1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn thể dục cho học sinh lớp 1a trường tiểu học lương ngoại

20 247 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 340 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH THANH HÓAPHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN BÁ THƯỚC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM "BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN THỂ DỤC CHO HỌC SINH LỚP 1A TRƯỜNG TIỂU

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH THANH HÓA

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN BÁ THƯỚC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

"BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY

MÔN THỂ DỤC CHO HỌC SINH LỚP 1A TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG NGOẠI "

Người thực hiện : Trần Xuân Minh

Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Lương Ngoại SKKN thuộc lĩnh vực: Thể dục

THANH HÓA NĂM 2019

Trang 2

MỤC LỤC

8 2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh

nghiệm

3

10 3.1 Biện pháp thứ nhất: Tạo ra môi trường, điều kiện động

viên giúp đỡ các em trong học tập:

5

11 3.2 Biện pháp thứ hai: Tạo môi trường giao tiếp bằng tiếng

phổ thông cho học sinh

6

12 3.3 Biện pháp thứ ba:Tổ chức hiệu quả việc đổi mới

phương pháp giảng dạy và tập luyện

6

13 3.4 Biện pháp thứ tư: Tăng cường các hoạt động ứng dụng,

trải nghiệm, sáng tạo

12

14 4.Hiệu quả của sáng kiến 14

18 TÀI LIỆU THAM KHẢO

19 DANH MỤC SKKN ĐƯỢC XẾP GIẢI

I MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Chúng ta biết rằng thể dục có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, bởi vì nó đảm bảo cho con người sự phát triển và hoàn thiện hơn về mặt thể chất, chuẩn

Trang 3

bị cho người học bước vào cuộc sống học tập, lao động và bảo vệ Tổ quốc với hiệu quả cao Thể dục góp phần nâng cao sức khoẻ, phát triển thể lực rèn luyện

cơ thể, hình thành các kĩ năng cần thiết cho đời sống con người Hồ Chí Minh đã dạy : “Con người là vốn quý nhất của xã hội, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ cho con người là nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ hàng đầu của ngành thể dục thể thao” ( trong đó có thể dục )

Dạy thể dục là một hoạt động mang tính chất giáo dục sâu sắc, bởi nó hình thành vốn kĩ năng, kĩ xảo phong phú, rèn luyện các phẩm chất, ý chí, đạo đức, nếp sống lành mạnh, ý thức tổ chức kỉ luật, tính tập thể, bồi dưỡng tư thế đúng, đẹp, óc thẩm mĩ tinh tế, nâng cao sức khoẻ Vì vậy môn thể dục đã được đưa vào chương trình giảng dạy chính thức ở tất cả các trường học, từ mẫu giáo Và

từ nhiều năm nay, để đáp ứng nhu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh ngày càng cao, thuật ngữ “Môn học phụ” “Môn học chính” ở các cấp học đã bị bác

bỏ Riêng cấp tiểu học bắt buộc phải dạy đủ 9 môn Trong đó các môn dạy ít tiết như thể dục, mỹ thuật, hát nhạc không những đã được xem xét bình đẳng như các môn dạy nhiều tiết, mà còn được cắt cử giáo viên chuyên trách, được đào tạo chính quy trực tiếp giảng dạy để đạt chất lượng dạy - học các môn học này ngày càng cao hơn

Trong nhiều năm nay, tôi được phân công công tác tại Trường tiểu học Lương Ngoại trực tiếp dạy môn thể dục từ khối 1đến khối 5 Đây là nhiệm vụ khó khăn đối với bản thân tôi Bởi một lúc tôi phải làm quen và giảng dạy với nhiều lứa tuổi của học sinh tiểu học, nhất là học sinh lớp 1 Các em còn rất bé, các em mới hết tuổi mẫu giáo bước vào lớp 1, nên sợ giao tiếp và tiếp cận còn

sợ sệt Xu hướng đổi mới giáo dục hiện nay đang đặt ra cho giáo viên giáo dục thể chất ở trường tiểu học đòi hỏi phải làm sao để dạy tốt môn Thể dục nói chung và môn Thể dục lớp 1 nói riêng, là nền tảng cho các lớp học trên Điều đó làm biết bao giáo viên dạy Thể dục nhiều năm nay trăn trở nhưng vẫn chưa tìm

