SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THƯỜNG XUÂN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SƯU TẦM VÀ BIÊN SOẠN TÀI LIỆU DẠY HỌC LỊCH SỬ - ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG HUYỆN THƯỜNG XUÂN CHO HỌC S
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THƯỜNG XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SƯU TẦM VÀ BIÊN SOẠN TÀI LIỆU DẠY HỌC LỊCH SỬ - ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG HUYỆN THƯỜNG XUÂN CHO HỌC SINH LỚP 5 TRƯỜNG
TIỂU HỌC THỊ TRẤN THƯỜNG XUÂN
Người thực hiện: Trịnh Ngọc Sơn Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học thị trấn Thường Xuân
SKKN thuộc môn: Lịch sử và Địa lý
Trang 2
2.3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề 3
2.3.2 Hướng dẫn dạy học Lịch sử - Địa lý địa phương 10
1 Mục tiêu dạy học lịch sử - địa lý địa phương 10
2 Nội dung dạy học lịch sử - địa lý địa phương 11
4 Phương pháp dạy học lịch sử -địa lý địa phương 12
5 Tài liệu dạy học cho học sinh và giáo viên 12
Trang 31 Mở đầu
1.1.Lý do chọn đề tài:
Trong giáo dục phổ thông, các môn xã hội nói chung, môn Lịch sử nóiriêng có vai trò quan trọng trong việc khơi nguồn, bồi dưỡng tâm hồn, nhâncách, bản lĩnh và tư duy của con người Bác Hồ kính yêu từng dạy “Dân ta phảibiết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” Do vậy, dạy lịch sử khôngchỉ giúp học sinh nắm được lịch sử hình thành của một quốc gia, dân tộc mà cònhình thành ở các em lòng tự hào để từ đó các em thêm yêu quê hương, đất nướcmình hơn
Đối với bậc Tiểu học môn lịch sử chưa phải là môn học riêng như các cấphọc khác mà nó chỉ là một phần của môn Lịch sử và Địa lý lớp 4 – 5 vì vậy dunglượng, thời lượng dạy học chỉ có 1 tiết/tuần, mục tiêu chỉ nhằm giới thiệu cácgiai đoạn, các sự kiện lịch sử cho học sinh nắm bắt sơ bộ để học lên ở các bậchọc sau này
“Có thể nói, lịch sử dân tộc hay lịch sử địa phương đều là dựng lại quákhứ về lòng yêu nước, về truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc ta trongdựng nước và giữ nước, ghi lại những nét văn hóa truyền thống, tinh thần nhânđạo sâu sắc của dân tộc Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển Bởiqua mỗi bài học, mỗi sự kiện lịch sử, học sinh sẽ có thêm niềm tin vững chắcvào lý tưởng cách mạng Từ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc trongquá trình dựng nước và giữ nước, các em sẽ tự hào và ý thức hơn về tình yêuquê hương, đất nước Qua đó, các em ra sức học tập, rèn luyện để trở thànhnhững con người có ích góp phần xây dựng quê hương, đất nước.”[3]
“Địa phương có một vị trí rất quan trọng trong cuộc sống của mỗi conngười chúng ta Đó là làng xã, thôn xóm, khu phố … những giá trị văn hóa vàphong tục tập quán của quê hương gắn liền với mỗi một con người chúng ta.Đây là nơi các em được sinh ra và lớn lên vì thế các phong tục tập quán đã hằnsâu trong các em từ đó đã tạo nên nét khác biệt của con người ở mỗi vùng đấtkhác nhau.”[3]
“Đặc biệt viêc cung cấp và giới thiệu cho các em về nguồn gốc hình thànhnên vùng đất mà các em đang sinh sống sẽ có tác động to lớn và mạnh mẽ đếntâm lý, tình cảm của các em Vì vậy việc dạy học lịch sử - địa lý địa phươngtrong trường tiểu học là một phương thức dạy học gắn với đời sống xã hội, giúpcho học sinh nắm chắc về địa phương và vận dụng được vào thực tế cuộc sốngđồng thời rèn luyện cho học sinh những kĩ năng cơ bản, tạo hứng thú nghiêncứu, tìm hiểu những vấn đề của lịch sử quê hương, có ý thức bảo vệ tôn tạo các
