1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp giúp học sinh tham gia câu lạc bộ em yêu thích môn toán lớp 3 đạt hiệu quả

28 121 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 7,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến 2Giải pháp 1: Tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ 3Giải pháp 2: Phân loại đối tượng học sinh tham gia Câu lạc bộ Toán

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GD&ĐT THỌ XUÂN

–––––––––––––––––––––

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH THAM GIA CÂU LẠC BỘ

“EM YÊU THÍCH MÔN TOÁN” LỚP 3 ĐẠT HIỆU QUẢ

Người thực hiện: Ninh Thị Ngọc

Chức vụ: Giáo viên Đơn vị: Trường Tiểu học Xuân Phú - Thọ Xuân SKKN thuộc lĩnh vực môn: Toán

THANH HÓA NĂM 2019

Trang 2

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến 2

Giải pháp 1: Tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ 3Giải pháp 2: Phân loại đối tượng học sinh tham gia Câu lạc bộ Toán 3Giải pháp 3: Xây dựng nội dung chương trình giảng dạy CLB “Em yêu thích

môn Toán” lớp 3

4

Giải pháp 4: Tổ chức giảng dạy giúp học sinh tham gia CLB “Em yêu thích

môn Toán” lớp 3 có hiệu quả

6

Giải pháp 5: Đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả tham gia CLB

“Em yêu thích môn Toán” của học sinh

Trang 3

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài:

Môn Toán là một môn học chiếm vị trí rất quan trọng và có quan hệ khăng khítvới tất cả các môn học khác Học tốt môn Toán không những giúp cho học sinh nắmchắc kiến thức, kỹ năng cơ bản về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội mà còn tạo điềukiện cho học sinh học tốt các môn học khác thông qua việc rèn kỹ năng cũng như ápdụng vào đời sống

Với nội dung chương trình mang tính hệ thống hoá, khái quát hoá và bổ sungkiến thức về số học; đại lượng và đo đại lượng; hình học; yếu tố thống kê và giải toán.Trong đó, ta gặp rất nhiều các bài toán mà học sinh tham gia Câu lạc bộ “Em yêu thíchmôn Toán” và trong các đề thi Violympic – giải toán qua mạng Internet

Việc định hướng và giúp đỡ học sinh tham gia Câu lạc bộ (CLB) “Em yêu thíchmôn Toán” có một vị trí quan trọng trong chương trình môn toán bậc Tiểu học Họcsinh sẽ được rèn cho mình kĩ năng tính toán tốt Đó cũng là cơ sở, nền tảng vững chắccho học sinh học tốt ở lớp học, bậc học tiếp theo Chính vì vậy mà việc định hướng,giúp đỡ học sinh tham gia CLB “Em yêu thích môn Toán” đang được các cấp quản lý,phụ huynh và học sinh quan tâm Song để giúp các em ngày càng yêu thích CLB Toán

và giao lưu đạt kết quả tốt thì việc giảng dạy là yếu tố rất quan trọng

Là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 3 và được phân công giúp đỡ, bồi dưỡnghọc sinh tham gia CLB “Em yêu thích môn Toán” lớp 3 Tôi luôn băn khoăn trăn trở,suy nghĩ làm thế nào để giúp các em giải tốt các dạng toán và giúp các em ngày càngyêu thích CLB Toán Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng CLB “Em yêu thích mônToán” lớp 3 Qua thực tế giảng dạy với sự đầu tư nghiên cứu của mình, tôi đã đưa ramột số phương án, cách thức tổ chức, hướng dẫn học sinh giải toán Vì vậy, tôi muốn

chia sẻ với các bạn đồng nghiệp kinh nghiệm nhỏ: Một số biện pháp giúp học sinh tham

gia Câu lạc bộ “Em yêu thích môn Toán” lớp 3 đạt hiệu quả.

Với đề tài này, tôi chỉ đi sâu nghiên cứu để giúp các em yêu thích và làm chắccác dạng toán khi tham gia CLB “Em yêu thích môn Toán” lớp 3 Mong rằng sẽ nhậnđược sự góp ý chân thành của các cấp quản lí và các bạn đồng nghiệp để đề tài củatôi được hoàn chỉnh và áp dụng trong giảng dạy góp phần nâng cao chất lượng CLBToán 3 nói riêng và CLB Toán nói chung trong nhà trường Tiểu học

1.2 Mục đích nghiên cứu:

- Tìm ra những biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải tốt các dạng toán khi tham giaCLB Toán 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

- Giúp học sinh có kĩ năng giải các bài toán theo chuyên đề cho học sinh tham giaCLB Toán lớp 3, là học sinh của năm học: 2018 - 2019

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Nhóm hương pháp nghiên cứu thực tiễn: quan sát, giảng dạy,

- Nhóm phương pháp khác: điều tra, giảng giải, luyện tập – thực hành

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm

Câu lạc bộ “Em yêu thích môn Toán” trong trường là nơi tập hợp các học sinh

có cùng sở thích, năng khiếu về môn Toán mà các em tự nguyện tham gia

Trang 4

Thực tế cho thấy, thời gian học chính khóa còn ít so với khối lượng kiến thức vềToán quá nhiều Kết quả là nhiều em học sinh không có đủ thời gian để ghi nhớ kiếnthức được học và rèn luyện kĩ năng giải toán cho riêng mình CLB Toán ra đời khôngnhững giúp các em kiểm tra, ghi nhớ lại những kiến thức cũ mà còn tăng cường thờigian luyện tập kĩ năng giải toán qua những hoạt động thường xuyên của CLB CLBToán thực sự là nơi các em có thể tự do học hỏi lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm và kiếnthức về toán học với thầy cô và bạn bè CLB Toán là sân chơi lành mạnh cho các emhọc sinh trong nhà trường có lòng yêu thích toán học, có năng lực học toán tốt, giúpcác em trao đổi kinh nghiệm, thảo luận, chia sẻ với nhau các bài toán hay