ra được biện pháp hữu hiệu

Là giáo viên dạy môn giáo dục thể chất ở trường tiểu học tôi nhận thấy muốn dạy tốt chương trình đổi mới ở bậc Tiểu học nói chung và chương trình Thể dục lớp 1 nói riêng không những người giáo viên phải nắm vững nội dung chương trình mà còn phải năng động, sáng tạo để vận dung linh hoạt những phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh nhằm nâng cao hiệu

quả dạy học Từ những quan điểm trên nên tôi đã chọn đề tài : “ Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn Thể dục cho học sinh lớp 1A trường tiểu học Lương Ngoại”.

2 Mục đích nghiên cứu:

Trang 4

- Giúp học sinh lớp 1A Trường TH Lương Ngoại học tốt môn Thể dục.

- Giúp giáo viên dạy Thể dục có kinh nghiệm khi hướng dẫn học sinh học môn Thể dục

- Giúp bản thân tự học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn

3 Đối tượng nghiên cứu.

Đề tài tập trung nghiên cứu: Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy Thể dục cho học sinh lớp 1A trường tiểu học Lương Ngoại

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau :

- Đọc sách giáo viên, các loại sách tham khảo

- Dự giờ, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp về nội dung chương trình môn Thể dục lớp 1

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập các thông tin, thống kê số liệu

và xử lý số liệu

- Tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học

- Tổ chức và tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của đề tài

II NỘI DUNG

1 Cơ sở lí luận

Như chúng ta đã biết cấu trúc chương trình môn Thể dục cấp Tiểu học được thiết kế theo kiểu đồng tâm vừa kế thừa, nâng cao, vừa bổ sung nội dung mới, gồm có : Đội hình đội ngũ, Bài thể dục phát triển chung, Bài tập rèn luyện

tư thế và kĩ năng vận động cơ bản Trò chơi vận động Từ lớp 4 – 5 có thêm môn

tự chọn

Nội dung chương trình môn Thể dục lớp 1 gồm 4 nội dung :

- Đội hình đội ngũ :

+ Tập hợp hàng dọc

+ Dóng hàng dọc

+ Tư thế đứng nghiêm

+ Tư thế đứng nghỉ

+ Quay phải, quay trái

+ Dàn hàng, dồn hàng

+ Điểm số từ 1 đến hết

+ Đi thường theo nhịp( 1- 4 hàng dọc)

- Thể dục rèn luyện tư thế cơ bản

+ Tư thế đứng cơ bản

Trang 5

+ Đứng đưa tay ra trước

+ Đứng đưa hai tay dang ngang

+ Đứng đưa hai tay lên cao chếch chữ V

+ Đứng đưa hai tay lên cao thẳng hướng

+ Đứng kiễng gót, hai tay chống hông

+ Đứng đưa một chân ra trước, hai tay chống hông

+ Đứng đưa một chân ra sau , hai tay giơ cao thẳng hướng

+ Đứng đưa một chân sang ngang, hai tay chống hông

+ Đứng hai chân rộng bằng vai, hai tay đưa về trước dang ngang, lên cao chếch chữ V

- Bài thể dục phát triển chung

- Trò chơi vận động

Học sinh lớp 1 là lứa tuổi đang có nhiều chuyển biến về tâm sinh lí và tư duy Hành động của các em chuyển dần từ thụ động, đơn giản sang trạng thái tương đối chủ động và linh hoạt hơn Lứa tuổi này bước đầu các em đã có khả năng phân tích tổng hợp đơn giản, biết tự điều chỉnh những hoạt động của bản thân nhưng ở mức độ không cao Học sinh đã có ý thức và khả năng tự quản tương đối tốt, biết phối hợp và giúp đỡ nhau trong học tập và rèn luyện Đây là nền tảng để học sinh học các lớp học trên Vậy việc rèn kỹ năng học Thể dục cho học sinh lớp 1 là rất quan trọng