di tích lịch sử cũng như các giá trị văn hóa của quê hương đất nước.”[3]
Trong những năm học gần đây, thực hiện chủ trương của Bộ GD&ĐT đưachương trình giảng dạy lịch sử địa phương vào các nhà trường, Sở GD&ĐTThanh Hóa đã biên soạn cuốn tài liệu dạy học lịch sử địa lý địa phương cho họcsinh lớp 5 từ năm 2013-2014 Tài liệu đã giúp cho học sinh nắm bắt được cácyếu tố địa lý, lịch sử, văn hóa … của tỉnh Thanh Hóa nói chung từ đó giúp các
em học sinh tiểu học hiểu sâu hơn về quê hương mình Trên thực tế làm công tácquản lý nhà trường, qua tìm hiểu tôi nhận thấy sau khi học các tiết học bằng bộ
Trang 4tài liệu do Sở GD&ĐT biên soạn học sinh nắm chắc về các danh lam, thắngcảnh, di tích lịch sử văn hóa, vị trí địa lý của tỉnh Thanh Hóa Nhưng khi hỏi vềhuyện Thường Xuân, về nơi các em sinh ra và đang sống các em không biết vàchỉ trả lời chung chung, chưa biết được về lịch sử, vị trí, sự hình thành của quêhương mình Chính vì lý do đó tôi rất trăn trở và suy nghĩ: làm sao để cho họcsinh Thị trấn hiểu và biết được lịch sử hình thành nên vùng đất mình đang ở, cácđịa phương trong huyện, những di tích lịch sử văn hóa, các danh nhân của huyệnnhà …Với những trăn trở đó tôi mạnh dạn nghiên cứu, tìm hiểu và thực hiện đềtài “Sưu tầm tư liệu và biên soạn tài liệu giảng dạy Lịch sử, Địa lý địa
phương huyện Thường Xuân cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Thị trấn Thường Xuân” nhằm bổ sung thêm kiến thức cho học sinh Trường Tiểu học
Thị trấn Thường Xuân bên cạnh bộ tài liệu đã có do Sở GD&ĐT biên soạn
1.2.Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu thực trạng dạy học lịch sử địa phương tại nhà trường, trên cơ sở
đó đề xuất nội dung dạy dọc lịch sử địa phương cho học sinh tiểu học ở TrườngTiểu học Thị trấn, đồng thời đưa ra một số biện pháp dạy học lịch sử, địa lý địaphương cho học sinh tiểu học ở Trường Tiểu học Thị trấn Thường Xuân nóiriêng và trên địa bàn huyện nói chung
1.3.Đối tượng nghiên cứu:
Lịch sử hình thành và phát triển, vị trí của huyện Thường Xuân và Thịtrấn Thường Xuân (những nét khái quát)
Sưu tầm tài liệu và biên soạn lại thành một chỉnh thể thống nhất để dạyhọc cho học sinh khối lớp 5 Trường Tiểu học Thị trấn Thường Xuân
1.4.Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết
Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin
Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
2 Nội dung của Sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.Cơ sở lý luận của Sáng kiến kinh nghiệm:
Chương trình môn Lịch sử - Địa lí bao gồm 2 phần là lịch sử và địa lí.Cấu trúc như vậy nhằm làm rõ đặc trưng của lịch sử và địa lí Khi tiến hành bàihọc của chương trình này giáo viên cần tăng cường kết hợp nội dung gần nhaucủa hai phần có thể bằng nhiều cách
Bên cạnh những sự vật, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu phán ánhnhững thành tựu của dân tộc trong quá trình giữ nước chương trình còn tăngcường những nội dung về lịch sử kinh tế, lịch sử văn hóa Chương trình địa lítập trung hơn vào việc tìm hiểu về đất nước qua việc tăng cường thời lượng chophần địa lí Việt Nam, còn phần địa lí các châu lục và châu đại dương trongchương trình chỉ lựa chọn những nội dung tiêu biểu qua từng châu lục và đạidương
Trong chương trình Lịch sử - Địa lý lớp 5 có 2 tiết dạy dành cho địaphương ( bài 29) gồm: tiết 31 và 32 Nội dung do các trường tự chọn, nhưng chủyếu là giới thiệu về truyền thống tốt đẹp, các sự kiện lớn, các di tích lịch sử vănhóa, các sự kiện nhân vật lịch sử tiêu biểu của địa phương Dạy và học lịch sử
