1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 2 tìm thành phần chưa biết của phép tính

21 255 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 221,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chương trình bậc Tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, việcgiải dạng toán tìm thành phần chưa biết nâng cao là để chuẩn bị cho việc giảiphương trình và bất phương trình ở

Trang 1

I MỞ ĐẦU

11 Lí do chọn đề tài

Môn Toán là một trong những môn học có vị trí quan trọng ở bậc Tiểu học.Toán học là nền tảng cho sự phát triển cho quá trình học tập ở các cấp học tiếptheo Nó có khả năng to lớn trong việc giúp học sinh phát triển các năng lực vàphẩm chất trí tuệ Việc tìm kiếm các kiến thức mới, tìm lời giải hay cho một bàitoán…có tác dụng trong việc rèn luyện cho học sinh các phương pháp trong tưduy khoa học trong học tập, trong việc giải quyết các vấn đề, biết cách quan sát,phân tích, tổng hợp, so sánh, dự đoán, suy luận…qua đó rèn luyện cho học sinhtrí thông minh sáng tạo Không những thế, môn Toán còn góp phần tích cực vàoviệc giáo dục cho các em những phẩm chất đáng quý trong học tập, lao động vàcuộc sống như: tính kỷ luật, tính kiên trì, tính chính xác, biết cảm thụ cái đẹptrong những ứng dụng phong phú của toán học, tìm ra cái đẹp của những lời giảihay…Chương trình Toán lớp 2 là một bộ phận của chương trình môn Toán tiểuhọc và là sự tiếp tục của chương trình Toán lớp 1 Chương trình này kế thừa vàphát triển những thành tựu về dạy học Toán lớp 2 ở nước ta, thực hiện nhữngđổi mới về cấu trúc nội dung để tăng cường thực hành và ứng dụng những kiếnthức mới, quan tâm đúng mức đến đổi mới phương pháp dạy học nhằm giúp họcsinh hoạt động học tập tích cực, linh hoạt, sáng tạo theo năng lực của từng họcsinh Mà mục đích của quá trình dạy học ở bậc tiểu học là cung cấp trang bị kiếnthức cơ bản về tự nhiên và xã hội cho học sinh.Mục đích đó được thực hiện quaviệc đổi mới chương trình nội dung và phương pháp dạy học nhằm nâng caochất lượng giá dục toàn diện cho thế hệ trẻ nhằm phát huy tư duy sáng tạo của

các em theo định hướng “ Phát triển giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [1] Hiện nay toàn ngành giáo dục nói chung và giáo

dục tiểu học nói riêng đang thực hiện theo hướng đổi mới PPDH theo hướngphát huy tính tích cực của học sinh

Trong chương trình bậc Tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, việcgiải dạng toán tìm thành phần chưa biết nâng cao là để chuẩn bị cho việc giảiphương trình và bất phương trình ở bậc Trung học cơ sở Trong những năm họcqua, chúng tôi tìm hiểu nghiên cứu để tìm ra những biện pháp giúp học sinh giảidạng toán tìm thành phần chưa biết, dạng toán từ cơ bản đến nâng cao đạt hiệuquả cao nhất Qua nhiều năm bồi dưỡng học sinh có năng khiếu Toán và kiểmtra thực tế chất lượng học sinh giải dạng toán tìm thành phần chưa biết từ cơ bảnđến nâng cao Mà mục tiêu của dạy học của dạy học toán lớp 2 là học sinh biếtthực hiện tìm số hạng, số trừ, số bị trừ, thừa số , số bị chia Học sinh có kĩ nănggiải toán tìm thành phần chưa biết của phép tính vẫn chưa có hiệu quả cao nhưmong muốn

Chính vì điều đó đã khiến tôi băn khoăn trăn trở thôi thúc tôi giành thời gian vậndụng khả năng vốn có của mình đi sâu nghiên cứu tìm biện pháp giúp học sinh

lớp 2 tìm thành phần chưa biết của phép tính qua đề tài “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 2 tìm thành phần chưa biết của phép tính ”.