2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Qua quá trình giảng dạy các khối lớp trong trường, qua tham khảo các tài liệu và trao đổi với một số giáo viên trong trường và trường bạn tôi nhận thấy :

2.1 Về phía giáo viên:

Trong giờ dạy thể dục một số giáo viên còn dạy theo phương pháp truyền thống chỉ chú ý đến phần nội dung, chưa chú ý đến việc sửa sai kĩ thuật cho học sinh Giáo viên chưa phát huy hết vai trò của cán sự lớp Trong quá trình dạy giáo viên sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học còn rất đơn điệu, chưa linh hoạt

2.2 Về phía học sinh:

Qua tìm hiểu thực tế việc học Thể dục của học sinh lớp 1 trường tiểu học Lương Ngoại, các em thường mắc phải một số lỗi sau:

- Về Đội hình đội ngũ:

+ Học sinh chưa nhận biết được vị trí đứng của mình trong hàng và cách xác định được khoảng cách với người đứng trước

+ Chưa biết cách dóng cho thẳng hàng dọc, hàng ngang

+ Xô đẩy nhau khi tập hợp hoặc dàn hàng, dồn hàng

+ Tư thế đứng nghiêm, nghỉ bị khom người

Trang 6

+ Khi quay phải, trái vung tay, mất thăng bằng.

- Về nội dung Thể dục rèn luyện tư thế cơ bản:

+ Tư thế của hai tay khi thực hiện động tác đưa về trước hoặc giang ngang thường không đúng phương hướng, biên độ( tay cao hoặc thấp quá) + Tư thế thân người khi thực hiện các động tác thường không được ngay ngắn hoặc quá gò bó, căng thẳng

+ Khi thực hiện các động tác đứng, đưa một chân ra trước hoặc sang ngang, thường để mất thăng bằng

- Học bài thể dục phát triển chung:

+ Động tác vươn thở : quên không hít thở sâu

+ Động tác tay: hai tay khi đưa dang ngang bị chếch lên hoặc xuống + Động tác chân: khi hạ thấp trọng tâm hay cong lưng

+ Động tác vặn mình: Khi vặn mình bị xoay bàn chân hoặc co gối + Động tác bụng: Khi cúi bị co gối

+ Động tác phối hợp: Không dồn trọng tâm vào chân trước và cong lưng

Trong năm học 2018– 2019, để kiểm nghiệm cách làm của mình, tôi tiến

hành thực nghiệm với lớp 1A và đối chứng kết quả với lớp 1B Ngay từ đầu năm học, tôi đã tiến hành kiểm tra chất lượng của hai lớp như sau:

STT

Lớp Sĩ số

Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành

Qua bài kiểm tra trên tôi thấy chất lượng học tập vẫn còn thấp Đây

không phải là một bộ phận nhỏ Vì vậy với số học sinh này, với người dạy

chúng ta phải tìm ra nguyên nhân để khắc phục, tháo gỡ

2.2.3 Nguyên nhân của thực trạng:

Theo tôi có các nguyên nhân sau:

-Thực tế học sinh lớp 1 trường Tiểu học Lương Ngoại gặp rất nhiều khó khăn trong khi giao tiếp bằng tiếng phổ thông, bởi vì các em đa số là học sinh dân tộc thiểu số, giao tiếp hằng ngày ở gia đình và giờ ra chơi thậm chí ngay cả giờ học ở lớp các em đều nói bằng tiếng dân tộc, rất nhiều em chưa hiểu lời giảng của giáo viên bằng tiếng phổ thông dẫn đến việc tiếp thu bài của học sinh còn hạn chế

Trang 7

- Do sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học chưa phù hợp với đối tượng học sinh

- Giáo viên phụ thuộc vào sách giáo khoa mà chưa linh hoạt trong dạy cho đúng đối tượng học sinh, chưa tìm cách để đưa kiến thức đến mọi đối tượng học sinh một cách nhẹ nhàng, phù hợp

- Đa số các em được sinh ra trong gia đình nông thôn có hoàn cảnh kính

tế khó khăn nên về thể lực và trí tuệ của các em phát triển thấp nên việc tiếp thu bài rất hạn chế

- Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện lời giải thích của giáo viên chưa

rõ ràng, khẩu lệnh hô chưa rứt khoát

- Khi đánh giá kết quả của học sinh giáo viên chỉ nhận xét đúng và sai, học sinh chưa hiểu rõ nguyên nhân chỗ sai của mình để khắc phục

3 Các biện pháp thực hiện:

+ Qua việc điều tra thực trạng và tìm hiểu nguyên nhân như trên, bước vào năm học 2018- 2019, tôi bắt đầu áp dụng một số biện pháp mới bằng các cách làm cụ thể của tôi như sau:

3.1 Biện pháp thứ nhất: Tạo ra môi trường, điều kiện động viên giúp

đỡ các em trong học tập:

- Ngay từ đầu năm học, tôi đã tìm hiểu hoàn cảnh và phân loại đối tượng học sinh theo hoàn cảnh gia đình để giúp đỡ các em Cụ thể:

+ Trong các lớp có 3 em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ( mỗi em trong một tổ) Tôi đã cho các lớp phân công mỗi tổ giúp 1 bạn

+ Phát động phong trào tặng bạn nghèo như: Trong tổ mỗi bạn tặng bạn một đồ dùng học tập: sách, vở, bút, mực, thước kẻ… ( bạn nào có cái gì thì tặng bạn cái đó)

- Để tạo môi trường thuận lợi cho học sinh trong quá trình học tập, tôi đã phối hợp các tổ chức Đội, Hội, trong nhà trường để phát động phong trào “Đôi bạn cùng tiến”

- Ngoài ra tôi thường xuyên quan tâm, chăm lo, mua sách vở hay trang phục thể dục (như giày) cho 3 em học sinh khó khăn, không để các em thiếu bất

kì đồ dùng học tâp nào Ngày tết, tôi lại mua quà tết cho các em

Từ những việc làm thiết thực trên thì 3 em có hoàn cảnh khó khăn đã có một môi trường, một điều kiện học tập tốt, giúp các em tự tin bước tới trường cùng các bạn trong lớp

3.2 Biện pháp thứ hai: Tạo môi trường giao tiếp bằng tiếng phổ thông

cho học sinh

Để khắc phục tình trạng học sinh gặp khó khăn trong giao tiếp bằng tiếng

phổ thông tôi đã tạo môi trường giao tiếp bằng tiếng phổ thông cho các em trong

Trang 8

giờ học, giờ ra chơi, giữa thầy và trò, giữa trò và trò Khi học sinh hỏi giáo viên bằng tiếng dân tộc, giáo viên yêu cầu các em hỏi bằng tiếng phổ thông Nếu học sinh gặp khó khăn khi nói giáo viên có thể nói câu học sinh hỏi bằng tiếng phổ thông cho học sinh nghe và nói lại Ban đầu tuy có khó khăn và chiếm nhiều thời gian nhưng cứ làm như thế các em sẽ quen dần và sẽ sử dụng tiếng phổ thông nhiều hơn Trong trường hợp giáo viên giảng bài có nhiều học sinh không hiểu, giáo viên nói bằng tiếng dân tộc lại cho các em hiểu Tuy nhiên trường hợp này giáo viên hạn chế sử dụng tới mức tối thiểu

3.3 Biện pháp thứ ba:Tổ chức hiệu quả việc đổi mới phương pháp

giảng dạy và tập luyện.

Bước vào đầu năm học, tôi phân loại đối tượng học sinh của lớp xem cụ thể khi học sinh thực hiện thấy các em yếu chỗ nào từ đó nghiên cứu kĩ nội dung bài

và lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học phù hợp vì trong dạy học không có phương pháp dạy học nào là vạn năng mà tùy thuộc vào đối tượng học sinh và nội dung bài học để GV lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp thì mới đạt hiệu quả cao

* Để học sinh dễ nắm bắt động tác, tôi hướng dẫn học sinh như sau:

- Làm quen với khẩu lệnh: Ví dụ : Khi bắt đầu giảng dạy động tác quay phải,

quay trái, tôi cho học sinh làm quen với khẩu lệnh Tôi giới thiệu khẩu lệnh:

“Bên phải – quay”, “Bên trái – quay” và hướng dẫn cho học sinh biết: “Bên phải” hoặc “Bên trái” đó chính là dự lệnh, nhằm báo cho người tập biết hướng thực hiện động tác “Quay” chính là động lệnh, dứt động lệnh người tập mới thực hiện động tác, làm mẫu toàn bộ động tác cho học sinh quan sát

- Để học sinh quan sát động tác kỹ hơn, tôi cho các em xem tranh và giải thích động tác trên tranh

- Tự thực hiện động tác (tự khám phá): Sau khi hướng dẫn xong kỹ thuật động tác, tôi tiến hành cho học sinh tự khám phá động tác để xem khả năng tiếp thu động tác của các em Từ đó tôi đưa ra các phương pháp giảng dạy phù hợp Khi hướng dẫn học sinh tôi dùng lời giải thích rõ ràng, khẩu lệnh hô rứt khoát

Khi đánh giá kết quả học tập của học sinh tôi đánh giá đúng, sai và chỉ rõ cho học sinh thấy được chỗ sai và nguyên nhân dẫn đến sự sai sót đó để học sinh hiểu được và từ đó sẽ thực hiện được tốt hơn Cụ thể:

3.3.1 Đội hình đội ngũ :

Về đội hình đội ngũ : là một nội dung rất quan trọng và thiết thực đối với môn thể dục tiểu học nói chung và lớp 1 nói riêng, nó ứng dụng được rất nhiều vào thực tiễn Nếu không có nội dung này, giáo viên không thể nào tổ chức có hiệu quả một giờ dạy và học Thể dục Vì vậy trong quá trình dạy cho học sinh,

Trang 9

giáo viên kết hợp rèn luyện một số nền nếp kỉ luật, tác phong và tư thế cơ bản đúng cho học sinh

Khi dạy nội dung này, tôi thực hiện theo các bước sau:

- Khi giảng dạy giáo viên cho học sinh làm quen với khẩu lệnh ( bằng cách

hô khẩu lệnh sau đó giải thích và làm mẫu )

- Cho học sinh tập làm quen với tốc độ chậm dưới hình thức bắt chước ( giáo viên hô khẩu lệnh sau đó làm mẫu kết hợp chỉ dẫn bằng lời cho học sinh tập theo

- Giáo viên hô khẩu lệnh và làm mẫu với tốc độ chậm ( không giải thích ) để học sinh tập theo

- Giáo viên hô khẩu lệnh để học sinh tập( không làm mẫu, không giải thích)

- Xen kẽ giữa các lần tập giáo viên nhận xét, sửa chữa động tác sai ( chỉ rõ nguyên nhân )

- Cho một số học sinh thực hiện đúng động tác lên làm mẫu theo khẩu lệnh của giáo viên

- Chia tổ để học sinh tập luyện

- Các tổ trình diễn và báo cáo kết quả tập luyện

- Giáo viên cùng học sinh đánh giá, xếp loại kết quả học tập của từng tổ Yêu cầu học sinh biết cách tập hợp hàng dọc theo tổ của mình ở mức độ tương đối nhanh nhẹn, không chen lấn xô đẩy Biết dóng hàng và điểm số từ 1 đến hết sĩ số của lớp Đây cũng là một hình thức luyện tập đếm số Do đó chưa yêu cầu điểm số nhanh và đúng 100% Riêng cách điểm số 1-2, 1-2 đến hết chỉ học sinh có tính chất làm quen khi phải chơi các trò chơi có liên quan nên giáo viên không nên giành nhiều thời gian cho nội dung này

Ví dụ : Khi dạy nội dung quay phải, quay trái, tôi đã tiến hành như sau:

*Hướng dẫn học sinh xác định hướng quay:

Để học sinh xác định hướng quay một cách dễ dàng, ngay từ tiết học đầu tiên tôi cho các em phân biệt tay phải, tay trái, chân phải, chân trái, lặp đi lặp lại nhiều lần để học sinh nhớ