Trang 5địa phương về những làng, xã, thôn, bản, phố phường cụ thể, sẽ có tác dụng làmcho thầy trò có nhận thức cụ thể, sinh động về truyền thống yêu nước, đấu tranhbất khuất, lao động cần cù, sáng tạo, đoàn kết, vượt khó khăn trong lịch sử xâydựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta Dạy và học lịch sử, địa lý địa phươngcần có hình ảnh, tư liệu minh họa thực tế giúp học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, hiệuquả hơn
2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng đề tài:
Tôi nhận thấy đa số các giáo viên đều hiểu trách nhiệm và nghiên cứu, tổchức cho học sinh sưu tầm tài liệu hiện vật Nhằm góp phần xây dựng lịch sử địaphương Đồng thời thường xuyên sử dụng tài liệu lịch sử, địa lý địa phươngtrong dạy học các bài học lịch sử dân tộc
Tuy nhiên vấn đề dạy học lịch sử địa phương chưa được thực hiện đồng
bộ Tùy theo sự phân công kế hoạch của nhà trường mà kết quả dạy học lịch sửđịa phương của mỗi trường đều không giống nhau Có những trường thực hiệntốt công tác lịch sử địa phương nhưng cũng có những trường chưa coi trọng vấn
đề này Vì vậy giáo viên gặp nhiều khó khăn trong giảng dạy Có những trườngkhông tiến hành bài giảng lịch sử địa phương Vì vậy, nhiều học sinh khi đượchỏi thì các em đều trả lời không biết, chưa hề được học tiết lịch sử địa phương
Sự quan tâm của các nhà trường chưa cao nên giáo viên không mấy hứngthú trong việc giảng dạy lịch sử địa phương Vì vậy, số giáo viên chưa từng dạytiết lịch sử địa phương nào còn nhiều Có trường giáo viên cho học sinh nghỉ tiếtlịch sử địa phương hoặc sử dụng giờ học này đề học những môn khác như toán,tiếng Việt …
Giáo viên chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc và toàn diện ý nghĩa, tác dụngcủa việc dạy học lịch sử địa phương trong việc bồi dưỡng – giáo dục tư tưởng,tình cảm cho học sinh Việc chỉ đạo đặc biệt là cung cấp tài liệu có những hạnchế, nên chưa phát huy đầy đủ những kiến thức đã học và năng lực bản thântrong công tác sưu tầm, nghiên cứu tài liệu lịch sử địa phương đề sử dụng trongdạy học Ngoài hai nguyên nhân trên, những khó khăn trong đời sống của giáoviên, do ảnh hưởng, tác động của nền kinh tế - xã hội của đất nước, sự thiếu thốn
về cơ sở vật chất, kinh phí của nhà trường cũng đã ảnh hưởng tới việc thực hiệnchương trình lịch sử địa phương đã quy định
Ngoài ra, theo phân phối chương trình thì tiết dạy lịch sử địa phương nhưvậy là ít Chúng ta biết rằng muốn cho học sinh hiểu rõ lịch sử địa phương thìtăng thêm tiết lịch sử địa phương Có như vậy giáo vên mới có đủ thời gian giúpcác em hiểu lịch sử địa phương mình sâu sắc
Thực tế cho thấy, sự hiểu biết của học sinh về lịch sử địa phương nóichung còn thấp, nhiều em khi được hỏi thì trả lời không biết lịch sử, vị trí củađịa phương mình, hoặc còn hiểu sai và lơ mơ về vấn đề lịch sử địa phương Vìvậy, tất cả các em đều mong muốn các thầy cô nên dạy tiết lịch sử - địa lý địaphương với hình thức nội khóa và ngoại khóa nhằm giúp các em hiểu rõ về lịch
sử của địa phương mình Điều đó đã chứng tỏ rằng, học sinh rất ham hiểu biết
về lịch sử quê hương
Trang 62.3.Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Tìm hiểu, sưu tầm các tài liệu lịch sử liên quan đến vùng đất ThườngXuân và Thị trấn Thường Xuân
Biên soạn thành tài liệu học tập trên cơ sở thời lượng tối thiểu của 1 tiếthọc ở tiểu học
Nội dung lịch sử, Địa lý địa phương cần dạy cho học sinh lớp 5 TrườngTiểu học Thị trấn Thường Xuân
2.3.1 Sưu tầm tài liệu.
A Sơ lược lịch sử huyện Thường Xuân.