Qua các buổi học của CLB Toán giúp các em phát huy được vốn kiến thức đãhọc một cách tự giác, tự tin rèn luyện tính độc lập, sáng tạo Trong quá trình giải toán,các em có thể có nhiều cách giải khác nhau với sự tập trung cao độ để tìm kết quảđúng và nhanh nhất cho các dạng bài toán Từ đó, đã xây dựng được đội ngũ học sinhgiỏi cho nhà trường trong những năm sau

Đặc điểm học sinh Tiểu học nhanh nhớ mà cũng dễ quên Sự tiếp thu bài học củacác em phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó “hứng thú học tập” là yếu tố ảnh hưởng rấtlớn đến kết quả học tập của các em Để giúp các em hứng thú khi tham gia CLB Toán vàthực sự yêu thích môn Toán thì bản thân người giáo viên phải giúp các em giải được cácdạng toán khi tham gia CLB Toán 3 Đó là nền tảng là cơ sở vững chắc để các em họcToán nâng cao trong CLB Toán 4, Toán 5 và các bậc học tiếp theo

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến

Thực tế, trong những năm học gần đây, nhà trường đã tổ chức định hướng, giúp

đỡ học sinh phát huy được năng khiếu, sở thích của mình qua các CLB: CLB Toán,Tiếng Việt, Tiếng Anh Trong đó CLB Toán được nhà trường rất quan tâm Việc giúp

đỡ học sinh tham gia CLB Toán có nhiều thuận lợi:

- Ban giám hiệu luôn quan tâm chỉ đạo sát sao đến việc tổ chức dạy học của giáoviên Thường xuyên góp ý nội dung bồi dưỡng cũng như hình thức tổ chức dạy học kịpthời cho giáo viên

- Cơ sở vật chất của nhà trường tương đối đầy đủ: mạng Internet, máy chiếu, tàiliệu bồi dưỡng

- Giáo viên nhiệt tình tâm huyết với nghề nghiệp

- Học sinh tích cực, hứng thú, quan tâm tới các kì giao lưu

+ Khó khăn:

- Chất lượng học sinh tham gia CLB Toán không đồng đều

- Phụ huynh chưa quan tâm đến việc học của con em mình

- GV chưa có phương pháp tối ưu để phát huy tính sáng tạo của học sinh

+ Nguyên nhân:

- Điểm xuất phát của học sinh thấp Điều kiện gia đình các em khó khăn,

trình độ dân trí của phụ huynh có nhiều hạn chế nên để các em giải được các bài toán khóhoàn toàn phụ thuộc vào sự giúp đỡ của giáo viên

- Khi giải toán học sinh chưa thực hiện đầy đủ các bước: không đọc kỹ đề

bài toán nên dễ hiểu sai yêu cầu đề bài dẫn đến giải bài sai Việc đọc bài toán kết hợpvới suy luận logic của học sinh còn hạn chế

Nắm bắt được nguyên nhân trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu, đưa ra các giảipháp vận dụng vào giảng dạy CLB Toán 3 như sau:

Trang 5

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:

Giải pháp 1: Tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.

Tự học, tự bồi dưỡng là phương thức tốt nhất giúp người giáo viên tiến bộ,trưởng thành, có đủ phẩm chất năng lực chuyên môn nghiệp vụ để hoàn thành nhiệm

vụ giáo dục đào tạo được giao Tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho mình,tôi nghĩ không phải là trong một, hai ngày mà là cả một quá trình và nó gắn với cả đời

đi dạy của người giáo viên Ý thức được điều đó, tôi luôn tự học hỏi nâng cao trình độ,chuyên môn nghiệp vụ của mình

Ngay từ đầu năm học, dưới sự chỉ đạo của Ban giám hiệu, tôi đã xây dựng chomình kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng một cách khoa học nhất Trong kế hoạch tôi đãxác định được mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp tự học, tự bồi dưỡng Vớicác chuyên đề nhà trường tổ chức, tôi đã tự mình tìm hiểu nội dung chương trình củacác lớp, tìm hiểu mục tiêu của các tiết học để cùng tham gia thảo luận đóng góp ý kiếnvới đồng nghiệp, ý kiến của tôi nêu ra luôn được sự đồng tình nhất trí cao của đồngnghiệp trong các buổi sinh hoạt đó

Khi được giao nhiệm vụ dạy lớp 3 và phụ trách CLB “Em yêu thích mônToán”, tôi đã tìm hiểu sâu về chương trình nói chung và nghiên cứu, tham khảo các tàiliệu bồi dưỡng để soạn thành chuyên đề bồi dưỡng cho các em Chỗ nào băn khoănchưa hiểu tôi hỏi ngay đồng nghiệp, chuyên môn để được tháo gỡ Nắm vững bản chấtdạng toán theo chuyên đề, tôi nghiên cứu diễn đạt câu từ một cách dễ hiểu nhất đểtruyền đạt cho các em trong các buổi học CLB Toán