Trang 2

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, mục đích của tôi là hướng tới là trên cơ sở đánhgiá thực trạng và mức độ thành công của việc hướng dẫn học sinh lớp 2 tìmthành phần chưa biết của phép tính để đưa ra một số biện pháp hướng dẫn họcsinh lớp 2 tìm thành phần chưa biết của phép tính

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu : Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các bàitoán tìm thành phần chưa biết của phép tính được biên soạn trong chương trìnhbậc tiểu học lớp 2 Các bài toán tìm X trong chương trình sách giáo khoa lớp 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu để tìm dữ liệu nghiên cứu viết sángkiến là phương pháp làm việc độc lập để tìm ra các vấn đề lien quan tìmthành phần chưa biết của phép tính

Phương pháp quan sát học sinh qua các bài kiểm tra để làm dữ liệudung trong các tiết kiểm tra hai lớp 2A, 2D

Phương pháp phỏng vấn học sinh đồng nghiệp để thực nghiệm và điềutra chất lượng học sinh là phương pháp giáo viên hỏi đáp học sinh và đồngnghiệp

Phương pháp thực nghiệm để xem hiệu quả của đề tài là việc áp dụngcác biện pháp của sáng kiến trong thực nghiệm sáng kiến

II NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến

Mục tiêu dạy học Toán ở tiểu học thực sự quan trọng vì là môn học công cụ

để học sinh giao tiếp và học tập các môn học khác,đối với học sinh thì học toán

và ngôn ngữ toán học rất cần thiết , đảm bảo sự cân đối và hài hòa giữa các hoạt

động giáo dục trong và ngoài lớp, trong và ngoài nhà trường Nhiệm vụ trọng

thành phần phép tính cộng trừ nhân chia yếu của môn toán Tiểu học là hìnhthành cho học sinh kĩ năng tính toán – một kĩ năng rất cần thiết trong cuộc sống,lao động và học tập của học sinh Như chúng ta đã biết, trọng tâm và hạt nhâncủa chương trình toán ở Tiểu học là nội dung Số học, trong đó thành phần phéptính cộng trừ nhân chia các số tự nhiên là một phần nội dung cơ bản, quan trọngtrong nội dung số học Để dạy tốt nội dung các số tự nhiên: trước hết giáo viêncần nắm được bản chất Toán học của những kiến thức này Cụ thể, giáo viênTiểu học phải: Hiểu đúng đắn các khái niệm, định nghĩa Toán học; có khả năngchứng minh các quy tắc, công thức, tính chất Toán học được dạy ở Tiểu học dựatrên toán học hiện đại; có khả năng giải bài tập toán ở Tiểu học tốt ( thể hiện ởkhả năng phân tích, tìm tòi; khả năng trình bày bài một cách logic, chặt chẽ và

có khả năng khai thác bài toán sau khi giải)…

Mặt khác mục tiêu của dạy học môn Toán lớp 2 nhằm giúp học sinh có thể tựrèn luyện kiến thức Toán trong chương trình, đồng thời ôn luyện và nâng caokiến thức mới, nhằm giúp học sinh tự ôn tập lý thuyết và rèn luyện, nâng cao

Trang 3

khả năng phân tích đề bài và sáng tạo trong giải toán Học sinh có ý thức tìm tòi

phương pháp giải hay hơn và say mê học toán Trong chương trình Toán lớp 2tìm thành phần chưa biết của phép tính giữ một vai trò quan trọng Thông quaviệc tìm thành phần chưa biết của phép tính các em hiểu rõ hơn về bốn phéptính, thành thạo hơn kĩ năng làm tính, giải toán của học sinh Qua việc tìm thànhphần chưa biết của phép tính học sinh rèn kĩ năng thực hiện 4 phép tính, nănglực tư duy, tính cẩn thận , óc sáng tạo, cách lập luận bài toán Đồng thời qua đógiáo viên có thể nắm bắt được đặc điểm tính cách, phát hiện ưu nhược điểm,thiếu sót về kiến thức, kĩ năng, tư duy để học sinh phát huy những mặt đạt được