1) Vị trí địa lý:
Thường Xuân là huyện miền núi, nằm ở phía Tây của tỉnh Thanh Hóa.Cách Thành phố Thanh Hóa khoảng 60 km theo Quốc lộ 47 Huyện nằm ở vị trítrí 190 đến 200 vĩ độ Bắc, 1040 đến 1050 kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện LangChánh, Ngọc Lặc Phía Tây giáp huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An và huyện Sầm
Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào (có 17 km đường biên giới Quốc gia).Phía Đông giáp huyện Thọ Xuân, Triệu Sơn Phía Nam giáp huyện Như Xuân
và Như Thanh Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 111.380,8 ha
Địa hình của huyện thấp dần từ Tây Bắc và Tây xuống khu vực phíaĐông và Nam Có nhiều dãy núi như Chòm Vịn xã Bát Mọt cao 1.442m so vớimặt nước biển Địa hình bị chia cắt bởi các sông: Sông Khao, sông Chu, sôngĐặt, sông Đằn Có thể chia địa hình làm 3 vùng như sau:
+ Vùng cao gồm 4 xã: Bát Mọt, Yên Nhân, Xuân Chinh, Xuân Lẹ, có độcao trung bình từ 500-700m
+ Vùng giữa gồm 9 xã: Lương Sơn, Tân Thành, Xuân Thắng, Xuân Lộc,Vạn Xuân, Luận Khê, Xuân Cẩm, Luận Thành, Xuân Cao, có độ cao trung bình
từ 150-200m
+ Vùng thấp gồm 3 xã và 1 thị trấn: Ngọc Phụng, Thọ Thanh, XuânDương và Thị trấn Thường Xuân, có độ cao trung bình từ 50-150m.[1]
2) Quá trình hình thành.
Lịch sử vùng đất, con người Thường Xuân gắn liền với tiến trình vàtruyền thống lịch sử của tỉnh Thanh Hóa, của dân tộc Việt Nam Thường Xuân
là một vùng đất cổ, đã qua quá trình hình thành và phát triển hàng ngàn năm lịch
sử với các thời kì như sau:
Thời thuộc Hán là vùng đất huyện Vô Biên, một phần ít thuộc huyện CưPhong của quận Cửu Chân, một quận lớn thời kỳ đó Thời Tam Quốc đến nhàTuỳ thuộc huyện Di Phong Thời Đường thuộc đất của huyện Trường Lâm ThờiĐinh, Lê, Lý vẫn giữ như thời Đường Thời Trần, Hồ và thời thuộc Minh gồm 2phần thuộc các huyện:
- Phần lớn thuộc huyện Nga Lạc (châu Thanh Hoá)
- Một phần ít thuộc huyện Nông Cống (châu Cửu Chân)
Thời Lê vẫn thuộc đất của huyện Nga Lạc và huyện Nông Cống Thời nhàNguyễn và Minh Mệnh thứ 16 (1835) nhập huyện Thọ Xuân cũ (gồm 2 tổngMậu Lộc và Quân Nhân) vốn là đất của huyện Thường Xuân lệ vào châu Lang
Trang 7Chánh Huyện Thọ Xuân cũ (miền núi) mất tên (huyện Thọ Xuân cũ không phải
là huyện Thọ Xuân bây giờ, lúc đó gọi là huyện Lôi Dương)
Năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), châu Thường Xuân (còn gọi là ChâuThường) ra đời Năm Tự Đức thứ 3 (1850, Thường Xuân lúc này gồm 23 xã,chia làm 4 tổng:
- Tổng Nhân Sơn gồm 4 xã: Bát Mọt, Yên Nhân, Sơn Cao (sau đổi làXuân Khao), Nhân Trầm (gồm nữa xã Xuân Mỹ và nữa xã Xuân Khao) nằm ởphía Tây của huyện
- Tổng Trịnh Vạn có 4 xã: Trịnh Vạn (nay là Vạn Xuân), Lệ Khê (nay làXuân Chinh và Xuân Lẹ), Mậu Lộc, Thắng Lộc (gồm xã Xuân Lộc, Thắng Lộc)
- Tổng Luận Khê có 7 xã: Chu Hoành, Kỳ Pha, Trung Lập (nay là xã TânThành), Ngọc Trà, Yên Mỹ, Khê Hạ, La Lũ (nay là xã Luận Khê)
- Tổng Quân Nhân gồm 4 xã: Ban Vân, Quân Nhân, Ban Công, Lâm Lư(4 xã này đã cắt về huyện Như Xuân năm 1949)
Đến thời Đồng Khánh (1886 - 1888), châu Thường Xuân có một vài thayđổi nhỏ: Cả châu Thường Xuân có 4 tổng 26 xã:
- Tổng Quân Nhân gồm 7 xã: Quân Nhân, Hương Cà, Bàn Cống, PhongHuân, Lâm Lư, Tri Giới và Ban Văn
3) Khái quát về các xã, thị trấn trong huyện.