Qua các việc làm trên, tôi thấy mình vững vàng hơn về kiến thức và phương pháp Không những thế, tôi đã dạy được Trong mỗi tiết dạy, tôi hoàn toàn làm chủ được kiến thức và tự tin đứng trên bục nắm vững nội dung chương trình ở từng khối lớp và đứng ở vị trí lớp nào tôi cũng có thể giảng để giảng dạy cho các em học sinh một cách dễ hiểu nhất

Như vậy, với ý thức trách nhiệm trong công việc đến nay tôi đã có trình độ chuyên môn vững vàng, liên tục đạt giáo viên giỏi cấp trường, cấp huyện; có nhiều học sinh đạt giải trong các kì thi cấp trường, cấp huyện trong nhiều năm Bản thân luôn được đồng nghiệp tín nhiệm và phụ huynh tin tưởng, quý mến Giải pháp 2: Phân loại đối tượng học sinh tham gia Câu lạc bộ Toán.

Ngay sau khi nhận lớp 3 của năm học 2018 - 2019, kết hợp với giáo viên chủnhiệm năm trước, tôi nắm sơ bộ về lực học của từng em Tôi nhận thấy, việc phát hiện

và lựa chọn học sinh tham gia CLB Toán là việc làm cần thiết và hết sức quan trọngcủa giáo viên Việc lựa chọn học sinh học CLB không phải chỉ chú ý đến lực học màphải quan tâm đến sở thích, sự đam mê của các em đối với môn học Chính vì vậy,ngay từ đầu năm học, nhà trường đã tổ chức cho học sinh đăng kí tham gia CLB theophiếu điều tra Bản thân tôi đã phân tích, định hướng cho học sinh đăng kí cho phùhợp, chính xác dưới sự đồng thuận của phụ huynh Trong phiếu điều tra, học sinh phảiđăng kí trung thực, thẳng thắn những suy nghĩ, sở thích, thói quen và mong muốn củamình khi tham gia CLB Đó là cơ sở giúp tôi lựa chọn học sinh tham gia vào CLBToán của lớp mình phụ trách

Vì lực học của học sinh không đồng đều và để đảm bảo chất lượng CLB Toántốt hơn, sau khi chọn được học sinh tham gia CLB Toán, tôi đã phân loại đối tượng

học sinh theo khả năng của các em (danh sách theo nhóm có trong phụ lục 3) như sau:

Trang 6

Nhóm 1 (7 em): Nhóm học sinh thông minh, tiếp thu kiến thức nâng cao tốt.

Nhóm 2 (17 em): Nhóm học sinh tiếp thu kiến thức cơ bản tốt nhưng tiếp cận kiến

thức nâng cao chậm

Nhóm 3 (8 em): Nhóm học sinh tiếp thu bài tốt nhưng có hoàn cảnh khó khăn.

Sau khi phân loại được đối tượng học sinh, tôi giải thích để học sinh hiểu khi thamgia vào CLB Toán thì học sinh phải thật sự chăm chỉ, chịu khó học bài vì lượng bài tập

sẽ rất nhiều Sau đó, tôi cho học sinh tự đăng kí giải giao lưu CLB Toán cuối năm đểlấy động lực cho các em học tập tốt Nhiều em đã mạnh dạn đăng kí giải Nhất, Nhì, Ba cấp trường

Sau đây là kế hoạch dạy bồi dưỡng học sinh theo từng nhóm:

+ Nhóm 1: Với nhóm học sinh tiếp thu bài rất nhanh nhưng làm các tập cơ bản

hay sai vì tính không cẩn thận, chủ quan và không chăm chỉ Tôi thường xuyên kiểmtra bài tập cơ bản, bài tập nâng cao Bên cạnh đó, tôi ra thêm bài tập nâng cao thêm chocác em làm và chấm chữa bài chu đáo đến từng cá nhân học sinh

+ Nhóm 2: Tôi luôn động viên học sinh tích cực chăm chỉ hơn trong học tập Tôi

thường giảng chậm cho các em hiểu kĩ và thường ra nhiều bài tập tương tự để rèn kĩnăng tính toán cho các em Tôi tranh thủ giảng thêm bài tập cho các em trong các buổi

15 phút đầu giờ hoặc vào các giờ ra chơi Bên cạnh đó, tôi giảm các bài tập khó, nâng

số lượng bài vừa sức với học sinh

+ Nhóm 3: Đối với nhóm học sinh có hoàn cảnh khó khăn, tôi cùng với phụ

huynh trưởng đến nhà để tìm hiểu điều kiện hoàn cảnh của học sinh đó; vận động phụhuynh và học sinh trong lớp giúp đỡ về: sách vở, quần áo… Ngoài ra, tôi luôn lắngnghe tâm sự để chia sẻ động viên các em kịp thời Và tôi luôn dành sự quan tâm đặcbiệt cho nhóm học sinh này

Sau thời gian được ôn tập và có hệ thống theo khả năng của học sinh, các em đã

có nhiều chuyển biến tích cực trong học tập: đi học chuyên cần, tích cực tự giác họcbài và cơ bản đã nắm tốt một số chuyên đề bồi dưỡng CLB Toán 3

Giải pháp 3: Xây dựng nội dung, chương trình giảng dạy CLB “Em yêu thích mônToán” lớp 3