và khắc phục thiếu sót của học sinh

Đặc điểm học sinh lớp 2 là còn tư duy cụ thể,các thao tác tư duy còn trựctiếp trên đồ vật cụ thể , từ thực tế học sinh chưa có tác dụng gì từ lời nói màchỉ là điểm dựa hay điểm xuất phát trong óc học sinh.Do khả năng phân tíchcủa học sinh chưa tốt nên các em tri giác trên tổng thể, sự chú ý không chủđịnh chiếm ưu thế Thêm vào đó học sinh lớp 2 thiếu khả năng tổng hợp sựchú ý của học sinh lớp 2 còn phân tán, thiếu khả năng phân tích nên dễ bị lôicuốn vào cái trực quan, gợi cảm Sự chú ý của các em còn là chú ý hẹp chưabiết tổ chức sự chú ý các em hướng sự chú ý ra ngoài, hướng hành động chứchưa có khả năng hướng vào bên trong, vào tư duy Trí nhớ trực quan máymóc phát triển hơn trí nhớ lô gic, nhớ hiện tượng hình ảnh cụ thể hơn là nhớcâu chữ, trí tưởng tượng của các em tuy có phát triển nhưng còn tản mạn, ítchịu tác động của hứng thú, kinh nghiệm sống và các mẫu mực đã biết Dạngtoán tìm thành phần chưa biết của phép tính, với cấu trúc chương trình đồng

tính cộng, trừ Đến lớp 3, các em tiếp tục được học nâng dần lên khi tìm cácthành phần chưa biết có chứa biểu thức nhân, chia Từ đây sẽ là nền tảng chocác em khi giải các bài toán về tìm thành phần chưa biết dưới dạng phức ở lớp

phép tính gồm 85 bài ( thành lập kiến thức mới và luyện tập kĩ năng giải toántìm X ) cụ thể:

Lớp 1 các em tìm thành phần chưa biết của phép tính ở dạng điền khuyết như:

1 +… = 7, 10 - … = 4, … + 5 = 10, … – 3 = 7

Đến lớp 2 các em học tìm số hạng (x + 5 = 15), số trừ ( 10 – x = 4), số bị trừ ( x – 3 =7), thừa số ( x x 2 = 8), số bị chia ( x : 5 = 4) x thay dấu bằng dấu …

Việc cung cấp kiến thức toán cho học sinh lớp 2 là rất cần thiết và cơ bản,hướng dẫn cho học sinh cách làm toán, rèn luyện cho học sinh kỹ năng thực hiệnphép tính cộng, trừ, nhân, chia biết áp dụng những kiến thức toán vào cuộc sốnghàng ngày và phát triển nhân cách của học sinh Hướng dẫn học sinh nắm vữngphương pháp thực hiện giá trị của biểu thức, giúp cho học sinh phát triển tốtnăng lực tư duy một cách tích cực và rèn luyện cho các em khả năng tư duynhanh Để giúp học sinh thực hiện tốt các dạng bài toán tìm thành phần chưabiết nâng cao đó chính là nội dung của sáng kiến này

Trang 4

2.2 Thực trạng của việc dạy toán tìm thành phần chưa biết ở trường tiểu học Quảng Thái

2.2.1.Những việc đã làm được trong những năm gần đây:

- Về phía giáo viên.

+ Năng lực giảng dạy của giáo viên từng bước được nâng cao và đa dạng,

chất lượng của học sinh cũng từng bước được nâng lên rõ rệt Thư viện Nhàtrường có nhiều sách Toán tham khảo cho giáo viên cũng như học sinh thườngxuyên trau dồi kiến thức cho mình Giáo viên từng khối lớp nắm chắc kiến thứctoán tìm thành phần chưa biết từ đơn giản đến nâng cao, từ đó lựa chọn hìnhthức và phương pháp dạy cho HS đạt hiệu quả khá tốt Giáo viên lên lớp dạydạng toán nâng cao này rất tự tin, giảm đáng kể thời lượng giảng giải dài Giáoviên bồi dưỡng các đội tuyển câu lạc bộ biết chọn lọc hệ thống câu hỏi ngắn gọn

đi sâu vào nội dung kiến thức giúp HS dễ dàng phát hiện và chiếm lĩnh kiếnthức Hoạt động bồi dưỡng trên lớp diễn ra tự nhiên Lớp học sinh động, pháthuy hết khả năng tích cực sáng tạo của HS, thu hẹp sự áp đặt, khuôn mẫu của

GV đối với HS.