Hiện nay, Thường Xuân có 16 xã, 1 thị trấn (gồm 143 thôn) cụ thể nhưsau:
1 Thị trấn Thường Xuân (có tên từ năm 1988), gồm các thôn cũ là: Ngọc
Lâm, Đồng Tâm, Đồng Lực, Quyết Thắng, Tân Long; nay lần lượt gọi là cácKhu phố 1, Khu phố 2, Khu phố 3, Khu phố 4, Khu phố 5
2 Xã Bát Mọt (còn gọi là Bắt Mọt hay Bất Một, có tên từ thời Lê), gồmcác tên hành chính (trước đây là bản): Hón, Ruộng, Khẹo, Chiềng, Cạn (Mót),Phống, Dưn, Đục, Vịn
3 Xã Luận Thành (được thành lập năm 1983), gồm các thôn (xưa là làng,
bản): Xuân Minh, Liên Thành và Thống Nhất (xưa là Khê Hạ), Tiến Hưng vàTiến Hưng 2 (xưa là bản Chượng), Sơn Cao (bản Poọng), Cao Tiến (bảnKhoán), Thành Thắng (bản Than)
4 Xã Luận Khê (tên gọi có từ thời Nguyễn), gồm các thôn (xưa là làng,
bản): Hún (bản Hôn), Tràng Cát, Buồng, Chiềng, Mơ, Yên Mỹ (bản Mọt), An
Trang 8Nhân (gộp 2 bản An và Nhân), Thắm, Ngọc Trà (bản Muồng), Kha (bản Cả),Sông Đằn và Cửa Dụ (mới lập).
5 Xã Lương Sơn (tên gọi có sau năm 1945), xưa gồm 17 bản làng, nay
sát nhập thành các thôn hành chính là: Ngọc Thượng, Minh Quang, TrungThành, Lương Thiện, Lương Thịnh, Ngọc Sơn
6 Xã Ngọc Phụng (tên gọi có sau năm 1945), gồm các thôn (xưa là các
làng): Quyết Thắng, và Xuân Thành (làng Mé), Hưng Long (làng Ván), XuânLiên (làng Tôm), Xuân Lập, Xuân Thắng, Hoà Lâm, Phú Vinh
7 Xã Tân Thành (tên gọi có từ sau năm 1945), gồm các thôn (trước là
bản): Thành Nàng (bản Nàng), Thành Lai (bản Lai), Thành Lãm (bản Lãm),Thành Lập (bản Lập), Thành Giỏ (bản Giỏ), Thành Hạ (bản Hạ), Thành Đon(bản Đon), Thành Lấm (bản Lấm), Thành Lợi (làng mới lập sau năm 1960, đồngbào huyện Thiệu Hoá lên định cư)
8 Xã Thọ Thanh (có tên từ sau năm 1945), gồm các thôn (trước là làng):
Thanh Trung, Thanh Trung 2, Thanh Trung 3 (gồm làng Vực và làng Hạ cũ),Đông Xuân (làng Đông), Hồng Kỳ (làng Hồ), Thanh Cao (làng Đìn), ThanhLong (xưa là làng chài), Thanh Xuân và Thanh Sơn (tách từ Thanh Trung cũ)
9 Xã Vạn Xuân (thành lập năm 1963): gồm các thôn (xưa là bản): Công
Thương (bản Tột), Bù Đồn, Lùm Nưa (gộp 2 bản Lùm và bản Nưa), Cang Khèn(gộp 2 bản Cỏ Pạo và bản Cảng), Ná Mén, Ná Cộng, Nhồng, Hanh Cáu (gộp 2bản Hang va bản Cáu), Khằm, Quạn và thôn Thác Làng (mới lập)
10 Xã Xuân Cao (tên gọi có từ sau năm 1945), trước Cách mạng tháng
Tám 1945 có các làng: Thé, Lù, Kha, Rạch; Nay gồm các thôn hành chính:Xuân Minh 1, và Xuân Minh 2, Xuân Thắng 1 và Xuân Thắng 2, Trung Thành,Nam Cao, Trung Tiến, Thành Công, Quyết Tiến
11 Xã Xuân Cẩm (tên gọi có từ sau năm 1945), gồm các thôn (xưa là
bản): Thanh Xuân (bản Mạ), Tiến Sơn 1 và Tiến Sơn 2 (bản Đòn), Trung Chính(bản Gắm), Xuân Quang (bản Quan), Xuân Minh (bản Láu)
