Trong tất cả các môn học ở tiểu học, môn Toán là môn học có vị trí quantrọng, nó góp phần trong việc đặt nền móng để hình thành và phát triển nhân cáchhọc sinh và đây cũng là môn học mà
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài.
Trong tất cả các môn học ở tiểu học, môn Toán là môn học có vị trí quantrọng, nó góp phần trong việc đặt nền móng để hình thành và phát triển nhân cáchhọc sinh và đây cũng là môn học mà đa số học sinh rất ngán học vì nó tuân thủ theonhững nguyên tắc, tính chất nên khó tiếp thu hơn những môn học khác [3]
Chính vì vậy, một yêu cầu đặt ra cho giáo viên Tiểu học trong giai đoạn hiệnnay là cần quan tâm nhiều hơn đến việc hình thành và bồi dưỡng hứng thú học tậpcho học sinh bằng các phương pháp dạy học mới, phù hợp và thực sự có hiệu quả
Do vậy, mỗi giáo viên phải không ngừng học hỏi, suy nghĩ để tìm ra những cáchthức, những con đường thuận lợi nhất để đạt được mục đích đó Có thể nói làm thếnào để vừa kích thích hứng thú học tập của học sinh vừa thực hiện tốt mục tiêu tiếtdạy là sự trăn trở của tất cả giáo viên nói chung
Có thể nói hứng thú học tập có vai trò to lớn trong việc nâng cao chất lượnghọc tập của học sinh và sự phát triển nhân cách của các em Hứng thú học tập mônToán của học sinh Tiểu học nhìn chung vẫn còn bị hạn chế, không ít em sợ toán,coi việc học toán là một công việc nặng nhọc, căng thẳng Từ những lí do trên chothấy có thể do các em chưa nhận biết tầm quan trọng và ý nghĩa của việc học toán,chưa được kích thích hành động tích cực, sáng tạo trong quá trình giải toán; còn cóthể do nội dung môn Toán khô khan, phương pháp dạy của giáo viên chưa thật sựhấp dẫn Nhất là môn Toán lớp 4 kiến thức nhiều, đòi hỏi sự suy luận cao Mặtkhác, trên thực tế những nghiên cứu hình thành hứng thú học môn Toán cho họcsinh Tiểu học còn chưa được nghiên cứu mang tính hệ thống, đặc biệt đối với họcsinh Tiểu học ở những vùng nông thôn Vậy làm thế nào để học sinh có cái nhìnkhác về toán, giúp cho mỗi giờ học toán bớt đi sự căng thẳng, các em tìm thấy niềmvui trong môn học khô khan này để từ đó chất lượng môn Toán dần được nâng cao
là điều mà lâu nay tôi trăn trở
Chính vì lẽ đó, việc sử dụng những trò chơi, câu đố khiến các em đào sâukiến thức, nhớ kiến thức một cách chắc chắn và được lâu Từ những câu thơ có vần,
có điệu, học sinh có thể nắm các công thức, các khái niệm và dễ dàng vận dụngthực hành Nó còn có tác dụng làm cho các em yêu trường, yêu lớp, yêu thầy cô,bạn bè, làm cho các em thích đi học
Thực tế qua giảng dạy, nhận thấy rõ yêu cầu, phức tạp, những vướng mắc củahọc sinh trong quá trình học toán, tôi xin mạnh dạn nêu ra một số kinh nghiệm mà
tôi đã áp dụng để việc dạy - học môn Toán đạt hiệu quả tốt nhất Đó là: Một số biện pháp gây hứng thú học tập môn Toán cho học sinh lớp 4C ở Trường tiểu học Vĩnh Thành.
2 Mục đích nghiên cứu.
Việc nghiên cứu “Một số biện pháp gây hứng thú học tập môn Toán cho họcsinh lớp 4” nhằm nâng cao hiệu quả học toán cho học sinh thông qua các trò chơi,câu đố….Từ đó giúp giáo viên xác định yêu cầu khi thiết kế và tổ chức các hoạtđộng học tập Toán theo từng nội dung kiến thức cụ thể nhằm gây hứng thú cho họcsinh
Trang 23 Đối tượng nghiên cứu.