Tôi cho các em đeo hoa vào tay phải, để phân biệt tay phải, tay trái Hỏi học sinh “Tay phải đâu?” các em giơ tay đeo hoa lên, “Tay trái đâu?” các em giơ tay không đeo hoa lên Giáo viên kết hợp vừa hỏi vừa làm mẫu theo phương pháp soi gương, giơ tay phải, tay trái thực hiện cùng chiều với học sinh để các

em cùng làm Sau một vài lần, khi học sinh đã quen và xác định được tay phải, tay trái, giáo viên chỉ hỏi học sinh và không làm mẫu, để các em tự phân biệt tay phải, tay trái Việc đưa các đạo cụ vào trong giờ học giúp học sinh thích thú và phấn khởi tập luyện hơn, giờ học trở nên sinh động Khi học sinh đã phân biệt được tay phải, tay trái, giáo viên cho học sinh tháo hoa ra và lại hỏi “Tay phải

Trang 10

đâu?”, “Tay trái đâu?” để các em nhớ và phân biệt được tốt hơn Nếu như lúc này vẫn có em giơ sai tay, tôi có thể cho lớp dừng tập và hướng dẫn lại

Để học sinh nhận biết hướng nhanh hơn, tôi nâng dần độ khó, hô với tốc độ nhanh hơn, yêu cầu các em phải phản xạ nhanh Quy định cho các em, khi hô

“Phải” các em giơ tay phải, khi hô “Trái” các em giơ tay trái Giáo viên có thể hỏi: trái, phải, trái hoặc: phải, phải, trái Sau đó tổ chức thi đua giữa các tổ, tổ nào ít bạn giơ sai tay nhất sẽ được tuyên dương, tổ nào nhiều bạn giơ sai tay nhất sẽ phải múa một bài do tổ thắng hát Thông qua biện pháp thi đua, học sinh hào hứng và phân biệt được bên phải, bên trái rất nhanh

Kết hợp việc xác định hướng quay trên sân trường, tôi nhắc học sinh tay cầm bút là tay phải, vì tất cả các em viết bằng tay phải, tay còn lại là tay trái

*Hướng dẫn học sinh xác định góc quay:

Trước khi hô khẩu lệnh, tôi hỏi học sinh “Tay phải (tay trái) đâu?” rồi yêu cầu các em mở cổ tay đó sang ngang, để xác định góc quay Sau đó hạ bàn tay

đó xuống về tư thế đứng nghiêm Tôi hướng dẫn học sinh, khi nghe thấy khẩu lệnh “Bên phải (bên trái) – quay” thì các em quay về hướng tay vừa chỉ

*.Hướng dẫn học sinh thực hiện động tác quay phải, quay trái theo hai cử động.

Giáo viên làm mẫu toàn bộ động tác quay, sau đó hướng dẫn chậm động tác chân Tiếp đó giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện động tác quay phải, quay trái theo hai cử động

– Đối với với động tác quay phải:

+ Cử động 1: Lấy gót chân phải và nửa trước bàn chân trái làm trụ, quay người sang bên phải

+ Cử động 2: Thu chân trái về sát chân phải thành tư thế đứng nghiêm

– Đối với động tác quay trái

+ Cử động 1: Lấy gót chân trái và nửa trước bàn chân phải làm trụ, quay người sang bên trái

+ Cử động 2: Thu chân phải về sát chân trái thành tư thế đứng nghiêm Sau đó tôi cho học sinh tập với 2 cử động này

Lưu ý : Đối với học sinh lớp 1thì chưa yêu cầu về kỹ thuật, mà chỉ nhận biết

đúng hướng và xoay người theo khẩu lệnh

Dạy phối hợp hoàn chỉnh động tác.

Khi các em đã nhận biết đúng hướng và biết xoay người theo hướng khẩu lệnh, tôi cho học sinh tập phối hợp hoàn chỉnh động tác quay trái, quay phải

– Động tác: Từ tư thế đứng nghiêm giáo viên hô khẩu lệnh: “Bên phải (bên trái) – quay” đối với học sinh lớp 1 chỉ yêu cầu quay đúng hướng

Ngày đăng: 16/10/2019, 08:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w