Nội dung dạy CLB Toán nói chung và CLB Toán lớp 3 nói riêng không có sáchhướng dẫn chi tiết, cụ thể từng tiết, từng buổi học như trong chương trình chính khóa.Hơn nữa, hiện nay các tài liệu tham khảo, các loại sách nâng cao không soạn thảo theođúng trình tự như chương trình học chính khóa, mà thường đi theo các dạng tổng hợp(Bồi dưỡng HS giỏi Toán 3) hoặc theo kiến thức từng tuần (Bài tập cuối tuần) Vìthế, soạn thảo nội dung chương trình phù hợp với khả năng và sự tiếp thu của học sinh

là một việc làm hết sức quan trọng và rất khó khăn Việc đó đòi hỏi giáo viên phảinghiên cứu, tìm tòi, tham khảo các loại tài liệu có chọn lọc để xây dựng nội dungchương trình dạy CLB phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình phụ trách

Việc soạn nội dung dạy CLB Toán 3 theo các chuyên đề phải dựa trên nền kiến thức cơ bản đã học của học sinh Giáo viên soạn thảo chương trình theo vòngxoáy: từ cơ bản đến nâng cao, từ đơn giản đến phức tạp Đồng thời cũng phải có ôntập, củng cố, kiểm tra Đặc biệt, tôi đã nghiên cứu kĩ tài liệu hướng dẫn xây dựngkhung đề thi của Bộ giáo dục và đào tạo, tham khảo các chuyên đề hướng dẫn bồidưỡng học sinh giỏi Toán Tiểu học của Sở giáo dục Thanh Hóa và Phòng giáo dụcThọ Xuân năm 2012 – 2013 Bên cạnh đó, tôi cũng tìm hiểu nội dung bồi dưỡng theo

Trang 7

chuyên đề của các CLB Toán từ lớp 2 đến lớp 5 trong trường Dưới sự chỉ đạo củachuyên môn, tôi soạn thảo chuyên đề bồi dưỡng dựa trên nền kiến thức cơ bản của họcsinh đã học và dựa vào các tài liệu tham khảo như Bài tập cuối tuần, Bài tập bổ trợ vànâng cao Toán 3, Bài tập trắc nghiệm Toán 3, đề Violimpic Toán theo các vòng, Toántuổi thơ,

Sau đây là kế hoạch giảng dạy học sinh tham gia CLB Toán 3 mà tôi đã xâydựng đầu năm học 2018 - 2019

KẾ HOẠCH GIẢNG DẠY CLB TOÁN LỚP 3

Năm học 2018 – 2019

9/2018

3 Ôn về các bảng cộng, trừ, nhân, chia

Ôn về bài toán về nhiều hơn, ít hơn

4 Ôn tìm TP chưa biết trong phép tính cộng, trừ, nhân và chia

Ôn các bài toán về đại lượng Ôn các bài toán về hình học

7 Dạng 5: Tìm số chữ số của dãy số

8 Luyện tập chung

11/2018

9 Mối quan hệ giữa thành phần và kết quả đối với phép cộng:

Dạng 1: Tăng một hoặc 2 số hạng trong phép cộngDạng 2: Giảm một hoặc 2 số hạng trong phép cộng

10 Dạng 3: Tăng, giảm 2 số hạng trong phép cộng

Luyện tập chung

11 Mối quan hệ giữa thành phần và kết quả đối với phép trừ:

Dạng 1: Tăng, giảm số bị trừ trong phép trừDạng 2: Tăng, giảm số trừ trong phép trừ

12 Dạng 3: Tăng, giảm số bị trừ, số trừ trong phép trừ

Luyện tập chung

12/2018

13 Mối quan hệ giữa thành phần và kết quả đối với phép nhân

Dạng 1: Tăng (giảm) thừa số trong một tíchDạng 2: Tìm các thừa số khi tăng (giảm) các thừa số trong tích

14 Phép chia hết, phép chia có dư

Dạng 1: Các bài toán liên quan đến phép chia có dưDạng 2: Tìm số bị chia trong phép chia có dư

15 Dạng 3: Tìm số chia trong phép chia hết

Dạng 4: Tìm số chia trong phép chia có dư

16 Luyện tập chung

17 Chuyên đề về lập số

Dạng 1:Lập số có các chữ số khác nhau từ các chữ số đã choDạng 2: Lập số từ các chữ số đã cho

1/2019 18 Dạng 3: Lập số chẵn, số lẻ từ các chữ số đã cho

Trang 8

Dạng 4: Lập số có các chữ số (trường hợp có chữ số 0).