+ GV lớp 2 nắm vững cách hướng dẫn HS giải dạng toán tìm thành phầnchưa biết từ đơn giản đến nâng cao và vượt khỏi sự lúng túng thường gặp trênlớp cụ thể giáo viên nắm vững:

Kiến thức: Nhằm giúp học sinh lớp 2 có thể tự rèn luyện kiến thức Toán

trong chương trình, đồng thời ôn luyện và nâng cao kiến thức mới

Giúp học sinh tự ôn tập lý thuyết và rèn luyện, nâng cao khả năng phân tích đềbài và sáng tạo trong giải toán Học sinh có ý thức tìm tòi phương pháp giải hayhơn và say mê học toán [3]

Giáo viên có thể vận dụng nhiều phương pháp trong quá trình giải toán nhưng

thông thường theo các bước sau:

Bước 1: HS nêu tên gọi thành phần phép tính.

Bước 2: GV phân tích điểm mấu chốt.

Bước 3: HS nêu quy tắc tìm x theo thành phần tên gọi.

Bước 4: Thay kết quả x vừa tìm được thử lại đúng – sai [4]

Về phía học sinh Các em nắm vững cách giải dạng toán tìm thành phần chưa

biết, trình bày đúng yêu cầu của chương trình đặt ra, khả năng phân tích, tổnghợp và tư duy lôgich của HS trong giải toán tìm thành phần chưa biết nâng caongày càng nâng lên rõ rệt.Môn Toán là môn học kích thích kĩ năng tư duy, suyluận và tinh thần học tập của học sinh nhiều nhất Phần lớn học sinh có tinh thầnhiếu học, đều đam mê và ham thích giải toán Do đó việc đầu tư học tập của các

em cũng chiếm khá nhiều thời gian ở lớp cũng như ở nhà Bước đầu phát triểnnăng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng (nói và viết); kíchthích được trí tưởng tượng và lòng ham học toán cho HS Học sinh Tiểu học tuổinhỏ, hiếu động, nhạy bén, sắc sảo, có óc tưởng tượng phong phú Đó là tiền đề

Trang 5

tốt cho việc phát triển tư duy toán học Được sự quan tâm của phụ huynh, họcsinh chuẩn bị đầy đủ dụng cụ học tập Học sinh làm đầy đủ các bài tập trongSGK.

2.2.2 Những việc chưa làm được:

Về phía giáo viên : Việc tổ chức một tiết học bồi dưỡng toán giáo viên nặng

phần nội dung, kiến thức, kĩ năng nhưng chưa quan tâm đến việc tạo khí thế, thiđua, vui tươi và tuyên dương, động viên kịp thời nhằm giảm bớt sự căng thẳngtrong quá trình tiếp thu bài học của học sinh Giáo viên hướng dẫn giải toán theocảm nhận, trực tính của mình chưa theo một quy trình nhất định Giáo viên ít tìmtòi các dạng bài tập nâng cao Nội dung giảng dạy chưa được linh hoạt, việcphân tích, tổng hợp ở mức độ chưa đi vào chiều sâu của bài toán Chưa phát huycao tính tích cực, sáng tạo của học sinh

Về phía học sinh : Các em nghe giảng nhanh hiểu nhưng cũng chóng quên.

Học sinh ít luyện tập nhiều lần trong một dạng bài Nhìn chung kĩ năng giảitoán tìm thành phần chưa biết nâng cao còn bỡ ngỡ của học sinh, phần lớn họcsinh chưa biết điểm mấu chốt của bài toán để lập luận tìm ra cách giải; chưa có

sự suy luận lôgích Một số học sinh còn giải toán theo cảm tính, không theo quytrình.Giải toán tìm thành phần chưa biết được chia làm 2 dạng mà các emthường gặp và dễ mắc sai lầm:

Dạng cơ bản: Giải dạng toán trên dựa theo quy tắc tìm thành phần chưa biết của 4 phép tính, cụ thể như sau:

+ Phép cộng: x + b = c a + x = c

Theo quy tắc để tìm x: Số hạng = Tổng – Số hạng Nhưng dạng này học sinh

thường sai lấy tổng cộng số hạng kia và cách trình bày

+ Phép nhân: x x b = c a x x = c

Quy tắc để tìm x: Thừa số = Tích : Thừa số

Nhưng dạng này học sinh thường sai khi tìm thừa số lấy tích cộng hoặc trừ thừa

số kia, hoặc các em lấy thừa số nhân tích

+ Phép chia: x : b = c

Quy tắc để tìm x: Số bị chia = Thương x Số chia, thì các em lại sai lấy thương

chia cho số chia

Dạng nâng cao

Trang 6

a) Dạng bài tìm thành phần chưa biết mà vế trái là tổng, hiệu, tích, thương củamột số với 1 số, vế phải là một tổng, hiệu, tích, thương của hai số Dạng này họcsinh thường sai không thực hiện tìm tổng, tích ,thương.