- Học sinh lớp 4 và giáo viên dạy khối 4 của Trường tiểu học Vĩnh Thành
- Nội dung, chương trình Toán tiểu học nói chung và nội dung chương trìnhToán lớp 4 nói riêng
- Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
- Nội dung chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên Toán lớp 4
4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Nhằm nắm vững mụctiêu, yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, thái độ của môn Toán lớp 4
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Nhằm có đượcthông tin cơ bản nhất về chất lượng học Toán ở lớp 4
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Để tính, phân tích số liệu và % số liệuthu được
- Phương pháp quan sát: Giúp thu được những thông tin trực tiếp về việc dạyToán lớp 4
NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 1.Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 4nói riêng rất ham chơi, thích tìm hiểu điều mới lạ nhưng lại rất nhanh chán, dễ nhớnhưng lại cũng chóng quên Do vậy dạy học theo quan điểm “Thông qua hoạt độngvui chơi để tiến hành hoạt động học tập, học mà chơi, chơi mà học” phù hợp vớiđặc điểm tâm lí lứa tuổi các em Đồng thời đáp ứng được mục tiêu giáo dục theohướng đổi mới hiện nay Hơn nữa, môn Toán - một môn học được coi là khó khănhóc búa thì việc tạo hứng thú học tập cho học sinh là rất phù hợp
Hứng thú là một thuộc tính tâm lí - nhân cách của con người Hứng thú có vaitrò rất quan trọng trong học tập và làm việc, không có việc gì người ta không làmđược dưới ảnh hưởng của hứng thú M.Gorki từng nói: “Thiên tài nảy nở từ tìnhyêu với công việc”[2] Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức,giúp học sinh học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn của sựsáng tạo Trong khi đó, việc khảo sát thực tế dạy học ở Tiểu học bằng nhiều conđường (lấy phiếu hỏi từ các cấp quản lí giáo dục, từ các giáo viên, các bậc phụhuynh và học sinh, quan sát và làm các đo nghiệm khách quan trên học sinh) đãcho thấy nhiều học sinh Tiểu học không có hứng thú trong học tập môn Toán Điềunày vừa được xem như là một biểu hiện, vừa được xem như một nguyên nhân cơbản của việc suy giảm chất lượng dạy học toán ở Tiểu học
Hứng thú học tập có vai trò rất lớn trong hoạt động học tập của học sinh, làmtăng hiệu quả của quá trình nhận thức Do đó, bồi dưỡng hứng thú học tập là mộtviệc làm thiết thực có tác động mạnh mẽ đến quá trình học tập của học sinh Bởi vìkhông thể làm tốt một việc nếu ta không có hứng thú với việc đó Đối với trẻ em,đặc biệt là học sinh Tiểu học, hứng thú là động cơ mãnh liệt thúc đẩy sự phát triển
về nhiều mặt Các em không thể học tốt nếu không có hứng thú với việc tiếp thubài trên lớp cũng như chuẩn bị bài ở nhà
Trang 3Tuy nhiên để tạo hứng thú học tập cho học sinh Tiểu học, người giáo viên cầnhiểu rõ những đặc điểm tâm lí của các em thì mới tìm được phương pháp tối ưutrong quá trình giảng dạy Học sinh Tiểu học có lối tư duy cụ thể, mang tính hìnhthức, chưa bền vững Ngoài đặc điểm chung về tâm lí thì học sinh Tiểu học cònmang tâm lí bất an, lo lắng, sợ sệt vì sức ép bài vở, thầy cô, bạn bè, áp lực từ nhữngngười thân trong gia đình.