19 Chuyên đề về phân tích cấu tạo số

Dạng 1: Viết thêm 1 chữ số về bên phải của 1 số tự nhiên

20 Dạng 2: Viết thêm 1 chữ số về bên trái của 1 số tự nhiên

2/2019

21 Chuyên đề về phân tích cấu tạo số

22 - Tìm thành phần chưa biết trong phép tính

26 Giải toán liên quan đến các dạng toán đơn.

27 Chuyên đề về chu vi, diện tích của các hình

31 - Chuyên đề về đại lượng, thời gian

32 - Chuyên đề về đại lượng, thời gian (tiếp theo)

4.1 Củng cố các kiến thức cơ bản, kiến thức mở rộng của Toán 2

Thực tế, nếu học sinh không nắm chắc kiến thức cơ bản và kiến thức mở rộngcủa Toán 2 thì học sinh sẽ gặp nhiều khó khăn khi tham gia CLB Toán 3

Để các em nắm được các dạng toán theo chuyên đề của lớp 3, điều đầu tiên giáoviên phải củng cố lại các kiến thức cơ bản đã học ở lớp 1, lớp 2 có liên quan đến cácchuyên đề của lớp 3

Trong mỗi một tuần học, các em chỉ được học các dạng rất đơn giản Nếu mỗi một buổi dạy, giáo viên chép đề bài lên bảng rồi tổ chức cho học sinh làm vàchữa bài thì sẽ mất nhiều thời gian và lượng bài tập làm được rất ít Nội dung dạy ônluyện lại chưa có chương trình cụ thể, hoàn toàn do giáo viên soạn thảo dưới sự kiểmduyệt của phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn Vì vậy, giáo viên không có hệthống bài tập in sẵn đến cho học sinh để các em vừa ôn, vừa ghi đề thì rất mất thờigian mà hiệu quả lại không cao Khi dạy dạng bài ôn luyện cho học sinh, tôi đã củng

cố lại kiến thức cơ bản, kiến thức mở rộng lớp 2 cho các em đồng thời chuẩn bị nộidung phiếu ôn luyện cụ thể và đã in đến từng học sinh

VD minh họa chuyên đề về dãy số lớp 2

Bài 1: Điền số thích hợp vào chỗ chấm

a 1; 2; 3; 4; 5, b 1; 3; 5; 7,

Trang 9

Bài 2: Điền số thích hợp vào chỗ chấm

Bài 5: Viết tiếp các số vào dãy sau: 1; 3; 5; ; ; ; ; 13.

Qua cách dạy trên, tôi giúp học sinh biết cách điền số thích hợp vào từng dãy sốmặc dù chưa phát biểu thành quy luật Từ đó, học sinh tiếp cận toán về dãy số chuyênsâu ở lớp 3 tốt hơn Đó là các em sẽ tìm được quy luật của dãy số; tìm được số sốhạng; tìm số chữ số trong dãy số …

Bên cạnh đó, tôi dành nhiều thời gian cho học sinh được làm bài cá nhân, thảoluận nhóm đôi để giúp cho giờ học sôi nổi hơn Tôi luôn dành thời gian đến với từng

cá nhân học sinh để kèm cặp, giúp các em kịp thời sửa sai và hạn chế được những saisót trong quá trình làm bài tập cơ bản và nâng cao giúp các em học tốt các chuyên đềToán 3

4.2 Dạy chắc kiến thức cơ bản trong chương trình SGK.

Để giúp học sinh học tốt các kiến thức nâng cao của CLB Toán 3, giáo viên phải giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản trong chương trình học Kiến thức cơ bản là hệ thống các khái niệm, nguyên lý, quy tắc toán học cần thiết nhất, làm nền tảng cho việc học tập ở các trình độ học tập tiếp theo hoặc có thể sử dụng trong cuộc sống hằng ngày Học sinh học phải đạt được chuẩn kiến thức kĩ năng của môn học

Vì vậy, để giúp học sinh học tốt các bài toán nâng cao về phép chia hết, phép chia có dư của CLB Toán 3, tôi đã dạy như sau:

Ví dụ : Phép chia hết, phép chia có dư

* Phép chia hết Tôi chia làm 2 dạng:

Dạng 1: Ở các lần chia đều chia hết

Ví dụ: 6369 : 3 (VD a – Trang 117 – SGK Toán 3.)

Lần chia thứ nhất: 6 : 3 = 2 Lần chia thứ hai: 3 : 3 = 1 Lần chia thứ ba: 6 : 3 = 2 Lần chia thứ tư: 9 : 3 = 3

Đối với dạng này, tôi hướng dẫn cho học sinh cách chia số có 4 chữ số cho số cómột chữ số được thực hiện qua 4 lần chia, mỗi lần chia thực hiện qua 3 bước: chia, nhân

và trừ nhẩm Mỗi lần chia là một phép chia hết trong bảng chia 3 Tôi giúp học sinh nắmđược số dư của mỗi lần chia đều bằng 0 Nhấn mạnh cho HS nắm được: phép chia hết làphép chia lần chia cuối cùng có số dư là 0

Dạng 2: Chia hết ở lần chia cuối cùng.

Ví dụ: 72 : 3 = ? (VD a – Trang 70 – SGK Toán 3.)

Lần chia thứ nhất: 7 : 3 = 2 (dư 1) Lần chia thứ hai: 12 : 3 = 4

Ở dạng này tôi chỉ rõ cho học sinh nắm được số dư của các lần chia trước khác 0nên số bị chia của lần chia tiếp theo gồm số dư của lần chia trước và chữ số vừa hạ.Trong ví dụ này, số bị chia của lần chia thứ 2 (lần chia cuối) là 12 nên số dư bằng 0

Trang 10

* Phép chia có dư Tôi chia làm 2 dạng:

Dạng 1: Ở các lần chia đều có dư.

VD: 236 : 5 = ? (VDb – Trang 72 – SGK Toán 3.)

Lần chia thứ nhất: 23 : 5 = 4 (dư 3)

Lần chia thứ hai: 36 : 5 = 7 (dư 1).