Ví dụ: Tìm x biết: x : 3 = 28 : 4

Các em thực hiện: x = 7 x 3

x = 21

- Các em hay sai các dạng còn lại là không đưa được về dạng cơ bản của tìm x

2.2.3 Kết quả khảo sát thực nghiệm của lớp 2 A do tôi chủ nhiệm ở đầu năm học 2016 -2017 với 32 học sinh là:

Trang 7

Cụ thể : Trước hết giáo viên ghi bảng một bài giải sai.Giáo viên yêu cầu học sinh nhận xét bài làm của bạn.

Giáo viên hỏi:Vì sao sai? Học sinh: Cách làm của bạn sai Học sinh nêu lại cách làm đúng

Truớc tiên học sinh nêu tên gọi thành phần trong phép cộng này

( Học sinh nêu : Số 5 là số hạng đã biết x là số hạng chưa biết

số 12 là tổng.)

Giáo viên ghi bảng: Số hạng Số hạng Tổng

5 + x = 12

Giáo viên: Vậy 5 cộng với số nào để được 12? ( Số 7 )

Giáo viên: Làm thế nào để tìm ra số 7? Học sinh: Dựa vào bảng cộng 5 + 7 = 12

Giáo viên: Còn cách nào khác? ( Lấy 12 trừ đi 5 được 7)

Giáo viên: Vậy muốn tìm số hạng trong một tổng em làm thế nào?

Học sinh: Muốn tìm số hạng trong một tổng, ta lấy tổng trừ đi sốhạng đã biết Giáo viên yêu cầu học sinh

giải lại:

5 + x = 12

x = 12 – 5

x = 7

- Đối với dạng bài tìm thừa số chưa biết

Chương trình lớp 2 đã có học nhân chia đến bảng 5 Khái niệm thừa số mới

với các em đã được học, cách tìm thừa số x chưa biết được tiến hành như sau:

GV nêu : Có phép nhân: x x 2 = 8

Giải thích : Số x là thừa số chưa biết nhân với 2 bằng 8

Từ phép nhân x x 2 = 8 ta có thể lập phép chia theo nhận xét “ Muốn tìm thừa số

x ta lấy 8 chia cho thừa số 2” HS viết và tính kết quả x = 8 : 2 x=4

GV giải thích : x = 4 là số phải tìm để được 4 x 2 = 8

Trang 8

Nhắc lại : “ Muốn tìm thừa số x ta lấy 15 chia cho thừa số 3”

GV kết luận : “Muốn tìm thừa số chưa biết ta lấy tích chia cho thừa số kia” Đối với dạng toán này đa số các em hay mắc một số lỗi : Sai lối về trình bày :

Để khắc phục trình trạng sai cách trình bày tôi cho các em so sánh cách trình bày của tìm số hạng chưa biết, dấu “ =” thẳng cột với nhau, song còn phải lưu ý đặt vị trí của chữ X ở vị trí thừa số thứ hai Hoặc thường làm sai kết quả : Kết quả các em làm chưa đúng là do các em chưa thuộc bảng chia Thường để

hình thành phép chia ta hay lấy từ phép nhân do vậy GV cần cho HS vận dụng

từ phép nhân để tính ngược lại như 16 = 4 x 4 từ đó tính ngược lại 16 : 4 = 4

- Đối với dạng bài tìm số bị chia chưa biế trong một thuơng

Kỹ năng tìm số bị chia là phần cuối cùng của tìm thành phần chưa biết ở

chương trình Toán lớp 2 Nối tiếp sau phần học tìm thừa số chưa biết trong một tích Dạy tìm số bị chia sẽ dựa trên quan hệ giữa phép nhân và phép chia

GV nêu : Có phép chia x : 2 = 5

Giải thích : Số x là số bị chia chưa biết , chia cho 2 được thương là 5

Dựa vào bảng nhân 5 ta làm như sau: Lấy 5 (là thương ) nhân với 2 ( là số chia)

ta được 10 ( là số bị chia) Vậy x = 10 là số phải tìm vì 10 : 2 = 5

Trình bày : x : 2 = 5

X = 5x2

X = 10

GV kết luận và cho HS nhắc lại : “ Muốn tìm số bị chia ta lấy thương nhân với

số chia” Đối với dạng toán này đa số các em hay mắc một số lỗi sau:

+ Lỗi sai vị trí của phép nhân khi tìm x :Theo quy tắc theo các em đã thực hiện sai Về bản chất HS hay lẫn lộn giữa thương và số chia nhưng kết quả vẫn đúng Đế khắc phục tình trạng này GV hướng dẫn cho HS một cách dễ nhớ đó

là khi viết các em luôn nhớ số ngay dấu bằng để nguyên rồi nhân với số sau dấu chia như thế mới đúng ghi nhớ đã nêu Với sự hướng dẫn và ghi nhớ máy móc như thế đẫ có 98,5% các em làm đúng dạng toán này

+ Lối sai kết quả phép tính : Để giải quyết những sai lầm này trước hết tôi yêu cầu các em dùng các phép tính để chia thử lại các phép nhâncủa mình xem đúng hay chưa

- Viết các phép chia lên bảng, yêu cầu học sinh nhắc lại bảng chia liên quan:

- Cho học sinh lần lượt thực hiện chia và giải thích cách làm của mình

-Sau đó tôi đưa ra bài tập tương tự: Kết quả có 99,7% học sinh trong lớp thực hiện đúng các phép tính này

Nói chung để thực hiện tốt các bài toán tìm số bị chia thì yêu cầu các em phải làm thành thạo các phép nhân trên số tự nhiên và ghi nhớ các bảng nhân chia

2.3.2 Rèn cho học sinh kĩ năng xác định đúng tên và ghi nhớ thành phần trong phép tính:

và khắc sâu cho học sinh nhớ được tên gọi các thành phần và kết quả của bốn phép tính đã học Tức là phải cho học sinh nêu được tên gọi thành phần và kết quả của các phép tính:

Trang 9

Phép cộng: Số hạng + Số hạng = Tổng

Phép trừ : Số bị trừ - Số trừ = Hiệu

Phép nhân: Thừa số x Thừa số = Tích

Phép chia : Số bị chia : số chia = Thương [4]

Để học sinh gọi đúng tên thành phần trong phép tính Khi làm các bài tập dạngtìm x tôi thường hỏi lại tên các thành phần trong phép tính ấy rồi cho 3,4 họcsinh nhắc lại, cả lớp nhắc lại để cho các em nhớ lại và khắc sâu hơn kiến thức

* Ví dụ: Bài 1:Tìm x (SGK Toán trang 46)

a) x + 8 = 10 b) x + 7 = 10 c) 30 + x = 58

+Trước khi thực hiện bài tập tôi hỏi bài tập yêu cầu tìm gì?

Trong phép tính x+ 8 = 10, chữ cái x được gọi là gì? (Số hạng)

8 được gọi là gì? (Số hạng)

10 được gọi là gì? (Tổng)

+ Sau đó gọi 3,4 học sinh nói lại từng tên gọi thành phần trong phép x + 8 = 10

Và tương tự với các bài toán tìm x trong phép trừ:

x - 3 = 12

Giáo viên cũng làm rõ: chữ cái x gọi là gì?( số bị trừ )

3 gọi là gì? (số trừ ) và 12 gọi là gì? (hiệu )

Trong phép trừ học sinh hay lộn giữa số bị trừ và số trừ vì thế nên cần nêu rõ vịtrí của số trước và sau dấu trừ Phép nhân, phép chia tôi cũng làm như vậy

* Ví dụ: Bài 1:Tìm x (SGK Toán trang 46)

a) x x 2 = 16 c) 30 x x = 5

+Trước khi thực hiện bài tập tôi hỏi bài tập yêu cầu tìm gì?

