn nữ?

Nhìn vào sơ đồ đoạn thẳng ta dễ dàng thấy điều kiện bài toán là: Một lần

là sáu bạn nam Số bạn nữ bằng hai lần số bạn nam (tức bằng 2 lần của 6 bạnnam) Từ đó ta tìm được phép tính:

Số bạn nữ là:

6 2 = 12 ( bạn)

1.4 Bài toán giải bằng một phép tính chia

Ví dụ: Có 18 lá cờ chia đều cho 2 tổ Hỏi mỗi tổ được mấy lá cờ ?

Trang 8

Nhìn vào sơ đồ đoạn thẳng ta thấy rõ 2 lần (ứng với 2 đoạn thẳng) là 18 lá

cờ, vậy một lần (ứng với 1 đoạn thẳng) sẽ là số lá cờ của mỗi tổ nên dễ dàng tìmđược phép tính:

Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán.

Việc tìm hiểu nội dung bài toán (đề toán) thường thông qua đọc đề bài.(dù bài toán cho dưới dạng có lời văn hoàn chỉnh hoặc bằng dạng tóm tắt sơ đồ).Học sinh cần phải đọc kỹ, hiểu rõ đề toán cho biết những gì? Cho biết điều kiệngì? Yêu cầu làm gì? Từ đó học sinh xuất hiện hoạt động trí tuệ lô gíc để tìm ra cách giải bài toán

Bước 2: Tìm cách giải bài toán.

a/ Tóm tắt nội dung bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng Khi gặp những bàitoán có thể giải bằng sơ đồ đoạn thẳng như trên, tôi sẽ hướng HS tóm tắt bàitoán bằng cách vẽ đoạn thẳng một cách tỉ mỉ, từng dữ kiện, điều kiện của bàitoán

b/ Lập kế hoạch giải toán (giúp học sinh dựa vào sơ đồ đoạn thẳng đểgiải)

Bước 3: Thực hiện cách giải bài toán.

Hoạt động này bao gồm việc thực hiện đặt lời giải và các phép tính đã nêutrong kế hoạch giải toán và trình bày bài toán

Bước 4: Kiểm tra cách giải bài toán.

2.1 Bài toán giải bằng 1 phép tính cộng:

Để giúp học sinh giải bài toán này chúng ta cần rút ra cho học sinh hiểubản chất của vấn đề là “nhiều hơn” ngay từ tiết lí thuyết “Bài toán về nhiềuhơn”

Ví dụ: Tháng trước tổ em trồng được 16 cây, tháng này tổ em trồng được

nhiều hơn tháng trước 5 cây Hỏi tháng này tổ em trồng được bao nhiêu cây ?

*Hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước sau:

Bước 1: Tìm hiểu đề toán.

+ Bài toán cho biết gì? (Tháng trước tổ em trồng được 16 cây)

+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (Tháng này trồng nhiều hơn 5 cây )

Trang 9

+ Bài toán hỏi gì? (Tháng này tổ em trồng được bao nhiêu bao nhiêu cây)

Bước 2: Tìm cách giải:

Tháng trước tổ em trồng được bao nhiêu cây? (16 cây) Cô biểu thị số câytháng trước bằng một đoạn thẳng ứng với 16 cây Tháng này trồng nhiều hơntháng trước mấy cây? (trồng nhiều hơn 5 cây) Cô biểu thị số cây trồng đượctrong tháng này bằng đoạn thẳng ứng với 16 cây tháng trước và một đoạn thẳngdài hơn ứng với 5 cây nữa

+ Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng:

+ Lập kế hoạch giải: Nhìn vào sơ đồ ta thấy số cây tháng này nhiều hơn tháng trước 5 cây Để tìm xem tháng này được bao nhiêu cây ta làm thế nào?(Lấy số cây tháng trước cộng với 5 cây trồng được nhiều hơn)

Lời giải ra sao? (Tháng này tổ em trồng được số cây là…)

Bước 3: Trình bày bài giải:

Bài giải Tháng này tổ em trồng được số cây là:

16 + 5 = 21 ( cây ) Đáp số : 21 cây.