Đối với dạng này, trong các lần chia đều có dư Mỗi lần chia là một phép chia

có dư trong bảng chia 5 Lần chia thứ nhất, số bị chia nhỏ hơn số chia nên lấy 2 chữ số

để chia (lấy 23 : 5) Số dư luôn bé hơn số chia Trong trường hợp này, tôi khắc sâu chohọc sinh số dư không thể lớn hơn hoặc bằng số số chia Vì số dư lớn hơn hoặc bằng sốchia thì thương sẽ được hơn 1 lần nữa

Dạng 2: Chia có dư ở lần chia cuối cùng.

VD: 9365 : 3 = ? (VD a – Trang 118 – SGK Toán 3.)

Lần chia thứ nhất: 9 : 3 = 3

Lần chia thứ hai: 3 : 3 = 1

Lần chia thứ ba: 6 : 3 = 2 Lần chia thứ tư: 5 : 3 = 1 (dư 2)

Phép chia này thực hiện qua 4 lần chia Mỗi lần chia là một phép chia hết, chia

có dư trong bảng chia 3 Trong các lần chia trước, số dư đều bằng 0, nhưng lần chiacuối cùng số dư khác không Tôi khẳng định số dư ở lần chia cuối cùng chính là số dưcủa phép chia và số dư luôn bé hơn số chia

Tôi lưu ý học sinh:

+ Mỗi lần chia thực hiện qua 3 bước: chia, nhân, trừ nhẩm

+ Trong phép chia, ở mỗi lần chia có dư (trừ lần chia cuối cùng), số bị chia củalần chia tiếp theo gồm chữ số dư của lần chia trước và chữ số vừa hạ

+ Trường hợp chữ số đầu tiên của số bị chia bé hơn số chia thì lấy 2 chữ số đểthực hiện lần chia thứ nhất

+ Phép chia hết là phép chia mà lần chia cuối cùng có số dư bằng 0

+ Trong phép chia có dư, số dư khác 0 và luôn bé hơn số chia

Với cách dạy trên, học sinh của tôi nắm rất chắc kiến thức cơ bản Từ đó, giúpcác em học tốt các chuyên đề trong CLB hơn

4.3 Thường xuyên thay đổi hình thức tổ chức CLB.

Thực tế, khi dạy học sinh tham gia CLB Toán 3, tôi thấy học sinh tiếp thu bài khôngđồng đều có em tiếp thu bài nhanh, có em tiếp thu nâng cao chậm Để tránh việc học sinhbiết rồi thì không tích cực học, các em chưa nắm được bài thì lại tự ti, chán nản Vì vậy, tôi

đã giúp các em ghi nhớ kiến thức bằng nhiều hình thức như sau:

a Sử dụng bảng con để cùng tìm nhanh kết quả:

Việc sử dụng bảng con trong tiết học Toán tôi thấy rất hiệu quả vì khi học sinhthực hiện trên bảng con các em rất thích thú đồng thời giúp tôi kiểm soát được kết quảbài làm của cả lớp Tuy nhiên, khi yêu cầu học sinh sử dụng bảng con tôi không lạmdụng mà tùy từng nội dung bài, khi dạy chuyên đề về dãy số tôi đã làm như sau:

- Thời gian kiểm tra: đầu tiết học hoặc cuối buổi học Toán

- Tôi nêu phép tính bất kỳ, học sinh ghi kết quả vào bảng con trong vòng 10 giây

VD1: Tìm số hạng tiếp theo của dãy số sau: 0; 2; 4; 6; (8)

VD2: Tìm số hạng đầu tiên của dãy số sau: ; 3; 5; 7; 9 (1)

VD3: Tìm số số hạng của dãy số sau: 4; 6; 8; 14 (6 số)

Trang 11

VD4: Cho dãy số : 1; 3; ; 21 (dãy số có 11 số hạng) Dãy số trên có bao nhiêu

khoảng cách ? (10 khoảng cách)

Những học sinh có kết quả đúng nhiều, nhanh, trình bày đẹp thì được khen Cònhọc sinh làm chậm hoặc sai, tôi yêu cầu học sinh đó nêu lại cách làm Nếu học sinhkhông nêu được, tôi sẽ hướng dẫn giúp các em đó đến khi hiểu bài

Với cách làm như vậy, tôi đã bao quát được tất cả học sinh của lớp, biết được emnào còn non tôi kịp thời sửa sai được cho em đó Học sinh rất hứng thú, phấn khởi và tựtin khi tham gia học tập vì thời gian hết ít, nội dung ôn tập được nhiều Đây là cách làm

mà tôi nhận thấy rất hiệu quả khi ôn tập lại các kiến thức có liên quan đến chuyên đề toán

về dãy số

b Tổ chức các trò chơi học tập

Để giúp các em giảm bớt căng thẳng khi gặp các bài toán khó và củng cố đượckiến thức bài học cho các em Trong quá trình dạy học, tôi thường tổ chức trò chơi họctập vào cuối buổi học cho các em, như trò chơi: kết thân, đôi bạn cùng tiến, xì điện

Ví dụ: Trò chơi “Xì điện”