Trong phép tính x x 2 = 10, chữ cái x được gọi là gì? (thừa số)

2 được gọi là gì? (thừ số)

10 được gọi là gì? (Tích)

Trong phép chia x : 3 = 2

Giáo viên cũng làm rõ: chữ cái x gọi là gì?( số bị chia )

3 gọi là gì? (số chia ) và 2 gọi là gì? (thương) [5]

Ngoài ra trong các giờ ôn tập hoặc bồi dưỡng học sinh theo kế hoạch củatrường Tìm thành phần chưa biết, học sinh phải có kĩ năng thựchiện theo hai bước sau:

- Bước 1: Nêu tên gọi của các thành phần chưa biết

- Bước 2: Đọc thuộc quy tắc, sau đó mới vận dụng quy tắc

để làm bài Tôi đã tiến hành ở tất cả các tiết học khi gặp dạng toán này Vì được nhắc đi nhắc lại nhiều lần nên học sinh rất thuộc quy tắc, ghi nhớ cách làm và thực hiện cách giải đúng Qua hai bước giải trên, tôi thấy học sinh đã hiểu được bản chất của phép tính công, trừ thuộc quy tắc để làm bài và tránh được tình trạng vô ý, cẩu thả khi giải toán của học sinh …

Khi dạy phép cộng giáo viên cần yêu cầu học sinh nói thành thạo tên của thành phần phép tính là: số hạng – số hạng

Trang 10

– tổng Giáo viên đưa ra ví dụ từ cơ bản đến nâng cao đến cả dạng tổng quát như a + b = c.Đối với phép trừ học sinh dễ nêu sai số bị trừ và số trừ để khắc phục tình trạng này giáo viên cần phân tích kĩ vị trí đứng của số : trước dấu trừ thì là số bị trừ, sau dấu trừ là số trừ và số bị trừ lớn hơn số trừ Trọng quá trình

giảng dạy giáo viên tổ chức chơi trò chơi nhận diện, hoán đổi…Khi học đến phép nhân phép chia học sinh cũng được biết rõ về thành phần phép tính giáo viên thực hiện tương tự với phép cộng, phép trừ

Theo tôi, sau khi nhận diện xong tôi củng cố thêm cho học sinh bằng cách ra thêm toán như : tìm tổng biết số hạng thứ nhất là, số hạng thứ hai là hoặc tìm thương biết số bị chia

và số chia hoặc tìm tích biết thừa số…

Yêu cầu về phụ huynh: Thường xuyên theo dõi việc học ở nhà của các em Phải sắp xếp thời gian hợp lí cho các em tự học Thường xuyên liên hệ với giáo viên để đánh giá tình hình học tập và có biện pháp hướng dẫn các em học tập và có biện pháp hướng dẫn các em học tập đạt kết quả cao hơn Tôi luôn thông báo với phụ huynh về bài tập về nhà, tôi quy ước một quyển vở ghi bài tập về nhà , phụ huynh nắm đượccác bài tập trong vở để hướng dẫn học sinh làm

2 3.3 Rèn cho học sinhtích cực phát hiện các dạng toán

và hiểu các dạng tìm x để giải :

2.3.3.1 Rèn cho học sinh thuộc quy tắc tìm thành phần phép tính đó:

- Ở lớp 2(Chương trình Tiểu học mới) bắt đầu có dạng toán tìm x liên quan đến

4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia Cụ thể là các dạng cơ bản sau:

+) x + a = b (Tìm số hạng chưa biết)

+) x – a = b (Tìm số bị trừ chưa biết)

+) a – x = b (Tìm số trừ chưa biết)

+) a x x = b (Tìm thừa số chưa biết) hoặc x x a = b

+) x : a = b (Tìm số bị chia chưa biết)

- Khi làm các bài tập dạng này, yêu cầu dựa vào mối quan hệ giữa thành phầncủa phép tính như quan hệ giữa tổng và hiệu từ một tổng ta sẽ tìm được hai phéptrừ : 3 + 4 = 7 thì có : 7 - 4 = 3 và 7 – 3 = 4

Hay phép nhân và phép chia : 3 x 4 = 12 thì được : 12 :4 = 3 và 12: 3 = 4

Hiểu rõ mối quan hệ này và kết quả của phép tính để tìm x Chẳng hạn:

+) x + 3 = 7 thì x = 7 – 3 (Số hạng trong một tổng bằng tổng trừ đi số hạng kia) x = 4

+) x – 5 = 4 thì x = 4 + 5; x = 9 (số bị trừ cộng với hiệu)

+) 10 – x = 2 thì x = 10 – 2 (Số trừ bằng số bị trừ trừ đi hiệu) x = 8

+) x x 5 = 10 thì x = 10 : 5 ; x = 2 (Thừa số bằng tích chia cho thừa số kia)

Ngày đăng: 16/10/2019, 08:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w