Hứng thú có vai trò qua trọng như vậy nên điều quan trọng và quyết định trướchết trong việc giúp học sinh học tốt môn Toán là khơi dậy và phát triển hứng thúcủa học sinh đối với môn Toán
2 Thực trạng của việc dạy và học Toán lớp 4 trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm ở Trường tiểu học Vĩnh Thành.
2.1 Thực trạng việc dạy của giáo viên.
Trong những năm gần đây, bậc Tiểu học đã và đang tích cực đổi mới về nộidung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho giờ học thoải mái, nhẹnhàng và đạt hiệu quả cao Hiện nay việc dạy học Toán ở Tiểu học về cơ bản đã cóđổi mới về phương pháp nhưng chưa thực sự phát huy hết vai trò của người họccũng như chưa phát huy hết tính tích cực chủ động chiếm lĩnh kiến thức của họcsinh
Mặt khác, một số giáo viên không sử dụng đồ dùng dạy học hoặc sử dụngkhông triệt để, điều đó khiến các em tiếp thu kiến thức mới rất khó khăn Các em ítđược quan sát trực quan mà khả năng tư duy trừu tượng của các em lại rất hạn chế Việc thiết kế, vận dụng trò chơi, câu đố toán học vào giảng dạy của một sốgiáo viên vẫn còn lúng túng, chưa đúng lúc, đúng chỗ, mang tính hình thức
Trong quá trình dạy học, giáo viên luôn chú trọng làm thế nào để hoàn thànhtiết dạy, hoàn thành mục tiêu bài học, học sinh nắm được kiến thức mà chưa chú ýđến phương pháp, hình thức tổ chức lớp học để học sinh tiếp thu kiến thức mộtcách dễ chịu, nhẹ nhàng nhất Dẫn đến có em ngại giờ học toán, sợ học toán, ảnhhưởng không tốt đến kết quả học tập của học sinh
2.2 Thực trạng việc học của học sinh.
Từ việc dạy học theo kiểu áp đặt, khô khan của giáo viên mà học sinh tiếp thukiến thức một cách thụ động Các quy tắc, công thức toán học đều được thầy đưa ra
và học sinh có nhiệm vụ phải nhớ Chính vì vậy mà các em tiếp thu kiến thứckhông vững, dễ nhớ nhưng lại chóng quên Học sinh chưa thật sự tập trung học tập.Trong khi cô giáo giảng bài vẫn có học sinh nói chuyện riêng, trêu bạn, chơi một sốtrò chơi
2.3 Kết quả của thực trạng.
a) Khảo sát mức độ hứng thú và chất lượng môn Toán của học sinh.
Năm học 2018 - 2019, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm và giảng dạylớp 4C Ngay sau khi nhận lớp, tôi đã tiến hành điều tra mức độ hứng thú học toán
(theo phụ lục 1) cho học sinh lớp 4C Trường tiểu học Vĩnh Thành, kết quả như
sau:
Trang 4Bên cạnh đó, tôi cũng tiến hành khảo sát chất lượng môn Toán đầu năm học
2018 - 2019 (theo phụ lục 2), tôi thu được kết quả như sau:
Sỉ số Điểm 9-10 Điểm 7- 8 Điểm 5- 6 Điểm dưới 5
Nguyên nhân:
- Các em còn sợ môn Toán vì thấy nó khô khan, hóc búa, phải tính toán nhiều
và suy luận cao
- Các em chưa nắm vững kiến thức, chưa có phương pháp học tập, chưa chămhọc, chưa chịu khó suy nghĩ làm bài, ngại học, tiếp thu bài một cách thụ động
- Giáo viên chưa có phương pháp tối ưu kèm cặp, giúp đỡ học sinh
- Phụ huynh của những HS này chưa thực sự quan tâm tới các em, các em chỉhọc ở lớp, về nhà bố mẹ không nhắc nhở, bảo ban
Là giáo viên trực tiếp dạy học lớp 4, tôi đã băn khoăn trăn trở rất nhiều về vấn
đề đó Để việc dạy và học môn Toán lớp 4 đạt hiệu quả cao hơn, tôi mạnh dạnnghiên cứu, tìm tòi và học hỏi đồng nghiệp để đưa ra một số biện pháp góp phầngây hứng thú học tập cho học sinh nhằm đáp ứng với yêu cầu phát triển giáo dụctoàn diện trong giai đoạn hiện nay
3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
3.1 Đưa các tình huống có vấn đề vào giới thiệu bài mới.