Mục đích: Giúp học sinh thuộc các bảng nhân, bảng chia đã học

Thời gian: 5 phút

Luật chơi: Lớp chia thành 3 đội để thi đua GV sẽ là người dẫn chương trình GV là

người đầu tiên sẽ đọc một phép tính Ví dụ: 3 nhân 4 bằng mấy? rồi chỉ vào một emthuộc một trong 3 đội, em đó phải nêu ngay ra được kết quả là 12 Nếu kết quả đúng thì

em đó có quyền “xì điện” một bạn thuộc đối phương Em đó sẽ đọc một phép tính bất

kì, ví dụ : 72 chia 8 bằng mấy? chỉ một bạn trong đội bên, bạn đó phải có kết quả ngay

là 9, rồi bạn lại “xì điện” cho một bạn đội còn lại Cứ thế, cho đến hết thời gian chơi,

đội nào có nhiều bạn trả lời đúng thì đội đó sẽ chiến thắng Thư kí sẽ ghi chép điểm cụthể

Qua cách làm trên, học sinh được liên tục củng cố về các kiến thức cơ bản Đặc biệt,rèn cho học sinh có tính tập trung và có phản xạ nhanh Đó là cơ sở vững chắc cho các emhọc tốt các kiến thức nâng cao trong các chuyên đề của CLB Toán 3

c Thường xuyên ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Ngày nay khi công nghệ thông tin (CNTT) càng phát triển thì việc ứng dụngCNTT vào tất cả các lĩnh vực là một tất yếu Trong những năm gần đây, CNTT đượcngành giáo dục ứng dụng mạnh mẽ Nhiều trường học đã đưa vào giảng dạy Tuy nhiên,

để sử dụng CNTT như thế nào cho hiệu quả và đạt được mục tiêu giáo dục mới là vấn

đề chúng ta quan tâm

Việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học là việc làm thường xuyên

của tôi trong các buổi lên lớp Đặc biệt, sau khi tiếp thu chuyên đề “Phần mềm hỗ trợ

soạn giảng tương tác thông minh” – Smart Learning Tôi đã sử dụng phần mềm để dạy

các tiết học trong chương trình chính khóa nhưng có chọn lọc Trong các tiết học đó, tôi

đã sử dụng một số trò chơi trong phần mềm để gây hứng thú học tập cho học sinh và mộtlần nữa giúp các em củng cố lại kiến thức đã học Để có thêm lượng bài tập, tôi đã vào tựthi các vòng Violimpic Toán 3 lấy đề và sắp xếp, bổ sung vào các chuyên đề giảng dạyhọc sinh tham gia CLB “Em yêu thích môn Toán” lớp 3 Đối với các buổi bồi dưỡngCLB Toán, tôi thường xuyên trình chiếu nội dung bồi dưỡng theo chuyên đề, học sinhchú ý hơn trong khi phân tích đề bài Hoặc khi giải bài toán theo các cách khác nhau,

đỡ mất thời gian ghi bảng mà học sinh sẽ làm được nhiều bài tập

Trang 12

HÌNH ẢNH HỌC SINH HỌC CLB TOÁN LỚP 3

Việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học là làm thay đổi nội dung và phươngpháp truyền giảng dạy của giáo viên, làm cho giờ học trở nên sinh động Học sinh hứng thúhọc và thu hút được tất cả các em tham gia học một cách tích cực nhất

4.4 Tổ chức giảng dạy CLB “Em yêu thích môn Toán” theo các chuyên đề.

Việc tổ chức dạy học theo chuyên đề sẽ mang lại chất lượng dạy học tốt Với mỗichuyên đề, tôi sẽ dạy chuyên sâu cho học sinh theo từng dạng bài từ dễ đến khó Sau mỗichuyên đề, tôi luôn có hệ thống ôn tập tổng hợp cho học sinh Học sinh sẽ nắm kiến thứcmột cách bền vững Ngoài nội dung kiến thức theo chuyên đề, tôi luôn lựa chọn nhữngphương pháp giảng giải dễ hiểu nhất để hướng dẫn học sinh, không nên máy móc theo cácsách giải Cần vận dụng và đổi mới phương pháp dạy học, tạo cho học sinh có cách họcmới, không áp đặt, tôn trọng và khích lệ những sáng tạo mà học sinh đưa ra

*Chuyên đề về dãy số.

Trước khi dạy chuyên đề về dãy số, tôi củng cố các dạng toán cơ bản về

dãy số các em đã được học trong chương trình lớp 2 Tôi đã nghiên cứu để tìm

cách dạy các dạng toán về dãy số cho học sinh một cách dễ hiểu nhất

Để thuận tiện trong việc giúp các em dễ dàng tiếp thu, ghi nhớ, nhận dạng cácbài toán và lựa chọn cách giải thích hợp Dựa theo vốn kiến thức của học sinh, sự tiếpthu bài của lớp, khi dạy chuyên đề về dãy số tôi chia thành các dạng toán phù hợp vớiđối tượng học sinh lớp 3 như sau:

Dạng 1: Xác định quy luật của dãy số

Dạng 2: Xác định số a có thuộc dãy số đã cho hay không?

Dạng 3: Tìm số số hạng của dãy số

Dạng 4: Tìm số hạng thứ n của dãy số cách đều theo số thứ tự.

Dạng 5: Tìm số chữ số của dãy số

Tôi đã xây dựng từng giải pháp và dạy từng dạng toán như sau:

Dạng 1: Xác định quy luật của dãy số.