12 Xã Xuân Chinh (thành lập năm 1963), gồm các thôn (xưa là bản): Cụt
Ạc (gộp 2 bản Cụt và bản Ạc), Tú Tạo, Chinh, Thông, Hành, Xeo, Giang
13 Xã Xuân Dương (tên gọi có sau năm 1945), gồm các thôn (xưa là
bản): Thống Nhất 1, Thống Nhất 2, Thống Nhất 3 (làng Hún), Xuân Thịnh (làngThịnh), Vụ Bản (làng Vò), Tân Lập (làng Suội), Tiến Long
14 Xã Xuân Lẹ (thành lập năm 1963), gồm các thôn (xưa là bản): Liên
Sơn (gộp 2 bản Bèn và Tùm Cũ), Đuông Bai (gộp 2 bản Đuông và bản Bai),Xuân Sơn (gộp 2 bản Cả và bản Soi), Xuân Ngù (bản Ngù), bản Tạn, BọngNàng (gộp 2 bản Bọng và bản Nàng), Lẹ Tà (gộp 2 bản Lẹ và bản Ná Tà), CọcChẽ (hay Cộc Chẽ, gộp 2 bản Cọc và bản Chẽ), Dài
15 Xã Xuân Lộc (thành lập năm 1983), gồm các thôn (xưa là bản):
Chiềng, Cộc, Vành, Quẻ, Pà-Cầu
16 Xã Xuân Thắng (thành lập năm 1983), gồm các thôn (xưa là bản):
Xương, Tú, Xem, Đót, Tân Thắng, Dín, Én, Tân Thọ
17 Xã Yên Nhân (tên gọi có từ thời Nguyễn), gồm 6 thôn (xưa là bản):
Khoong, Mỵ, Chiềng, Na Nghịu, Lửa, Mỏ [1]
Trang 94) Dân cư và các dân tộc huyện Thường Xuân.
Huyện Thường Xuân là mái nhà chung của các dân tộc anh em Thái,Mường, Kinh Theo số liệu điều tra hiện nay, dân tộc Thái có 45.523 nhân khẩu,chiếm 53% dân số Dân tộc Kinh có 37.192 nhân khẩu, chiếm 43,3% dân số.Dân tộc Mường có 3.178 nhân khẩu, chiếm 3,7% dân số Từ xa xưa, nhân dâncác dân tộc huyện Thường Xuân có truyền thống đoàn kết, chung lưng đấu cậtkhắc phục thiên tai, chống chọi thú dữ, xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước,sáng tạo những giá trị văn hóa cao đẹp [1]
5) Điều kiện tự nhiên.
Huyện Thường Xuân vừa có khí hậu vùng trung du, vừa có khí hậu vùngnúi cao Gió Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, gió mùa ĐôngNam thổi từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm, đây là 2 hướng gió thịnh hành.Ngoài ra, vào mùa hè thỉnh thoảng còn có gió Tây Nam (gió Lào) khô nóng Dođịa hình cao, có hướng gió thịnh hành trên, nên khí hậu Thường Xuân mát mẻ,mưa nhiều (mát lạnh và mưa lớn nhất tỉnh) Nhiệt độ trung bình trong năm 22 -
250C, thấp nhất có thể xuống đến 00C - 30C (ở vùng Bát Mọt), cao nhất 400C
-420C Lượng mưa trung bình năm 2.200mm, có nơi như vùng Bù Rinh đạt2.500mm Độ ẩm không khí trung bình năm 86%, độ ẩm thấp nhất thường từtháng 12 đến tháng 01 năm sau (khô hanh) và tháng 5 - 9 (có gió Lào) Tổnglượng nước bốc hơi 778mm/năm, bốc hơi thấp nhất vào tháng 12 đến tháng 3năm sau (600mm), bốc hơi nhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 8 (900mm) Nhìnchung, thời tiết, khí hậu Thường Xuân tương đối thuận lợi cho đời sống và sảnxuất, đôi khi xảy ra giông bão, mưa đá, lũ quét, lũ ống [1]
6) Sông ngòi và hệ thống đường giao thông.