Việc này cần thiết ngay từ đầu giờ lên lớp để thu hút được học sinh, dẫn dắtcác em tự giác tìm hiểu nội dung
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” (Trang
47- SGK Toán 4) [1]
Giáo viên giới thiệu bài bằng tình huống có vấn đề như sau: Mẹ cho hai anh
em 8 cái kẹo, mẹ bảo anh lớn nên nhường em phần hơn, em phải được nhiều hơnanh 2 cái Nếu là anh, em sẽ chia thế nào?
Học sinh sẽ nói ngay: Anh 3 cái, em 5 cái Làm thế nào để chia như vậy?
Cách 1: Lấy 8 : 2 = 4; sau đó anh đưa cho em 1 cái.
Trang 5Cách 2: Bỏ riêng 2 cái ra, còn 6 cái chia đều cho 2 anh em, mỗi người được 3
cái Sau đó cho em 2 cái đã để riêng
Các em có nhiều cách giải quyết Nhưng làm cách nào nhanh, chặt chẽ và hiệuquả chúng ta sẽ tìm hiểu ở bài học ngày hôm nay
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Tính chất kết hợp của phép cộng” (Trang 45- SGK
Toán 4) [1], giáo viên đưa ra bài toán khi vào bài mới:
3 bạn thi cắt hoa giấy: Bạn A cắt: 38 bông
Bạn B cắt: 50 bông 3 bạn cắt được ? bông hoa Bạn C cắt: 50 bông
Học sinh nêu phép tính: (38 + 50) + 50 = 88 + 50 = 138 Học sinh nêu cách tính nhanh hơn:
38 + (50 + 50) = 38 + 100 = 138 Hai cách làm trên đều đúng, ta nên chọn cách tính nào? Vì sao?
Cách tính thứ 2 đã áp dụng một tính chất của phép cộng và bây giờ chúng ta sẽ
đi tìm hiểu tính chất này nhé Các em muốn tìm hiểu chứ?
Ví dụ 3: Khi dạy bài “Phân số” (Trang 106 - SGK Toán 4) [1], giáo viên đưa
ra các tình huống có vấn đề:
+ Giáo viên đưa ra 4 quả bóng bay và giơ từng quả lên hỏi:
- Đây là mấy quả? (1 quả)
- Biểu diễn bằng số mấy? (Số 1)
Giáo viên đưa 2 quả bóng và hỏi:
- Đây là mấy quả? (2 quả)
- Biểu diễn bằng số máy? (Số 2)
+ Giáo viên cắt 1 quả cam thành 4 phần bằng nhau và đưa ra từng phần hỏi:
- 1 miếng gọi như thế nào? Biểu diễn bằng số 1 (quả) được không?
Như vậy một miếng cam phải gọi như thế nào, hôm nay cô sẽ giới thiệu vớicác em một loại số mới, không phải là số tự nhiên, đó là phân số
Một bài tập nhỏ, một tình huống có vấn đề được nêu ra khi giới thiệu bài mới
là một cách làm có thể hơi mất thời gian nhưng điều đó sẽ tạo cho học sinh sự tò
mò, kích thích tính chủ động học bài mới của học sinh
3.2 Xen những câu đố vui có liên quan đến nội dung bài học:
Đố vui toán học giúp học sinh thư giãn thoải mái trong lớp (đố vui có thể xem
là một hình thức giải lao tích cực) Đố vui tạo ra tình huống kích thích học sinh suynghĩ, góp phần rèn luyện năng lực, tư duy sáng tạo và gây hứng thú toán học chohọc sinh.[6]
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Tính chất giao hoán, tính chất kết hợp của phép cộng” (Trang 42- SGK Toán 4) [1], giáo viên đưa ra câu đố: Đố bạn, không tính
mà trả lời được kết quả sau là đúng hay sai:
134 + 53 + 157 + 64 - 35 = 344
Học sinh sử dụng tính chất giao hoán, kết hợp và nhẩm hàng đơn vị để tìm rakết quả là sai
Trang 6Ví dụ 2: Khi dạy bài “Dấu hiệu chia hết cho 2” (Trang 94 - SGK Toán 4) [1],
GV đưa ra câu đố:
Một lớp học có số học sinh bé hơn 50 nhưng lớn hơn 30 Khi xếp thành hàng 2hay hàng 5 đều không thừa không thiếu bạn nào Hỏi lớp đó có mấy bạn?