Bước 4: Kiểm tra cách giải bài toán.

Kiểm tra lời giải

Kiểm tra phép tính, kết quả

Thử lại kết quả

Lập phép tính tương ứng giữa số tìm được và các số đã cho của bài toán:

21 - 5 = 16 ; 16 + 5 = 21

Vậy đáp số đúng  ghi kết quả.

Ghi chú: Sau khi hướng dẫn xong cách giải bài toán ở ví dụ này, giáo viên

nên cho học sinh nhìn vào sơ đồ để nhận dạng bài toán

- Nhìn vào sơ đồ ta thấy cần tìm số cây ở tháng nào? (Số cây ở tháng này)

- Tháng này so với tháng trước như thế nào? (Được nhiều hơn 5 cây).Như vậy đây là bài toán thuộc dạng “nhiều hơn một số đơn vị” ở dạngtoán này từ “nhiều hơn” khi dùng trong các văn cảnh khác nhau có thể bị thayđổi một chút Chẳng hạn: Khi nói về khối lượng ta dùng từ “nặng hơn”, khi nói

về chiều dài (cao) ta dùng từ “dài hơn”, “cao hơn”

2.2 Bài toán giải bằng 1 phép tính trừ:

2.2.1 Bài toán “ít hơn một số đơn vị”.

Trang 10

Ví dụ 1: Bình cân nặng 32kg, An nhẹ hơn Bình 6kg Hỏi An cân nặng bao

nhiêu kg?

*Hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước sau:

Bước 1: Tìm hiểu đề toán.

Bài toán cho biết gì? (Bình cân nặng 32kg; An nhẹ hơn bình 6kg)

Bài toán hỏi gì? (An cân nặng mấy kg)

Lời giải ra sao? (An cân nặng là…)

Bước 3: Trình bày bài giải:

Bài giải

An cân nặng là:

32 - 6 = 26 (kg) Đáp số: 26 kg Bước 4: Kiểm tra cách giải bài toán

Kiểm tra lời giải

Kiểm tra phép tính, kiểm tra kết quả

Lập phép tính tương ứng giữa số tìm được và các số đã cho của bài toán:

26 + 6 = 32 ; 32 - 26 = 6 Vậy đáp số đúng  ghi kết quả.

Ghi chú: Sau khi hướng dẫn xong cách giải bài toán ở ví dụ 1 này, giáo

viên nên cho học sinh nhìn vào sơ đồ để nhận dạng bài toán

- Nhìn vào sơ đồ ta thấy cần tìm số nào? (Cân nặng của An)

- Bạn An so với bạn Bình như thế nào? Nhẹ hơn 6kg tức là ít hơn 6 đơn vị

Như vậy đây là bài toán thuộc dạng “ít hơn một số đơn vị” Ơ dạng toánnày từ “ít hơn” khi dùng trong các văn cảnh khác nhau có thể bị thay đổi mộtchút Chẳng hạn: Khi nói về khối lượng ta dùng từ “nhẹ hơn”; khi nói về chiều

6kg

?B×nh

Trang 11

dài (cao) ta dùng từ “ngắn hơn”, “thấp hơn”; khi nói về tuổi tác và đa số cáctrường hợp ta có thể dùng từ “kém” thay cho từ “ít hơn”.

Ví dụ 2: Đặt thành đề toán theo sơ đồ sau rồi giải bài toán đó.

Hướng dẫn học sinh cách giải.

Giáo viên hướng dẫn học sinh nhận dạng đề toán qua sơ đồ tóm tắt trên Nhìn vào sơ đồ ở cả hai trường hợp a và b ta thấy bài toán yêu cầu tìmđoạn thẳng biểu thị nào? (đoạn ngắn) tức là tìm đoạn thẳng biểu thị cho số ít hơn

 đây chính là dạng toán nào? (ít hơn một số đơn vị)

Học sinh tự đặt đề toán theo nhiều tình huống khác nhau nhưng lưu ý ởtrường hợp a không được thay đổi số liệu, còn trường hợp b thì tuỳ ý học sinh lựachọn

2.2.2 Bài toán: “Bớt một số đơn vị ở một số”.

Ví dụ 1: Hoà có 22 nhãn vở, Hoà cho bạn 9 nhãn vỡ Hỏi Hoà còn lại bao

nhiêu nhãn vở?

*Hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước sau:

Bước 1: Tìm hiểu nội dung đề toán.

Bài toán cho biết gì? ( Hoà có 22 nhãn vở; Cho bạn 9 nhãn vở)

- Bài toán yêu cầu tìm gì? (Tìm số nhãn vở còn lại của Hoà)

Bước 2: Tìm cách giải bài toán.

Hòa có bao nhiêu nhãn vở ? ( 22 nhãn vở ) Cô biểu thị số nhãn vở Hòa cóbằng sơ đồ đoạn thẳng ứng với 22 nhãn vở Hòa cho bạn mấy nhãn vở ( 9 nhãn

vở ) Cô biểu thị số nhãn vở Hòa cho bằng sơ đồ đoạn thẳng ứng với 9 nhãn vở

đã cho Bài toán yêu cầu tìm gì? (Tìm số nhãn vở còn lại ) GV chỉ vào sơ đồ vànối số nhãn vở còn lại

- Bài toán yêu cầu tìm gì? (Bài toán yêu cầu tìm số nhãn vở còn lại)

- Muốn tìm được phần nhãn vở còn lại ta làm thế nào? (Lấy 22 nhãn trừ đi

9 nhãn) có nghĩa là ta bớt ở số 22 đi 9 đơn vị

- Bài toán này thuộc dạng nào? (Bớt một số đơn vị ở một số)

Vậy bài toán này ta phải dùng lời giải thế nào? (Số nhãn vở còn lại là)

Bước 3: Trình bày bài giải :

?

4cm

?b/

9 nh·n ? nh·n vë

22 nhãn vở

Trang 12

Bài giải

Số nhãn vở còn lại của Hoà là:

22 - 9 = 13 (nhãn) Đáp số: 13 nhãn vở.

Bước 4: Kiểm tra cách giải bài toán.

Kiểm tra lời giải

Kiểm tra phép tính, kiểm tra kết quả

Lập phép tính tương ứng giữa các số đã cho và các số tìm được trong bàitoán để tìm ra đáp số

Ta có: 9 + 13 = 22 ; 22 – 9 = 13

Vậy đáp số đúng  Ghi đáp số.

Ví dụ 2: Đặt thành đề toán theo sơ đồ sau rồi giải bài toán đó.

*Hướng dẫn học sinh giải bài toán theo các bước sau:

Bước 1: (Hướng dẫn học sinh nhận dạng bài toán dựa vào sơ đồ tóm tắt

trên) Nhìn vào sơ đồ trên ta nhận xét xem đây thuộc dạng toán nào? (Bớt một sốđơn vị ở một số)

Học sinh tự đặt đề toán theo nhiều văn cảnh khác nhau Lưu ý không đượcthay đổi số liệu đã cho sẵn trên sơ đồ

Chẳng hạn ta đặt đề như sau:

Đề 1: Đàn gà để được 35 quả trứng, mẹ đã lấy 6 quả trứng để làm món

ăn Hỏi còn lại bao nhiêu quả trứng?

Đề 2: Nam có 35 quả bóng bay, Nam cho bạn 6 quả Hỏi Nam còn lại

mấy quả bóng bay?

Bước 2: Lập kế hoạch giải bài toán trên Nhìn vào sơ đồ trên ta thấy: Để

tìm được số trứng (bóng bay) còn lại là bao nhiêu quả ta làm như thế nào? (Lấytổng số trứng ban đầu trừ đi số đã làm món ăn)

Bước 3: Trình bày lời giải Bài giải

Số quả trứng (hoặc quả bóng bay) còn lại là:

35 - 6 = 29 (quả) Đáp số: 29quả

Bước 4: Kiểm tra cách giải.

Kiểm tra lời giải

Kiểm tra phép tính , kiểm tra kết quả

Thiết lập phép tính tương ứng giữa các số đã cho và các số tìm được ta có:

Ngày đăng: 16/10/2019, 09:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w