Thường Xuân là khu vực mưa nhiều nên có hệ thống sông suối dàyđặc Tổng chiều dài của hệ thống sông suối khoảng 1.000km, diện tích lưuvực 100km2, tổng lượng dòng chảy 1.276.448 x 106 m3 Sông Chu (nặmSắm) là con sông lớn nhất huyện, bắt nguồn từ Lào, qua đất Nghệ An, vàoThường Xuân được tiếp thêm nguồn nước từ các sông nhánh: sông Khao(Cao), sông Đặt, sông Đằn (Chàng), sông Âm chảy về phía hạ lưu SôngChu và các chi lưu của nó trên đất Thường Xuân do phải luồn lách, cắt quanhiều khối núi, vượt qua nhiều thác ghềnh để về xuôi nên tiềm năng thủyđiện lớn, có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng các nhà máy thủy điệnlớn nhỏ Cũng chính vì thế, đầu thế kỷ XX người Pháp đã cho xây dựng đậpBái Thượng trên đoạn sông Chu đổ nước xuống đồng bằng (thác Vân Sam)đưa nước vào nông giang tưới tiêu cho một dải ruộng đồng rộng lớn tỉnhThanh Gần đây, công trình hồ Cửa Đặt được Chính phủ đầu tư xây dựng đểđiều tiết nguồn nước cung cấp cho sản xuất, sinh hoạt và kết hợp với phátđiện lên lưới điện Quốc gia
Hệ thống đường giao thông liên tục được củng cố, mở rộng Hiện nay17/17 xã, thị trấn đều có đường ô tô, các tuyến đường trục chính của huyện,
xã được rải nhựa; đường giao thông nông thôn, nội thị từng bước được nhựahóa, bê tông hóa giúp cho nhân dân đi lại, giao lưu thuận tiện Đặc biệt,nhiều tuyến đường giao thông chiến lược được các cấp quan tâm, đầu tư nâng
Trang 10cấp Đường tỉnh lộ 507 nối với đường Quốc lộ Hồ Chí Minh, Quốc lộ 47,đường vành đai biên giới Việt - Lào… đặt huyện Thường Xuân vào vị trí giaolưu dễ dàng với các huyện, thị bạn trong tỉnh, đặc biệt là khu đô thị trẻ NgọcLặc, khu kinh tế động lực Lam Sơn - Thọ Xuân, Nghi Sơn - Tĩnh Gia; giaolưu với cả nước và quốc tế [1]
7) Văn hóa và danh lam thắng cảnh.
Do có nhiều dân tộc cùng chung sống nên văn hóa Thường Xuân là vănhóa giao thoa giữa văn hóa của 3 dân tộc Thái, Mường, Kinh
Dân tộc Thái có một kho tàng văn học, nghệ thuật mang tính đặc thù.Khặp (hát) Thái là những bài thơ, văn vần tự sáng tác để hát, ngâm vịnh có đệmđàn và múa là nghệ thuật độc đáo Khặp Thái có nhiều loại như khặp một, khặp
mo phục vụ nghi lễ; khặp giao duyên (báo sao) để nam nữ tâm tư tình cảm; khặplóng Săm, lóng kéng Hum, kéng Mạ là những làn điệu hát xuôi bè trên dòngsông Chu Múa Thái gọi là xòe, điệu xòe phổ biến nhất là nhảy sạp được đệmthêm tiếng khua luống, trống chiêng
Dân tộc Mường có đời sống tinh thần khá phong phú, đó là kho tàngtruyện kể, cổ tích, ca dao, tục ngữ kể về nguồn gốc dân tộc, ca ngợi tinh thầnđấu tranh chống thiên tai, đặc biệt là sử thi "Đẻ đất đẻ nước" lưu truyền từ đờinày sang đời khác nhắc nhở con cháu ghi nhớ cội nguồn Những bài hát dân canhư hát bọ mệnh, hát dặm, hát đúm, hát đối đáp, hát giao duyên; Người Mường
có phong tục thờ cúng tổ tiên, thành hoàng, tổ chức lễ thượng điền, hạ điền, tổchức ăn tết Nguyên tiêu; có lễ hội xéc bùa với dàn cồng chiêng do các cô gáiMường biểu diễn, lễ tục Pôồn Pôồng hát múa quanh cây hoa ước mong cuộcsống yên lành với tiếng trống chiêng, tiếng sáo ôi