Học sinh nêu cách làm: Vì khi xếp thành hàng 2 hay hàng 5 đều không thừa
không thiếu bạn nào nên số học sinh của lớp là 1 số chia hết cho 2 và 5 Vậy số họcsinh của lớp là 40 bạn
Ví dụ 3: Khi dạy bài “Hình bình hành” (Trang 102 - SGK Toán 4) [1], GV
nêu câu đố:
Với 6 que diêm, con hãy xếp thành 6 hình bình hành
Học sinh thực hành xếp, 1 em lên bảng xếp:
Ví dụ 4: Khi dạy dạng toán “Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó”
(Trang 47 - SGK” [1], GV đưa ra câu đố củng cố bài: Nam và Lan hái được 10bông hoa Nếu Lan bớt đi 2 bông hoa thì số bông hoa của 2 bạn bằng nhau Vậymỗi bạn hái được bao nhiêu bông hoa?
Học sinh trả lời: Nếu Lan bớt đi 2 bông thì số hoa của 2 bạn bằng nhau nên
Lan hái nhiều hơn Nam 2 bông Hiệu của 2 số
Hai bạn hái được 10 bông Tổng của 2 số
Vậy Lan hái được: (10 + 2) : 2 = 6 (bông)
Nam hái được: 10 - 6 = 4 (bông)
Ví dụ 5: Khi dạy bài “Bảng đơn vị đo khối lượng” (Trang 24 - SGK Toán 4)
[1], giáo viên nêu câu đố: Có 3 chú thỏ trông giống nhau, nhưng có 2 chú nặngbằng nhau và 1 chú nặng hơn Các chú thỏ rất thích chơi bập bênh Không cần dùngcân, với chiếc cầu bập bênh đó hãy phát hiện ra 2 chú thỏ nhẹ hơn
Học sinh giải câu đố: Đặt bất kì 2 chú thỏ lên cầu bập bênh, nếu:
- Cầu cân bằng thì suy ra chú thỏ còn lại nặng hơn
- Cầu lệch thì bên thấp hơn sẽ là chú thỏ nặng hơn
Như vậy, việc sử dụng câu đố toán học và việc dạy toán là một nghệ thuât.Câu đố sát với nội dung bài, đưa ra đúng lúc, đúng chỗ sẽ gây hứng thú cho họcsinh Nên cho nhiều học sinh trình bày lời giải để các em được luyện tập và bảo vệ
ý kiến của mình Lời giải câu đố toán học không yêu cầu chặt chẽ như lời giải bàitập toán, nói chung chỉ cần học sinh nêu được đáp số và đưa ra lời giải cơ bản vàngắn gọn Giáo viên lắng nghe tất cả ý kiến, đánh giá động viên là chính, biểudương tổ nhóm có nhiều người tham gia