Đây là dạng đầu tiên của chuyên đề về dãy số nên tôi giới thiệu cho học sinh về

dãy số: Dãy số là danh sách các số được liệt kê theo một thứ tự nào đó Còn dãy số

Trang 13

cách đều là danh sách các số được liệt kê theo theo một khoảng cách nhất định Trong

1 dãy số có thể có nhiều quy luật khác nhau nhưng tôi luôn hướng dẫn học sinh tìmquy luật dễ và đơn giản nhất

+ Số số hạng: Số lượng số hạng có trong dãy số

+ Khoảng cách: Là đơn vị cách đều giữa các số hạng.(Khoảng cách là 5 đơn vị)

+ Số khoảng cách: Số lượng khoảng cách cách đều của dãy số

+ Số thứ tự: Được gọi theo vị trí của mỗi số hạng theo thứ tự từ trái sang phải

Sau khi học sinh nắm được các lưu ý trên, tôi hướng dẫn các em cách xác địnhquy luật của dãy số như sau:

Ví dụ 1: Viết tiếp hai số hạng vào dãy sau: 1; 3; 5; 7;…;…

Ví dụ 2: Tìm số hạng đầu tiên của dãy: …;…; 17; 19; 21 (biết rằng dãy số có

- Bước 1: Phân tích các số hạng đã cho

- Bước 2: Tìm ra quy luật của dãy số

- Bước 3: Viết dãy số đầy đủ theo yêu cầu

Sau khi học sinh nắm vững cách giải bài toán này thì các em giải một số bàitoán tương tự một cách dễ dàng

*Một số bài tập vận dụng (có trong phụ lục 1).

Dạng 2: Dạng toán xác định số a có thuộc dãy số đã cho hay không?

Với dạng toán này khi giải học sinh có thể nêu được kết quả nhưng giải thích thìphần lớn các em không giải thích được, hoặc gặp những bài phức tạp hơn các em sẽlúng túng vì thế sẽ dẫn đến sự nhàm chán

Trang 14

Ví dụ 1: Số 43 có thuộc dãy số: 30; 33; 36; … không? Giải thích tại sao?

Để làm được bài này tôi đã cho học sinh quan sát, phân tích các số hạng đã cho

để tìm ra quy luật của dãy số như đã phân tích với dạng 1

Ta có: 30 : 3 = 10

33 : 3 = 11

36 : 3 = 12

Vậy, trong dãy số trên, các số hạng chia hết cho 3

Mà 43: 3 = 14 (dư 1) nên 43 không thuộc dãy số

Ví dụ 2: Hãy cho biết số 50 có thuộc dãy số 90; 95; 100;…không?

Tương tự như ví dụ 1 tôi yêu cầu học sinh phân tích để tìm quy luật của dãy số

Ta thấy dãy số trên là các số lớn hơn 90 và chia hết cho 5 Mà 50 < 90 ; Nên số 50không thuộc dãy số trên

*Các bước giải:

- Bước 1: Xác định quy luật của dãy số

- Bước 2: Kiểm tra số a có thuộc quy luật đó không

- Bước 3: Kết luận

*Một số bài tập vận dụng (có trong phụ lục 1).

Dạng 3: Dạng toán tìm số số hạng của dãy số.

Đây là một dạng toán phức tạp, khi gặp dạng toán này thì các em sẽ mất nhiềuthời gian nhưng kết quả bài làm đúng không cao

Ví dụ 1: Cho dãy số: 4; 6; ; ; 12 Dãy trên có bao nhiêu số hạng?

Thông thường giải bài toán này, học sinh liệt kê rồi đếm số Chẳng hạn: 4; 6; 8;10; 12 (có năm số hạng) Đối với ví dụ này dãy số có ít số hạng nên học sinh có thể liệt

kê để đếm được nhưng với nhiều dãy số khác có nhiều số hạng

thì liệt kê các số và đếm là rất khó khăn

Để khắc phục lỗi trên tôi hướng dẫn học sinh phân tích và làm như sau: Trướctiên cho học sinh nhận diện: đây là dãy số cách đều có số đầu dãy là 4, cuối dãy là 12

và cách đều 2 đơn vị Vậy nên để tìm số số hạng của dãy này ta có thể làm như sau:(12 - 4) : 2 + 1 = 5 (số hạng)

Ví dụ 2: Cho dãy số: 1; 4; 7; ; 217 Dãy trên có bao nhiêu số hạng?

Ở ví dụ này nếu học sinh liệt kê các số ra để đếm thì rất mất thời gian và chưachắc đếm đã đúng Để khắc phục tôi đã hướng dẫn học sinh thực hiện như đối với ví

dụ 1 Cần cho học sinh nhận thấy đây là dãy số cách đều 3 đơn vị, có số đầu dãy là 1,cuối dãy là 217 nên số số hạng của dãy có thể tính như sau: (217 - 1) : 3 + 1 = 73 (sốhạng)

* Các bước giải:

Bước 1: Xác định số hạng đầu, số hạng cuối

Bước 2: Tìm khoảng cách giữa các số hạng

Bước 3: Rút ra công thức tính

- Trường hợp các số hạng trong dãy số xếp theo thứ tự từ bé đến lớn:

+ Số số hạng = (số hạng cuối – số hạng đầu) : khoảng cách + 1

- Trường hợp các số hạng trong dãy số xếp theo thứ tự từ lớn đến bé:

+ Số số hạng = (số hạng đầu – số hạng cuối) : khoảng cách + 1

* Một số bài tập vận dụng (có trong phụ lục 1)

Ngày đăng: 16/10/2019, 08:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w