Dân tộc Kinh ở Thường Xuân sinh sống chủ yếu bằng nghề cấy lúanước, trồng trọt, chăn nuôi, đánh cá Làng của người Kinh ở các xã XuânDương, Thọ Thanh mang đặc điểm làng nông thôn xứ Thanh và Bắc Bộ: cócây đa, bến nước, sân đình; tất cả mọi sinh hoạt, hoạt động đều diễn ra tronglàng Tất cả các làng cổ ở xã Thọ Thanh, Xuân Dương đều có đình, đền,miếu; những ngày hội làng có ca công, múa hát (hát chèo, tuồng, hát giaoduyên), tổ chức nhiều trò chơi vui vẻ Một số làng còn gìn giữ được nhữngphong tục đẹp, độc đáo như làng Hún (Xuân Dương) có lệ tục mừng vía choông bà, cha mẹ (cả khi đã chết) vào ngày cuối năm Thổ âm của làng Húncũng là hiện tượng hết sức độc đáo trong ngôn ngữ xứ Thanh
Cũng do địa hình rộng và điều kiện tự nhiên được thiên nhiên ban chonên huyện Thường Xuân có rất nhiều di tích và danh lam thắng cảnh gắn liềnvới cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và truyền thống dựng nước và giữ nước của cácdân tộc huyện Thường Xuân như di tích Hội thề Lũng Nhai ở xã Ngọc Phụng,đền thờ sĩ phu yêu nước Cầm Bá Thước, đền thờ Bà Chúa Thượng ngàn ở xãXuân Cẩm và Xuân Mỹ nay thuộc xã Vạn Xuân Thác Trai gái ở xã Xuân Lẹ,thác Thiên Thủy ở xã Vạn Xuân đắc biệt là khu du lịch sinh thái bảo tồnthiên nhiên Xuân Liên cùng hồ Cửa Đặt đã tạo nên một chuỗi danh lam thắngcảnh góp phần đưa Thường Xuân trở thành một điểm du lịch trên bản đồ dulịch của tỉnh Thanh Hóa.[1]
Trang 118) Truyền thống đấu tranh cách mạng.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, mảnh đất Thường Xuâncòn ghi lại dấu tích, dấu ấn văn hóa các cuộc khởi nghĩa gắn với con người,vùng đất Thường Xuân Thế kỷ XV, Lê Lai, Lê Lợi đã tìm thấy ở Thường Xuântiến có thế công, thoái có thế thủ và lòng nhân ái thương người vì nghĩa mà tụhọp hào kiệt bốn phương rèn binh, luyện tướng và tổ chức hội thề Lũng Nhai.Giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta, vua quan nhà Nguyễn nhanhchóng đầu hàng dâng nước cho giặc Nhưng ở Thường Xuân, đồng bào các dântộc đoàn kết chiến đấu dưới ngọn cờ chống Pháp của nhà ái quốc Cầm BáThước
Căn cứ Trịnh Vạn (thuộc thôn Bù Đồn, xã Vạn Xuân) đã cùng với di tích
và chiến tích lịch sử phong trào Cần Vương trên đất Thanh Hóa như Hùng Lĩnh,
Ba Đình đi vào lịch sử dân tộc
Trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, huyện Thường Xuân đãđóng góp sức người và của cải vật chất cho kháng chiến, những người con ưu túcủa Thường Xuân đã tham gia chiến đấu trên các mặt trận, có nhiều người đãngã xuống hi sinh xương máu để bảo vệ Tổ Quốc đã trở thanh những anh hùngliệt sĩ
Trong hai cuộc kháng chiến huyện có 3 xã và 5 người con ưu tú đượcphong tặng danh hiệu anh hùng đó là xã Xuân Dương, xã Thọ Thanh và xã TânThành Trong kháng chiến chống Pháp có anh hùng Lò Văn Bường ở xã Xuân
Lẹ, trong kháng chiến chống Mỹ có anh hùng Lê Thị Cửu ở xã Xuân Dương,anh hùng Hà Văn Thanh ở xã Lương Sơn, anh hùng Cầm Bá Trùng ở xã LuậnKhê, trong chiến tranh bảo vệ Biên giới có anh hùng liệt sĩ Ngô Khắc Quyền ở
xã Thọ Thanh và 14 bà mẹ liệt sỹ được nhà nước phong tặng danh hiệu Mẹ ViệtNam anh hùng [1]
B Vài nét về Thị trấn Thường Xuân.
2 Vị trí địa lý:
Thị trấn Thường Xuân nằm ở phía Đông của huyện Thường Xuân PhíaBắc giáp xã Ngọc Phụng, phía Đông giáp xã Xuân Dương, phía Nam giáp xãThọ Thanh, phía Tây giáp xã Xuân Cẩm Quốc lộ 47 chạy xuyên suốt hết chiềudài của Thị trấn về phía tây bắc nên tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân làm ăn,buôn bán.[2]
3 Điều kiện tự nhiên:
Diện tích 2,73 km2 địa hình đồi núi thấp dần từ tây sang đông, điểm caonhất của Thị trấn là đồi Chẹ nơi đặt trạm cung cấp nước sạch, điểm thấp nhất làkhu vụng Vạo thuộc Khu phố 1 Khí hâu thị trấn thuộc kiểu khí hậu trung du