3.3 Kể những câu chuyện Toán học hấp dẫn.
Truyện kể Toán học là câu chuyện có nội dung liên quan đến Toán học hoặccác nhà toán học Kể chuyện toán học có thể xem là một hình thức hoạt động dạy
Hoặc
Trang 7học Kể chuyện một mặt làm thay đổi không khí lớp học như một hình thức nghỉngơi tích cực, thư giãn đầu óc, chuẩn bị để tiếp tục học tập, mặt khác có tác dụng
hỗ trợ dạy học toán thông qua việc đưa học sinh vào tình huống có vấn đề cần phảisuy nghĩ để đề xuất cách giải quyết
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Dãy số tự nhiên” (Trang 19 - SGK Toán 4), giáo viên
kể chuyện về Gau-xơ - nhà toán học Đức, sống ở thế kỉ XIX [4]
Thủa nhỏ Gau-xơ đã thể hiện năng khiếu thiên tài về toán học Một lần thầy ra
đề toán: Tìm tổng của các số tự nhiên từ 1 đến 100 Thầy giáo nghĩ học sinh phảiđánh vật với phép cộng dài dằng dặc, nhưng chỉ sau 1 phút cậu bé Gau-xơ đã tínhxong và giơ tay xin trả lời Thầy nhắc cậu học trò nên suy nghĩ tiếp không đượchấp tấp kẻo dễ nhầm lẫn Gau-xơ cam đoan với thầy là đã làm đúng và khẳng địnhtổng cần tìm là 5050 Thầy giáo đành cho Gau-xơ trình bày ý kiến của mình:
Gau-xơ viết: 1 + 2 + 3 + + 98 + 99 + 100 và lập luận:
1 + 100 = 101
2 + 99 = 101 50 cặp
3 + 98 = 101
=> Tổng là: 101 x 50 = 5050
Cả lớp thán phục Gau-xơ, thầy giáo xúc động nói: Em giỏi lắm! Cám ơn em.Thầy giáo tin vào khả năng của học trò mình, ông hi vọng Gau-xơ sẽ trở thành mộtnhà Toán học Và thầy đã không nhầm Đó là câu chuyện nên kể vào tiết dạy luyệntập về số tự nhiên
Ví dụ 2: Khi dạy về “số đo thời gian, số đo độ dài”, giáo viên kể chuyện:
“Một người ưa chính xác” [4]
Một người khách đi về thành phố dự hội nghị Gặp một thanh niên dáng thôngminh ngồi uống nước trong quán nước bên đường, người khách hỏi:
- Từ đây về thành phố đi hết bao lâu, người bạn trẻ?
Người thanh niên quay mặt về phía người khách, có ý dò xét nhưng không nói
gì Người khách thấy vậy liền đi tiếp về phía thành phố Khi người khách đi được
10 bước thì thì nghe thấy người thanh niên nói với theo:
- Ông đi từ đây về thành phố hết 1 giờ 30 phút
Thấy vậy bà cụ bán quán bèn hỏi chàng trai:
Trang 8- Tại sao anh không trả lời người ta ngay mà lại để người ta đi rồi mới nói vớitheo?
Theo các em, người thanh niên ấy trả lời như thế nào?
Cho học sinh phát biểu ý kiến
Sau đó giáo viên kể tiếp:
Chàng trai nói:
- Cháu phải xem ông ta đi 10 bước được bao nhiêu mét và hết bao nhiêu lâuthì mới có thể trả lời chính xác cho ông ấy được, cụ ạ
Hoặc kể giai thoại “Trạng Lường cân voi” [4]:
Tương truyền, có lần, đoàn sứ bộ nhà Minh sang nước ta Vua Lê Thánh Tông
cử trạng nguyên Lương Thế Vinh đón tiếp Trưởng đoàn sứ Minh vốn nghe tiếngTrạng nguyên Việt chẳng những nổi tiếng về văn chương, mà còn có trí thức uyênbác về khoa học, bèn hỏi: “Có phải ông là người làm ra sách Đại thành toán pháp?”Lương Thế Vinh khiêm tốn, đáp: “Vâng, đúng vậy!”
Nhân lúc đó có con voi đang kéo gỗ dưới sông lên, sứ Tàu bèn thách:
- Vậy quan trạng có thể cân xem con voi kia nặng bao nhiêu được không?
- Được chứ!
Dứt lời, Lương Thế Vinh lấy chiếc cân, xăm xăm đi ra phía sông để cân voi
Sứ Tàu phì cười, nói:
- Xem ra chiếc cân quan trạng chỉ đủ cân được cái đuôi voi thôi!
- Thì chia nhỏ voi ra nhiều phần để cân” - Lương Thế Vinh trả lời
Sứ Tàu lại châm chọc:
- Ông định mổ thịt voi chắc? Nhớ phần tôi miếng gan nhé!
Lương Thế Vinh không trả lời Ông sai lính dắt voi xuống chiếc thuyền lớnđang neo tại bờ sông, đợi khi con voi đã đứng yên thì sai người đánh dấu mép nướcbên mạn thuyền, rồi dắt voi lên bờ Sau đó, ông ra lệnh cho quân lính khuân đá bỏvào thuyền, cho đến khi thuyền chìm xuống ngang mực nước đã đánh dấu thì thôi.Thế rồi trạng cho bắc cân cân hết số đá trong thuyền và bảo với sứ Minh:
- Đây, con voi ông chỉ, nặng chừng này cân!
Viên sứ Tàu tuy trong bụng đã phục lăn, nhưng bề ngoài vẫn làm vẻ chưa tin,muốn thử tài trạng thêm, bèn xé một tờ giấy bản trong cuốn sách dày và đưa chotrạng một chiếc thước, nhờ đo xem tờ giấy dày bao nhiêu Tình huống đặt ra thậtkhó xử Tờ giấy quá mỏng, mà các nấc chia trên thước vừa lớn, lại không rõ
Trang 9Nhưng với trí tuệ linh hoạt, Lương Thế Vinh đã nghĩ ngay được cách đo Ôngmượn viên sứ Tàu quyển sách, lấy thước đo chiều dày cả quyển, rồi chia cho sốtrang sách và tìm ra đáp số trước con mắt thán phục của sứ bộ nhà Minh.
Có thể nói, những câu chuyện kể toán học có nhiều song giáo viên nên lựachọn phù hợp nội dung bài với lứa tuổi học sinh Sau câu chuyện, giáo viên có thểnêu câu hỏi, nêu vấn đề để học sinh suy nghĩ, trao đổi tạo không khí thoải mái vàhưng phấn làm việc cho học sinh Truyện kể toán học cũng góp phần giáo dục họcsinh ý thức sáng tạo trong lao động, tinh thần yêu nước, tính nhân đạo Một câuchuyện kể trong một vài phút nhưng có thể để lại ấn tượng sâu sắc, đậm nét suốtđời học sinh
3.4 Gây hứng thú bằng cách tổ chức trò chơi Toán học:
Trong nhà trường trò chơi toán học có thể tố chức như mọi hoạt động dạy họctoán Cơ sở tâm lí và sinh lí khẳng định hoạt động dạy học toán dưới dạng trò chơitoán học rất phù hợp với lứa tuổi Tiểu học Trò chơi toán học có thể xen kẽ giữagiờ để giảm căng thẳng và tạo hứng thú cho học sinh tiếp tục học hoặc chơi đểcủng cố kiến thức.[7]
Ví dụ 1: Trò chơi: “Bịt mắt chọn hình”.
+ Mục tiêu: Học sinh luyện kĩ năng nhận dạng hình.
+ Chuẩn bị: 50 bìa cứng (gồm 10 hình vuông, 10 hình chữ nhật, 10 hình tam giác,
10 hình bình hành, 10 hình tứ giác)
+ Cách tiến hành: 4 học sinh cùng chơi, đặt tên cho 1 em là “hình vuông”, 1 em là
“hình chữ nhật”, 1 em là “hình bình hành”, 1 em là “hình tam giác” Sau đó bịt mắt,mỗi em phải lấy ra các miếng bìa trùng với tên mình Bạn nào lấy đủ 10 miếng bìatrước là người thắng cuộc
Ví dụ 2: Trò chơi: “Phân số tìm bạn”
+ Mục tiêu: Củng cố cách tìm phân số bằng nhau
+ Chuẩn bị: - 10 tấm bìa đỏ, mỗi tấm bìa ghi 1 phân số:
Trang 10Ví dụ 3: Trò chơi: “Gieo xúc xắc và phát biểu quy tắc”.
+ Mục tiêu: Luyện tập củng cố về dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5,9
+ Chuẩn bị: 2 quân xúc xắc, các mặt chỉ có in số 2, 3, 5 hoặc 9
+ Cách tiến hành: 2 đội chơi, mỗi đội 10 người chơi xếp theo thứ tự: 1, 2, 3, 4, 5,
10 và một người đại diện gieo xúc xắc Đặt tên đội A và đội B Đội A gieo xúc xắcđược mặt 3 thì người số 1 đội A phải nêu được dấu hiệu chia hết cho 3 và người số
1 của đội B đưa ra một số và hỏi người số 1 của đội A xem số đó có chia hết cho 3không? Nếu trả lời đúng 2 ý thì được 2 điểm, sai ý nào trừ 1 điểm Sau đó chuyểncho đội B gieo xúc xắc Giáo viên làm trọng tài
Cứ làm như vậy cho hết 10 người Mỗi đội lúc đầu đều được nhận 10 điểm.Hết thời gian đội nào ghi được nhiều điểm đội đó thắng
Như vậy, cứ mỗi mảng kiến thức, giáo viên có thể tự nghĩ ra được các trò chơiphù hợp Các trò chơi nên dễ hiểu, dễ chơi thì mới gây hứng thú cho học sinh vàlàm cho tiết học bớt căng thẳng
3.5 Giúp học sinh nắm vững các quy tắc và công thức toán học trên các câu thơ có vần, có điệu.
Ở lứa tuổi tiểu học, học sinh vẫn mang nặng tính ham chơi, chưa ý thức đượcviệc học, vì thế người thầy phải hiểu được tâm lý lứa tuổi các em, phải làm sao kếthợp được giữa việc học và chơi để gây hứng thú học tập cho học sinh
Môn toán là một môn học khô khan, tiếp thu kiến thức đã khó, ghi nhớ kiếnthức lại càng khó hơn Học sinh ghi nhớ các công thức, các quy tắc một cách máymóc thường chóng quên hoặc hay nhầm lẫn Vì thế tôi quyết định tìm những câunói vần phù hợp với nội dung của từng quy tắc tính diện tích một số hình để củng
cố mỗi khi học xong nội dung của từng bài có liên quan Các quy tắc, các công thứcbằng những câu nói vần thường dễ đi vào lòng người hơn do có vần, có điệu nênhọc sinh rất thích, rất dễ nhớ, dễ học thuộc và từ đó cũng giảm áp lực môn toán chohọc sinh Vì thế, học sinh tiếp thu bài cũng hiệu quả hơn
Ví dụ: S Hình vuông = a x a (S: diện tích, a: cạnh)
Muốn tính diện tích hình vuông Cạnh nhân với cạnh thật không khó gì
PHình vuông = a x 4 ( P: chu vi, a: cạnh)
Muốn tính chu vi hình vuông Cạnh nhân với 4 khó chi rườm rà
S Hình chữ nhật = a x b (S: diện tích, a: chiều dài, b: chiều rộng)
Diện tích chữ nhật thì cầnChiều dài, chiều rộng ta đem nhân vào
Hay: Hình chữ nhật vốn dễ tính
Rộng nhân dài nhất định phải ra
Diện tích phải tính đâu xaLàm xong mới biết rằng ta có tài
P Hình chữ nhật = (a + b) x 2 (P: chu vi hình chữ nhật; a: chiều dài; b: chiều rộng) Chu vi chữ nhật tính sao
Chiều dài, chiều rộng cộng vào nhân hai